Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH 1. Khái niệm về thực hiện chính sách đối với đạo Tin Lành 1. Khái niệm về chính sách Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[55] Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Chính sách là một chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý, điều hành đề ra để giải quyết một vấn đề, hoặc một số vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Đạo Tin Lành Tin Lành là tôn giáo tách ra từ Công giáo vào thế kỷ XVI, do đó lúc này Giáo hội Công giáo gọi đạo Tin Lành bằng thuật ngữ Protestantism theo nghĩa là chống đối. Sau này trở thành phổ biến và là tên gọi thông dụng trên toàn thế giới. Protrstiantism dịch theo nghĩa Hán Việt là đạo Thệ phản nên được hiểu là đạo chống đối, phản kháng lại Giáo hội Công giáo.
Là một tôn giáo cải cách từ Công giáo nên trong nhiều ngữ cảnh, đạo Tin Lành còn gọi là đạo Cải cách (Reformism). Và sau khi cải cách, đạo Tin Lành là một tôn giáo mới nên trong một số trường hợp, người ta còn gọi là Tân giáo. Khi đạo Tin Lành vào Việt Nam (1911), người Việt gọi theo cách của người Hán là đạo Thệ phản (dịch từ Protestantism). Mãi đến đầu những năm 1920, khi các giáo sỹ Tin Lành dịch Kinh Phúc âm (Evangelical) là Tin Lành, khác với cách dịch của Công giáo là Tin mừng.
Từ đó tên gọi Tin Lành được 9 gọi thay cho đạo Thệ phản. Người Tin Lành giải thích Tin Lành theo nghĩa là tin tức tốt lành và vui vẻ. Khái niệm về chính sách đối với đạo Tin Lành Chính sách đối với đạo Tin Lành là các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để giải quyết vấn đề đối với đạo Tin Lành theo quan điểm, chủ trương của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước. Khái niệm về thực hiện chính sách đối với đạo Tin Lành Thực hiện chính sách đối với đạo Tin Lành được hiểu là: quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, đưa chính sách của Nhà nước đối với đạo Tin lành vào cuộc sống.
Mục tiêu, nguyên tắc thực hiện chính sách đối với đạo Tin Lành 1. Quá trình hình thành, phát triển đạo Tin Lành tại Việt Nam và tại Tây Nguyên *. Quá trình hình thành, phát triển đạo Tin Lành tại Việt Nam Đạo Tin Lành du nhập đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (CMA) là R. Jaffray cùng các cộng sự truyền vào và đặt cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng (năm 1911).
Đến năm 1975, đạo Tin Lành ở Việt Nam có khoảng 200.000 tín đồ, hơn 500 chức sắc, trên 20 tổ chức, hệ phái, hoạt động chủ yếu ở các tỉnh phía Nam. Sau năm 1975, nhiều tổ chức Tin Lành tự tan rã và phục hồi trở lại vào năm 1980. Đến cuối năm 2004, cả nước có trên 670. Hiện nay, đạo Tin Lành ở Việt Nam có trên 1 triệu tín đồ, có mặt 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với khoảng 80 tổ chức, hệ phái và nhóm khác nhau, trong đó có 10 tổ chức đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, gồm: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc), Hội Truyền giáo cơ đốc Việt 10 Nam, Tổng hội Bắp tít Việt Nam, Giáo hội Bắp tít Việt Nam, Hội Thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam, Hội thánh Mennonite Việt Nam, Hội thánh liên hữu cơ đốc Việt Nam, Hội thánh phúc âm ngũ tuần Việt Nam, Hội thánh phúc âm Toàn vẹn Việt Nam.
Quá trình thâm nhập của đạo Tin Lành vào Tây Nguyên Tây Nguyên hiện nay gồm 5 tỉnh: Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng và Kon Tum, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau. Tây Nguyên có lợi thế rất lớn về tự nhiên. Bên cạnh thiên nhiên ưu đãi, Tây Nguyên có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong khu vực. Về mặt quân sự Tây Nguyên được coi là nóc nhà của Đông Dương.
Ngay từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Hội Truyền giáo CMA, Hội thánh Tin Lành Việt Nam và nay là Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã triển khai công cuộc truyền giáo lên Tây Nguyên, đặc biệt chú trọng phát triển tín đồ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 1931, Ha Sol (Hà San) dân tộc Cơho là người dân tộc thiểu số đầu tiên ở Tây Nguyên theo đạo Tin Lành. Đầu năm 1940, việc truyền giáo lên Tây Nguyên được triển khai ở quy mô rộng lớn với sự tham gia của cả hai tổ chức Hội Truyền giáo CMA và Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam). Đặc biệt, Đại hội đồng lần thứ 19 (1942), Hội thánh Tin Lành Việt Nam đã thông qua nghị quyết trong đó có nội dung nâng đỡ việc truyền giáo ở vùng dân tộc thiểu số, vùng núi ở duyên hải miền Trung và một phần của Đông Nam Bộ.
Kết quả, đến năm 1945, ở vùng Tây Nguyên có 11 dân tộc với khoảng 1.000 người tin theo đạo Tin Lành; năm 1950 có thêm các dân tộc như: Stiêng (1951), Raglai (1951), Chu Ru (1952), Mạ (1953)… với khoảng gần 6.000 tín đồ với 70 chi hội và 47 mục sư, truyền đạo. Đặc biệt, từ năm 1954 đến năm 1975, khi Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, việc truyền đạo 11 Tin Lành lên vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã diễn ra thực sự sôi động. Việc truyền đạo Tin Lành lên Tây Nguyên ở giai đoạn 1954-1975 còn được sự hỗ trợ đắc lực của các tổ chức từ thiện xã hội, Tin Lành quốc tế, của cả phía chính phủ Mỹ thông qua Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ với những khoản viện trợ phong phú từ thuốc chữa bệnh, thực phẩm, nhu yếu phẩm, quần áo trẻ em đến vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp và đặc biệt là của các tổ chức truyền đạo chuyên nghiệp như Ngôn ngữ mùa hè, Thánh kinh hội… Đến năm 1975 ở các tỉnh Tây Nguyên có 61.500 tín đồ, 216 chi hội, 42 mục sư, 91 truyền đạo và 50 truyền đạo sinh, 216 nhà thờ (Lâm Đồng 103, Đăk Lăk 62, Gia Lai 32, Kon Tum 4); 02 trường Kinh Thánh (Buôn Ma Thuột và Đà Lạt); 07 Trung tâm truyền giáo (Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Bảo Lộc, Phước Long, Quảng Đức, Đơn Dương); 03 cơ sở y tế (01 trại phong và 2 bệnh viện). Sau năm 1975, đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, đặc biệt một số mục sư, truyền đạo đã quan hệ với tổ chức phản động mang tên gọi: “Mặt trận thống nhất giải phóng các chủng tộc bị áp bức” (Fulro).
Fulro có nguồn gốc từ phong trào Bajaraka, chỉ bốn dân tộc Banah, Jrai, Êđê và Kơho ra đời tháng 9/1958 nhằm chống lại việc chính quyền Ngô Đình Diệm đưa bộ phận di cư miền Bắc lên định cư ở Tây Nguyên. Sau giải phóng miền Nam, tổ chức Fulro đã lôi kéo một số mục sư, truyền đạo và tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đi theo. Từ thực trạng như trên, do yêu cầu ổn định tình hình chính trị, nhà nước cho tạm ngưng các hoạt động của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên kể cả trong người Kinh. Cách xử lý này nhằm mục đích loại Fulro ra khỏi Tin lành, 12 không cho chúng lợi dụng đạo Tin lành để chống phá cách mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Tây nguyên.
Đến năm 1992, lực lượng vũ trang của tổ chức Fulro tan rã và những tàn quân Fulro được đưa sang định cư ở Mỹ. Thời gian gần đây, cùng với những nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, xã hội trong hoàn cảnh không được phép hoạt động bình thường nhưng tín đồ đạo Tin Lành ở Tây Nguyên vẫn phát triển nhanh chóng. Ngoài các địa bàn đã có đạo từ trước năm 1975 phục hồi trở lại, nay đạo Tin Lành đã phát triển lan rộng ra toàn vùng. Nhiều nơi trước đây đồng bào chỉ theo tín ngưỡng truyền thống, nay đã chuyển sang theo đạo Tin Lành.
Ngoài ra còn hàng nghìn người theo đạo Tin Lành ở các địa phương khác di cư đến nơi sinh sống ở Tây Nguyên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tín đồ ở đây tăng lên. Nhìn chung, bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung, cả số tín đồ có trước năm 1975 và số mới theo trong thời gian gần đây đã hình thành tình cảm, niềm tin tôn giáo khá sâu sắc, đang sinh hoạt tôn giáo ổn định tại các chi hội, các điểm nhóm ở các thôn, làng và trở thành một thực thể tôn giáo khá ổn định ở Tây Nguyên và vùng núi duyên hải miền Trung. Ở Tây Nguyên, cùng với phát triển nhanh của đạo Tin Lành là sự phục hồi và những hoạt động gây rối của tổ chức Fulro cũ với tên gọi Đêga. Được sự giúp đỡ của Mỹ và bọn phản động quốc tế, số người Thượng lưu vong ở Mỹ đã lập ra ba tổ chức: “Hội những người miền núi”; “Hội những người Thượng Đêga”;“Hội bảo vệ nhân quyền người Thượng”.
Đến cuối năm 1999, ba tổ chức này lập ra cái gọi là “Nhà nước Đêga tự trị” lưu vong ở Mỹ. Sau khi hình thành tổ chức, chúng móc nối vào trong nước, dựng dậy và gom lại số Fulro cũ tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng. Đặc biệt chúng 13 đã mượn hình thức sinh hoạt của đạo Tin Lành để hoạt động và cho lập ra cái gọi là “Hội thánh Tin Lành Đêga” làm công cụ chính trị cho Nhà nước Đêga. Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đạo Tin Lành Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân; không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo trong mọi sinh hoạt xã hội.