CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Cơ sở lý luận về chính sách sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái niệm sinh kế Sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng được hiểu là kế sinh nhai hoặc cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó (Trần Sáng Tạo , 2005). Cùng chung cách hiểu đó, tổ chức IPSARD cho rằng, sinh kế, hiểu theo nghĩa chung nhất, là các khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống (IPSARD, 2012).
Dù được định nghĩa theo cách nào thì khái niệm sinh kế cũng bao gồm ba bộ phận cơ bản: Các nguồn lực để thực hiện sinh kế; Các hoạt động kiếm sống cụ thể; các kết quả sinh kế. Trong đó các nguồn lực sinh kế là nguồn gốc căn bản của các kết quả sinh kế mà các chính sách khi ảnh hưởng vào sẽ làm thay đổi các yếu tố nguồn lực đó nhằm hướng đến một phương thức kiếm sống tốt hơn cho người nghèo. Theo Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2015), sinh kế của hộ gia đình gắn liền với các nỗ lực của các thành viên gia đình nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực mà họ có thể chi phối nhằm thu được các kết quả phục vụ nhu cầu của các thành viên gia đình ngày một tốt hơn ( Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự ,2015).Như vậy, sinh kế hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn lực nội tại của gia đình, nguồn lực từ xã hội mà họ có thể huy động được cũng như cách thức tổ chức các hoạt động kinh tế mà gia đình tham gia nhằm cải thiện thu nhập của gia đình cùng với các lợi ích khác mà họ mong muốn. Quá trình phân phối kết quả sinh kế trong gia đình phụ thuộc vào kết quả thu được nhờ hoạt động sinh kế cũng như các quan hệ tình cảm, huyết thống, tình nghĩa và tập tục mà gia đình đó tuân thủ.
6 Tuy nhiên, không có gia đình đứng ngoài xã hội. Mỗi gia đình phải hoạt động trong một cộng đồng xã hội tương thích. Đối với người DTTS ở Việt Nam, cộng đồng làng xã, thôn, bản có ý nghĩa sống còn đối với đời sống gia đình và là không gian sinh tồn chủ đạo của họ (Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự, 2015).Các cộng đồng thôn, bản giúp các thành viên gia đình thực hành các lễ nghi tôn giáo, tạo dựng chỗ dựa tâm lý cho các thành viên gia đình, giúp các thành viên gia đình tuân thủ các nguyên tắc sống chung, hình thành các giá trị văn hóa, đạo đức, chuẩn mực sống của dân tộc. Cộng đồng thôn bản cũng hỗ trợ các thành viên nguồn lực khi cần thiết, chung sức với nhau để đối phó với thiên tai, với các thế lực thù địch bên ngoài.
Chính vì thế, sinh kế của hộ gia đình gắn liền với sinh kế của cộng đồng, trong đó các gia đình đóng vai trò chính thực hiện hoạt động sinh kế, cộng đồng hỗ trợ hộ gia đình trong những lúc khó khăn, chia sẻ với các thành viên của hộ gia đình niềm vui và chi phối hoạt động sinh kế của gia đình bằng những luật tục. Trong nhiều luật tục của cộng đồng các DTTS, luật tục chế định quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người, ví dụ như luật tục khai thác và bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, phân chia nguồn lực, chia xẻ rủi ro…, giữ vai trò quan trọng đối với sinh kế hộ gia đình. Khi nghiên cứu sinh kế của người DTTS ta cần chú ý một số khía cạnh sau đây: Thứ nhất, người DTTS thường có vị thế yếu trong xã hội và trong kinh tế thị trường hiện nay do các yếu tố có tính đặc trưng của DTTS cũng như do mối quan hệ tương quan về kinh tế, chính trị, trình độ học vấn với dân tộc đa số. Vì thế, khi bàn tới sinh kế của gia đình DTTS người ta thường chú ý đến khía cạnh hỗ trợ để họ vươn lên bình đẳng với dân tộc đa số.
Thứ hai, người DTTS thường duy trì truyền thống và kỹ thuật canh tác nông nghiệp lạc hậu, mang tính tự cung, tự cấp, khó hòa nhập vào kinh tế thị trường hiện đại, nên khi bàn về sinh kế của hộ gia đình DTTS người ta thường tiếp cận theo hướng hỗ trợ họ cải tiến phương thức tổ chức sản xuất có lợi cho họ và hòa nhập với kinh tế thị trường. 7 Thứ ba, đa phần người DTTS ở Việt Nam chủ yếu sống bằng nghề nông, lĩnh vực thường có thu nhập thấp, nhiều rủi ro trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Chính vì thế, phát triển sinh kế của hộ gia đình DTTS, ngoài việc hỗ trợ họ chuyển nghề, đa phần liên quan đến phát triển nông nghiệp bền vững, một lĩnh vực rất khó khăn hiện nay ở nước ta. Tóm lại: Sinh kế của hộ gia đình nói chung phụ thuộc và bị chi phối bởi các nguồn lực sinh kế, khi các nguồn lực sinh kế thay đổi sẽ dẫn đến phương thức và hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thay đổi theo, vì vậy chúng ta chỉ cần ảnh hưởng làm thay đổi các nguồn lực sinh kế sẽ dẫn đến sự thay đổi của sinh kế đây là cách làm đảm bảo tính bền vững.
Khái niệm sinh kế bền vững Trên thế giới, ý tưởng về sinh kế bền vững đã xuất hiện từ khá lâu. Tổ chức IPSARD (2012), cho rằng sinh kế được gọi là bền vững khi nó cho phép hộ gia đình ứng phó và hồi phục trước những cú sốc (chẳng hạn như thiên tai hoặc biến động KT- XH), nâng cao được phúc lợi của hộ và các thế hệ tương lai mà không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên và các nguồn tài nguyên ( IPSARD, 2012), Becher, Bastide, Castella và Boissiere (2012), đã đưa ra định nghĩa về sinh kế và sinh kế bền vững như sau: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản và các hoạt động kiếm sống. Một sinh kế bền vững là một sinh kế có thể đối phó và phục hồi trước những sức ép và cú sốc, duy trì hoặc nâng cao năng lực, tài sản và cung cấp các cơ hội kiếm sống bền vững cho thế hệ tiếp theo, đóng góp lợi ích vào sinh kế của những người khác tại địa phương và trên toàn cầu trong ngắn và dài hạn” ( Becher, F. Trong khi mọi người cho rằng khái niệm sinh kế có thể dùng ở nhiều cấp độ khác nhau, Trần Sáng Tạo (2005) nhấn mạnh rằng sinh kế được dùng tốt nhất ở cấp độ hộ gia đình.
Theo hai ông, trong số các cấu thành của sinh kế, bộ phận phức tạp nhất chính là các nguồn lực mà hộ gia đình sử dụng cho sinh kế 8 của họ. Các nguồn lực đó bao gồm cả các nguồn lực hữu hình cũng như các nguồn tài sản dự trữ (lương thực, thực phẩm, vàng và nữ trang, tiền tiết kiệm) lẫn các nguồn lực sở hữu (đất, nước, cây cối, gia súc, máy móc thiết bị .) và các nguồn lực vô hình như uy tín (có thể kêu gọi trợ giúp), khả năng tiếp cận đến các nguồn tài sản, thông tin. Theo Lâm Thị Thu Sửu (2005), sinh kế bao gồm các khả năng, nguồn lực (cả nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động để kiếm sống. Sinh kế bền vững là sinh kế có thể đối phó và phục hồi từ các sức ép và cú sốc, duy trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn lực trong khi không ảnh hưởng đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên (Lâm Thị Thu Sửu, 2005).
Tương tự như định nghĩa của IPSARD, Cơ quan phát triển quốc tế Anh cũng đề xuất một định nghĩa sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (cả tài sản vật chất và tài sản xã hội) và các hoạt động để kiếm sống. Sinh kế bền vững là sinh kế có thể đối phó và phục hồi từ các sức ép và cú sốc, duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả hiện tại và tương lai trong khi không ảnh hưởng đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên. Tóm lại: trong nghiên cứu này sinh kế bền vững được hiểu là sinh kế đảm bảo cho sự ổn định trong hiện tại mà không ảnh hưởng đến tương lai đồng thời đảm bảo vượt qua các cú sốc, cũng như sự duy trì và phát triển phải từ nội lực của người dân vì vậy cần quan tâm đến phát triển nguồn lực hơn là ảnh hưởng để chỉ làm thay đổi phương thức và hoạt động sản xuất kinh doanh mà thôi. Dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số Dựa trên những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội về những đặc thù của quá trình hình thành dân tộc ở Việt Nam, cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, các nhà khoa học đưa ra hai khái niệm dân tộc theo nghĩa rộng và hẹp như sau: 9 Theo nghĩa rộng: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi Nhà nước, thiết lập trong một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người.
Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội trong khu vực và bản thân (Nguyễn Võ Linh, 2013). Theo nghĩa hẹp: Dân tộc đồng nghĩa với tộc người, dân tộc đó là một cộng đồng tộc người (đa số hoặc thiểu số) được hình thành trong lịch sử, ổn định, có ngôn ngữ riêng của tộc người, đồng thời cư trú trên một lãnh thổ nhất định, các thành viên của tộc người đó cùng chung một vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế và cuối cùng là có chung một nền văn hoá mang bản sắc tộc người (Nguyễn Võ Linh, 2013). Như vậy, khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp dùng để chỉ tất cả các dân tộc (tộc người) từ trình độ phát triển thấp (đang ở trong phạm trù xã hội nguyên thuỷ) đến cao (đạt tới sự hình thành Nhà nước), miễn là nó có đủ bốn đặc trưng cơ bản sau: Chung ngôn ngữ; Chung lãnh thổ; Chung lợi ích; Có một nền văn hoá chung, trong đó quan trọng nhất là ý thức tự giác tộc người. Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thiểu số được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật, cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn.