Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THANH TRA VIÊN 1. Khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của thanh tra viên 1. Khái niệm thanh tra viên Theo cách hiểu thông thường thì “thanh tra viên” là người làm công tác thanh tra, cũng tương tự như “công an viên” là người làm công tác công an, “giảng viên” là người làm công tác giảng dạy, “kiểm sát viên” là người làm công tác kiểm sát, “kiểm tra viên” là người làm công tác kiểm tra…. Điều 31 của Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 của Quốc hội quy định: Thanh tra viên là công chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.
Thanh tra viên được cấp trang phục, thẻ thanh tra. Thanh tra viên phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra, theo Điều 5 của Nghị định 97/2011/NĐ-CP ngày 21/10/2011 của Chính phủ quy định về Thanh tra viên và Cộng tác viên Thanh tra thì thanh tra viên còn thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước. Thanh tra viên có các ngạch từ thấp đến cao như: thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp.
Như vậy, trước hết thanh tra viên phải là công chức nhà nước hoặc sĩ quan Quân đội, sĩ quan Công an; thứ hai, là phải được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra (thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp) khi có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật; thứ ba, phải công tác trong các cơ quan thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và các nhiệm vụ khác theo sự phân 8 e công của thủ trưởng cơ quan thanh tra; thứ tư là phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về thanh tra viên như sau: Thanh tra viên là công chức, sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹ quan Công an nhân dân công tác trong các cơ quan thanh tra nhà nước, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về thanh tra, được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và các nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Vị trí, vai trò của thanh tra viên Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết KN, TC và PCTN; tiến hành thanh tra, giải quyết KN, TC và PCTN theo quy định của pháp luật. Để các cơ quan thanh tra nhà nước có thể thực hiện những chức năng này thì không thể không nhắc đến vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của thanh tra viên.
Cụ thể là: - Trong quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết KN, TC và PCTN: Mục đích của quản lý nhà nước là hiệu quả quản lý, tính phục vụ nhân dân. Do đó, một việc làm nào đó có thể chưa được pháp luật quy định nhưng lại có lợi cho đất nước, cho nhân dân thì chính quy định đó cần phải được thanh tra viên kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn. Tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn quốc (05/3/1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, cán bộ thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai mắt có sáng suốt thì người mới sáng suốt. Người chỉ ra một cách cụ thể rằng, Đảng và Chính phủ là những thực thể lãnh đạo và quản lý đất nước, không 9 e được tách rời lãnh đạo, quản lý với thanh tra, kiểm tra.
Bởi qua kiểm tra, thanh tra, thanh tra viên sẽ giúp cho người lãnh đạo, quản lý cấp trên thấy được những yếu kém, thiếu sót, những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ của đường lối chính sách, của hệ thống pháp luật; đánh giá được năng lực, trách nhiệm điều hành và quản lý của người lãnh đạo, quản lý cấp dưới; đánh giá một cách đầy đủ, đúng đắn nơi nào, cá nhân nào làm tốt hoặc làm chưa tốt để biểu dương, uốn nắn kịp thời. Có thể nói, cán bộ thanh tra, thanh tra viên như một chiếc cầu nối giữa lãnh đạo cơ quan cấp trên và cơ quan cấp dưới, giữa cơ quan ban hành chính sách và cơ quan thực hiện chính sách, giữa trung ương và địa phương, giữa người lãnh đạo, chỉ đạo và người thực hiện. - Trong công tác thanh tra: Trong nền kinh tế thị trường, sự hội nhập của Việt Nam với thế giới, các văn bản pháp luật cũng được thường xuyên sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhưng nhiều khi vẫn không phản ánh hết được thực tiễn cuộc sống, các quan hệ xã hội mới phát sinh. Chính vì vậy, thanh tra viên phải có quan điểm đúng và nhìn nhận các vấn đề với nhãn quan biện chứng, trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng để đánh giá chính xác các vấn đề mà mình thanh tra.
Từ đó đưa ra các kiến nghị xác đáng để xử lý những vấn đề đó, đồng thời đưa ra các giải pháp hoặc dự kiến cho tương lai. Thanh tra viên ngoài việc xem xét việc làm của đối tượng thanh tra còn phải xem xét chính chủ trương, chính sách có đúng không, có phù hợp với thực tiễn hay không? Đây cũng là vấn đề rất khó, đòi hỏi thanh tra viên phải thật sự có năng lực, có thể chỉ ra nguyên nhân của các sai lầm, khuyết điểm của đối tượng thanh tra để giúp họ khắc phục, sửa chữa. Làm được như vậy thanh tra mới thực sự là “người bạn của dưới”. Tại Hội nghị tổng kết thanh tra toàn miền Bắc tháng 4 năm 1957, chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấp dưới, đồng thời giúp cho các cấp địa phương kịp thời sửa 10 e chữa, uốn nắn nếu làm sai hoặc làm chậm, cho nên trách nhiệm của công tác thanh tra là quan trọng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dặn dò cán bộ thanh tra: “Thanh tra là nhiệm vụ vẻ vang và quan trọng, nó theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ” [26, tr. - Trong giải quyết KN, TC: KN, TC là hình thức biểu hiện trực tiếp mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước. Thanh tra viên đóng vai trò rất lớn trong công tác giải quyết KN, TC. Thanh tra viên là người trực tiếp tham mưu thụ lý đơn, tổ chức xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, báo cáo kết quả xác minh, xây dựng dự thảo kết luận tố cáo và quyết định giải quyết khiếu nại khi được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu rất cao cho công tác giải quyết KN, TC của dân, không những phải tiếp nhận và giải quyết kịp thời mà các cấp chính quyền, các cán bộ, công chức, thanh tra viên “phải giải quyết nhanh, tốt” các khiếu nại đó. Trong Huấn thị về công tác thanh tra tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 19/4/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, có những cán bộ, đảng viên vì việc này, việc khác mà kêu nài, cán bộ thanh tra cũng phải xem xét kịp thời, chóng chừng nào, hay chừng ấy. Đối với nhân dân, việc kêu nài, có lúc không kêu nài đi chăng nữa, cán bộ thanh tra cũng phải thăm dò ý kiến nhân dân. - Trong PCTN: các tổ chức thanh tra nhà nước nói chung, thanh tra viên nói riêng là công cụ quan trọng và hữu hiệu trong hoạt động PCTN.
Với phạm vi thanh tra, thanh tra viên có điều kiện phát hiện các hành vi tham nhũng bởi đối tượng thanh tra bao gồm những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước mà Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng đã xác định: “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Một trong những hoạt động giúp phát hiện 11 e hành vi tham nhũng đó là thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các cán bộ, công chức. Thanh tra viên hoàn toàn có thể phát hiện sớm những dấu hiệu tham nhũng từ khi chưa có biểu hiện ra bên ngoài để từ đó có những biện pháp chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời. Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thanh tra viên còn thể hiện vai trò “dự báo”, phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết trong cơ chế, chính sách làm phát sinh tham nhũng.
Khi kết luận thanh tra, thanh tra viên có quyền: đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra; kết luận về nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có các hành vi tham nhũng (nếu có) của đối tượng thanh tra. - Trong tiếp công dân: Việc tiếp công dân đến trình bày KN, TC, phản ánh, kiến nghị liên quan đến KN, TC là một công việc phức tạp đòi hỏi người tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân, thanh tra viên phải nắm vững các quy định của pháp luật đồng thời phải luôn luôn chủ động linh hoạt về mặt nghiệp vụ, có kiến thức tương đối sâu sắc và toàn diện về nhiều lĩnh vực, có lối ứng xử văn hoá, nghệ thuật giao tiếp để có thể giải quyết những công việc phát sinh trong quá trình tiếp công dân cũng như trả lời, hướng dẫn cho người đến KN, TC để thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân. Thái độ của thanh tra viên nhất là đối với công dân có khiếu nại bức xúc, là cần biết lắng nghe và thể hiện sự tôn trọng họ. Thanh tra viên phải xem xét một cách toàn diện, cẩn trọng vụ việc trên tinh thần trách nhiệm với nhân dân và với Nhà nước.