CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Lý thuyết về giao tiếp 1. Khái niệm về giao tiếp Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa những con người nhất định trong xã hội có mục đích và mang tính hệ thống chuẩn mực về hành vi, ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, vốn sống…tạo nên những ảnh hưởng, tác động qua lại để con người đánh giá, điều chỉnh và phối hợp với nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt (2003), giao tiếp là hoạt động trao đổi, tiếp xúc với nhau [22; tr.393] là một hoạt động thông tin về bản chất, là một hoạt động thông tin ngữ nghĩa.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao. Giao tiếp ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật. Hoạt động giao tiếp nào cũng không thể thiếu các yếu tố cơ bản để đảm bảo việc truyền tin đạt hiệu quả cao nhất.
Con người có thể giao tiếp bằng nhiều phương tiện như: ánh mắt, tiếng còi, cờ hiệu. giao tiếp bằng phương tiện như vậy thường rất hạn chế về nội dung. Thông thường hơn cả là giao tiếp bằng ngôn ngữ. Khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau một điều gì đó, như nỗi buồn vui, ý muốn, hành động, hay nhận xét đánh giá về sự vật xung quanh.
thì giữa họ phải có sự trao đổi lượng thông tin nhất định cho nhau. Như vậy, giữa họ đã diễn ra một hoạt động giao tiếp. Quá trình giao tiếp và các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp 1. Quá trình giao tiếp Giao tiếp là quá trình tiếp xúc có mục đích.
Hoạt động giao tiếp nào cũng không thể thiếu các yếu tố cơ bản để đảm bảo việc truyền tin đạt hiệu quả cao nhất. Người giao tiếp phải nỗ lực để cuộc giao tiếp đạt kết quả nên cần hiểu mình e 10 tiếp xúc với ai, nói gì, nói như thế nào… để đôi bên hiểu rõ thông tin cần thiết. Quá trình giao tiếp (QTGT) bao gồm một chuỗi các sự kiện phải diễn ra giữa người gửi và người nhận để truyền thông điệp. Hoàn cảnh giao tiếp Nội dung giao tiếp Người phát tin Người nhận tin Phương tiện giao tiếp Đích giao tiếp Sơ đồ 1.
Sơ đồ quá trình giao tiếp QTGT gồm 05 thành tố: Nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp. Khi một trong những yếu tố này bị ảnh hưởng, việc truyền thông điệp cũng sẽ bị ảnh hưởng. Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp a) Nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp là chính người phát tin và người nhận tin. Hoạt động giao tiếp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau.
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân vật giao tiếp xuất hiện trong vai người nói hoặc người nghe. Như vậy, sự giao tiếp diễn ra và liên quan đến ít nhất là hai nhân vật giao tiếp: người phát và người nhận tin. Quan hệ giữa bên phát và bên nhận ở đây nhìn chung là bình đẳng. Khi phát thông điệp, người phát buộc phải lựa chọn nội dung và cách thể hiện thông điệp đó, cùng với sự cân nhắc tới các thông số ở phía người nhận.
Và như vậy, thông điệp bị quy định ở cả hai chiều người phát và người nhận. Hơn e 11 nữa, trong giao tiếp, người phát thường chỉ có một, song người nhận có thể là một hoặc một số đông. Điều này cũng quy định hình thức và nội dung thông điệp. Trong trường hợp người nhận là số đông, cần phân biệt người nhận đích thực và người nhận nói chung.
Giao tiếp có thể diễn ra hai chiều hoặc cũng có thể một chiều. Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp tùy theo ngữ cảnh mà lựa chọn chiến lược giao tiếp sao cho phù hợp để đạt mục đích và hiệu quả. b) Nội dung giao tiếp Yếu tố thứ hai tham gia vào QTGT là nội dung giao tiếp. Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp với người khác.
Thực chất, đây là những nhận thức chủ quan của người phát tin về hiện thực được đưa vào nội dung thông điệp truyền đến cho người nhận tin để nhằm một mục đích giao tiếp nào đó. Nó có thể là một ý kiến, một thái độ, một vị trí về một chủ đề, một trật tự, một cảm giác hoặc một gợi ý. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong QTGT thể hiện ở thông tin cần truyền đạt. Vì thế, người nhận hoàn toàn có quyền tiếp nhận hay từ chối những nội dung đó.
Do vậy, trước khi phát thông điệp, người phát ngôn không thể không tính đến những khả năng trên ở người nhận để quyết định lựa chọn nội dung và hình thức của thông điệp sắp truyền đi. c) Hoàn cảnh giao tiếp Để có thể truyền đạt bất cứ điều gì, giữa người phát và người nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay liên hệ với nhau. Điều này có nghĩa là, thông điệp mà người phát muốn gửi đi phải được truyền qua một kênh dẫn thông tin nào đó. Trong hội thoại, kênh là sóng âm, trên radio hoặc tivi (TV), sóng âm được truyền thành sóng điện từ, trong giao tiếp viết, kênh đó là con chữ.
Cuối cùng, bất kỳ hành động giao tiếp nào đều diễn ra trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Với nghĩa rộng, hoàn cảnh giao tiếp bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hoá của cộng đồng dân tộc và quốc gia mà các nhân vật giao tiếp đang có mặt. Hoàn cảnh này chắc chắn sẽ chi phối cả nội dung và hình thức của thông điệp. Tuy nhiên, chúng không tham gia trực tiếp vào giao tiếp mà chỉ tham gia gián tiếp dưới dạng hiểu biết, những kinh nghiệm trong tư duy người phát, người e 12 nhận trước khi cuộc giao tiếp diễn ra.
Với nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp chỉ nơi chốn cụ thể, với những đặc trưng riêng, nơi sẽ diễn ra hoạt động giao tiếp. Môi trường giao tiếp có ảnh hưởng không nhỏ đến hình thức, nội dung thông điệp và cả hiệu quả của cuộc giao tiếp nữa. d) Phương tiện giao tiếp Phương tiện giao tiếp là phương tiện để con người truyền đi bất cứ một loại thông tin nào đó, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật. Phương tiện giao tiếp giúp thể hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng, mối quan hệ và những tâm lý khác trong một cuộc giao tiếp.
Có 2 loại phương tiện giao tiếp đó là: Phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Phương tiện giao tiếp ngôn ngữ được hiểu là hệ thống những từ ngữ, cấu trúc, ngữ pháp, câu được hệ thống nhằm diễn đạt suy nghĩ của con người, được tiếp nhận, phân tích bằng cơ quan thị giác (dạng viết) và cơ quan thính giác (dạng nói). Chức năng cơ bản của giao tiếp ngôn ngữ đó là: Chức năng chỉ nghĩa, chức năng khái quát hóa và chức năng thông báo. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã ngôn từ (verbal code), hay nói cách khác là không được mã hoá bằng từ ngữ.77] Đặc điểm của giao tiếp phi ngôn ngữ là chủ yếu biểu lộ thái độ, luôn có giá trị giao tiếp cao.
Hành vi phi ngôn ngữ mang tính mơ hồ và phần lớn phụ thuộc vào đặc trưng văn hóa. Một số biểu hiện của giao tiếp phi ngôn ngữ như: Hình ảnh, màu sắc, ngôn ngữ cơ thể (body language) bao gồm các hành động giao tiếp thông qua các giác quan, giọng nói (hay còn gọi là là nhịp điệu, âm thanh, ngữ điệu .), không gian giao tiếp. Giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ ít khi tách rời nhau, mà thường bổ sung cho nhau. Nếu chủ động phối hợp với nhau các phương tiện giao tiếp trên một cách hài hòa thì sẽ tạo ra hiệu quả giao tiếp cao nhất.
e 13 e) Đích giao tiếp Đích giao tiếp là sự tác động đồng thời, dần dần lên nhận thức tình cảm và ứng xử của người nhận tin, để cuối cùng khiến họ hành động, phản hồi lại người phát tin. Một số vấn đề về ngôn ngữ báo chí Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn. Trong giai đoạn hiện nay, người ta thường dùng khái niệm báo chí truyền thông để chỉ cả báo viết, báo nói với khái niệm kênh viết, kênh nói và kênh hình. Báo chí ra đời trước hết do nhu cầu thông tin.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người ngày càng lớn. Báo chí đóng vai trò là phương tiện thông tin cực kỳ quan trọng, đáp ứng nhu cầu bức thiết của quần chúng. Có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân loại báo chí. Trước hết dựa vào kênh truyền ta có: báo nói và báo viết.
Dựa vào tần suất phát hành một loại báo cụ thể, có thể chia báo chí thành nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san hay nguyệt báo. Theo nội dung và dung lượng thông tin, lại có thể chia báo chí ra nhiều loại. Trong đó, báo dành cho các bài viết có thông tin ngắn gọn kịp thời, còn tạp chí dành cho các thông tin chuyên đề, yêu cầu về thông tin cập nhật không đặt ra quá bức thiết. Quảng cáo cũng là một loại hình của báo chí.
Khái niệm ngôn ngữ báo chí Dựa vào việc nghiên cứu thực tế sử dụng ngôn ngữ trên các tác phẩm báo chí cụ thể mà có nhiều ý kiến về khái niệm ngôn ngữ báo chí (NNBC). Nguyễn Đức Dân đã khẳng định: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện, thứ ngôn ngữ khách quan về những hoạt động, những gì đang xảy ra đúng như hiện thực khách quan, không thêm thắt những nhận xét, bình luận chủ quan của nhà báo. e 14 Theo “Từ điển thuật ngữ báo chí truyền thông” của Phạm Thành Hưng: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của quá trình truyền tải thông tin báo chí.