mở đầu là phong trào Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo đã gây cho các thế lực phong kiến, thực dân những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, triều đình Mãn Thanh đã cấu kết với liên quân Anh - Pháp đàn áp phong trào khởi nghĩa. Các cánh tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tan rã, tản mát khắp nơi, phần lớn chạy xuống phía Nam Trung Quốc, một bộ phận chạy sang các tỉnh phía Bắc Việt Nam tìm nơi trú ẩn, biến tướng thành các toán quân Cờ Đen, 1 Ngày 29 tháng 8 năm 1842, nhà Thanh kí với Anh Điều ước Nam Kinh chấp nhận mở 5 cửa biển cho người Anh đến buôn bán, nhường cho Anh đảo Hồng Kông (đến năm 1997) và phải bồi thường thiệt hại chiến tranh. Liên tục trong tháng 7 và tháng 10 năm 1944, triều đình nhà Thanh ký với Mỹ Điều ước Vọng Hạ Trung-Mỹ và với Pháp Điều ước Hoàng Phố Trung-Pháp với các điều khoản tương tự như Điều ước Nam Kinh, tức là nhường cho Mỹ và Pháp nhiều đặc quyền đặc lợi ở trên lãnh thổ Trung Quốc.
14 Cờ Trắng, Cờ Vàng… Các toán tàn quân này hoạt động quấy phá, cướp bóc, gây mất trật tự trị an và xáo trộn đời sống nhân dân vùng biên giới khiến triều đình trung ương phải nhiều lần điều quân đánh dẹp. Cũng như một số các quốc gia khác trong khu vực, Việt Nam không tránh khỏi nguy cơ bị xâm lược bởi thực dân phương Tây. Nguy cơ này xuất hiện ngay từ thế kỷ XVII, khi một số thương nhân và giáo sĩ châu Âu đến thiết lập quan hệ buôn bán và truyền đạo ở Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh Nguyễn - Tây Sơn, quan hệ này có phần bị gián đoạn.
Một số giáo sĩ nguời Pháp được Nguyễn Ánh tin dùng và đã có công giúp Nguyễn Ánh giành lại chính quyền từ tay nhà Tây Sơn như Jean Baptiste Chaineau, Phillipe Vannier, de Forsans, Despiau vẫn tiếp tục hoạt động ở Việt Nam [42, tr. Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Gia Long đã sử dụng những giáo sĩ này giúp việc trong triều đình, phong cho họ các chức văn võ quan cao cấp. Tuy nhiên, mưu đồ xâm lược của người Pháp đối với Việt Nam không vì thế mà giảm đi. Ngược lại, họ tận dụng mọi cơ hội để do thám, gây chia rẽ, ấp ủ mưu đồ chiến tranh xâm lược.
Các giáo sĩ và thương nhân Pháp hợp tác chặt chẽ với nhau đẩy mạnh ảnh hưởng của người Pháp ở Việt Nam. Năm 1815, sau khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, việc giao thương trên biển ngày càng được đẩy mạnh, thương gia các nước châu Âu ráo riết vượt biển sang phương Đông. Cũng trong thời gian từ năm 1815 đến năm 1817, rất nhiều đề nghị được liên tục đưa lên chính phủ Pháp yêu cầu nối lại quan hệ buôn bán với Việt Nam. Từ tháng 8 năm 1817, các tàu Pháp bắt đầu xuất hiện trở lại ở các cảng Việt Nam.
Triều đình Huế ban đầu tỏ ra rất hoan nghênh. Các tàu Pháp là tàu Paix và tàu Henry khi cập bến Sài Gòn và Đà Nẵng đều được Gia Long phái hai người Pháp trong triều là Chaigneau và Vannier đến giúp đỡ. Gia Long cũng từng chỉ cho họ biết những thứ hàng hóa nên đem sang Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các 15 thương nhân Pháp. Bản thân người Pháp cũng phải xác nhận buôn bán ở Việt Nam rất thuận lợi, thái độ vua Gia Long rất niềm nở, hàng hoá mang sang đều bán hết và được thanh toán sòng phẳng, đến lúc ra về còn chở nhiều loại hàng hoá quý như đường, trà, tơ, bạc nén [42, tr.
Tuy nhiên, trước sự bành trướng ngày càng lớn của người châu Âu ở Đông Nam Á khiến vua Gia Long e ngại, nhất là sau khi người Anh chiếm được Singapore năm 1819. Nhà vua thấy rằng cần phải giao hảo với người phương Tây, nhưng không thể biệt đãi một quốc gia nào. Từ thời Minh Mệnh, quan hệ của Việt Nam với người phương Tây dần dần bị hạn chế, thậm chí cấm đoán. Quá lo sợ về nguy cơ thực dân, triều đình đã ra lệnh thực thi chính sách “đóng cửa” và đàn áp công giáo.
Lúc này giáo sĩ Pháp đã lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để đi sâu vào các địa phương, tiến hành điều tra, dò xét tình hình các mặt và báo cáo về nước Pháp. Mặt khác, họ lợi dụng thế lực tôn giáo để lôi kéo nhân dân nổi dậy chống lại triều đình, gây nên mâu thuẫn lương - giáo. Nhiều cuộc đấu tranh của giáo dân chống lại triều Nguyễn ở các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình đã nổ ra, mà nguyên nhân trực tiếp là sự xúi giục tác động của một bộ phận giáo sĩ phương Tây. Cuối năm 1851, tình hình nước Pháp bắt đầu ổn định trở lại, nền kinh tế của tư bản Pháp từng bước được phục hồi kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường và nguồn nguyên liệu nước ngoài.
Trong khi đó, vùng Đông Nam Á hải đảo và bán đảo Mã lai đều đã bị phân chia bởi thực dân Hà Lan và Anh theo hiệp ước Luân Đôn năm 1824. Người Pháp do đó tập trung hoạt động ở các quốc gia Đông Nam Á lục địa và khu vực nam Trung Hoa. Bộ phận giáo sĩ đang hoạt động ở Việt Nam bắt đầu nối lại quan hệ với các thương nhân và chính quyền Pháp. Năm 1852, Napoleon III lên ngôi Hoàng đế, tham vọng mở rộng thuộc địa càng được đẩy mạnh hơn.
Đến năm 1856, khi mâu thuẫn Anh - Pháp tạm thời hoà hoãn, kết hợp với các báo cáo của các giáo sĩ và 16 thương nhân cho biết triều đình Huế ngày càng suy đồi và sự rối loạn ở miền Bắc Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng vì các phe phái nổi dậy chống triều đình, ngày 5 tháng 12 năm 1856, Napoleon III phái Montigny với danh nghĩa sang thương thuyết với triều đình Huế về vấn đề truyền đạo và buôn bán, nhưng thực chất là để dọn đường cho một cuộc can thiệp vũ trang sắp tới của Pháp vào Việt Nam. Để đối phó lại sự ảnh hưởng ngày càng mạnh của Pháp ở Việt Nam, nhà Nguyễn ra sức bắt bớ, giam cầm, xử tử những giáo sĩ và giáo dân không tuân theo mệnh lệnh cấm đạo. Chính sách cấm đạo quyết liệt của Minh Mệnh không thể ngăn cản được đức tin tôn giáo của các giáo dân. Ngược lại, càng đẩy họ về phía đối lập, tạo thêm điều kiện cho những kẻ xấu lợi dụng gây nên tình trạng chia rẽ trong nhân dân, dọn đường cho chủ nghĩa thực dân xâm lược.
Thực dân Pháp dựa vào nguyên cớ trực tiếp là sự đàn áp giáo dân của Triều đình Nhà Nguyễn để nổ súng chiếm Đà Nẵng vào ngày 31 tháng 8 năm 1858. Tuy nhiên, từ bối cảnh chung của khu vực và thế giới cho thấy, nhu cầu về thuộc địa và sự tranh giành thuộc địa giữa các thế lực phương Tây mới chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh xâm lược này. Ngoài nguy cơ ngoại xâm từ thực dân phương Tây, triều Nguyễn khi mới thành lập còn chịu nhiều sức ép từ thế lực phương Bắc. Giống như bao triều đại phong kiến Việt Nam khác, đế chế Trung Hoa hùng mạnh luôn là mối đe dọa thường trực.
Dưới con mắt của “thiên tử” phương Bắc, các dân tộc phương Nam trong đó có Việt Nam bị coi là các tộc “man di”. Vì vậy các dân tộc đó phải hướng về “thiên triều” để tiếp nhận ánh hào quang và sự giáo hoá của “thiên tử”. Mỗi khi các dân tộc phương Nam có thái độ không thần phục thì nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc là không thể tránh khỏi. Không chỉ có thế, do việc mở rộng biên giới lãnh thổ về phía Bắc gặp rất nhiều khó khăn, Việt Nam lại là “cửa ngõ” của Trung Quốc tiến xuống 17 phía Nam nên luôn nằm trong mục tiêu xâm chiếm của đế chế Trung hoa hùng mạnh.
Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới lại phải hứng chịu mối đe dọa liên tục và thường trực từ một quốc gia láng giềng như Việt Nam trong mối liên hệ với Trung Hoa. Từ các triều đại Tần, Hán, Đường và sau này là Tống, Nguyên, Minh, Thanh triều đại nào cũng đem quân xâm lược nhằm chiếm lấy vùng đất phía nam này. Cũng trong lịch sử, các vương triều Trung Hoa thường xuyên gây xung đột lấn chiếm đất đai vùng biên cương của nước ta.2 Chủ trương của triều Nguyễn là thần phục thiên triều, tạo mối quan hệ giao hảo với nhà Thanh để ổn định tình hình biên giới phía Bắc. Cho tới trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, quan hệ của triều Nguyễn với nhà Thanh tương đối êm đẹp.
Tuy nhiên, mối nguy cơ từ phía Bắc vẫn là mối lo thường trực khiến các triều đại Việt Nam luôn phải trong thế phòng thủ để giữ vững vùng biên cương phía bắc của tổ quốc. Bên cạnh những áp lực về ngoại giao, khi mới thành lập nhà Nguyễn phải giải quyết hàng loạt khó khăn về kinh tế và những bất ổn về chính trị. Triều Nguyễn thống nhất đất nước và nắm vương quyền, nhưng đó chỉ mới là sự thống nhất về mặt lãnh thổ. Hệ thống chính quyền giữa các miền Nam Bắc chưa có sự thống nhất.
Việc đặt các đơn vị hành chính tạm thời ở hai miền Nam Bắc cũng sớm bộc lộ những bất ổn. Để xây dựng một hệ thống chính quyền ổn định và thống nhất từ Bắc vào Nam là vấn đề lớn đặt ra cho triều Nguyễn. Sau một thời kỳ dài nội chiến, tình hình kinh tế - xã hội cũng có nhiều bất ổn: dân cư xiêu tán, ruộng đất bỏ hoang, sản xuất bị đình trệ. Việc đất 2 Việc lấn chiếm vùng biên giới phía Bắc được ghi lại khá cụ thể trong các nguồn thư tịch của Việt Nam, từ khi hình thành quốc gia cho đến trước triều Nguyễn.
Năm 1726 chính quyền phong kiến nhà Thanh dùng thủ đoạn mua chuộc thổ tù châu Lộc Bình là Vi Phúc Kiến để chiếm thôn Na Oa rồi tự tiện dựng cột mốc biên giới giả ở An Khoái (Lộc Bình). Theo Giáo sư Phan Huy Lê, hiện nay ở An Khoái (Lộc Bình) còn để lại trên bia dòng chữ “Phụng hiến Vĩnh định cương giới chi bi” (Bia định cương giới mãi mãi), Xem thêm, Châu Hải: Những âm mưu và thủ đoạn bành trướng của các hoàng đế Trung Hoa đối với nước ta qua thư tịch cổ Việt Nam, in trong Những vấn đề lịch sử Đông Nam Á thời cổ, Viện Đông Nam Á, Hà Nội, 1983, tr. 18 nước được thống nhất lại tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thương nghiệp.