Chương 1: TONG QUAN VE DIỄN ĐÀN IIỢP TÁC KINH TẾ CHAU A—THAI BINH DUONG 1. Sự hình thành và quá trình phát triển 1.1 Sự hình thành Chiến tranh thé giới lần thứ hai kết thúc. thể giới lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Những nỗ lực cải cách kinh tế, mổ rộng thương mai, tao da cho kinh tế đi lên đã gặp phải trở ngai lớn.
đó là chủ nghĩa bao hệ mậu dịch và tỉnh trạng phân biệt đối xử trong buôn bán thương mại quốc tế Để giải quyết vấn dé nay, các nước dự định thành lập TẾ chức Thương mại Quốc tế với tư cách là một tổ chúc chuyên môn thuộc Liên hợp quốc nhằm thúc đấy thương mại quốc tế. Nhưng cuối củng các nước chỉ đi đến việc ký kết Hiệp dịnh chung về Thuế quan vả thương mại (GATT) vảo ngày 23/10/1947 với những chế định giới hạn ở việc điều tiết vẫn dé rang buộc và cắt giám thuế quan. 8au khi GATT chính thức có hiệu lực từ 01/01/1948, nhiều vòng dâm phán da phương dược tổ chức với nỗ lực mở rộng thêm nội dung của GATT để hướng tới việc thánh lập Tổ chức Thương mại thể giới nhưng vẫn pặp phải rất nhiều bế tắc vi không dưng hoà dược các mâu thuẪn về quyền lợi của các nước Từ cuỗi những năm 1970, đặc biệt là trong những năra 1980, sự tăng trưởng kinh tế liên tực với nhịp độ cao của châu Á mà nng cốt là các nền kinh tế Dong A da thu bat su chú ý của cả thể giới. Tiếp theo sự thần kỳ của Nhật Dân, các nền kinh tế công nghiệp hóa mới, ASDAN và đặc biệt là sự nỗi lên của Trung Quốc đã biển châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng, động bậc nhất thể giới.
Miệt trong những nhân tố cơ bản đẫn đến sự tăng trưởng cao của khu vực chầu Á những năm 70 và 80 của thế ký 20 chính là hoạt động xuất khẩu. rong giai đoạn này, xuất khẩu của các nước châu Á. tăng nhanh nhất thế giới, tỷ lệ bình quân hàng năm trên 10% cao gấp hơn hai lần sơ với tỷ lễ 4% của các nước châu Âu và Mỹ La tinh, và gấp hon 1,5 lẫn so với tỷ lệ 6% của các nước công nghiệp phát triển, vốn chiếm tới 2/3 thương 10 mại thể giới. Bên cạnh sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu, dầu tư trực tiếp vào châu Á tăng mạnh trong giai đoạn này.
Phần lớn các nguồn vẫn đầu tư vào khu vực này có xuất xứ từ Iloa Kỳ, Nhật Bản va các nước công nghiệp hóa mới. Có thể thấy tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và nguồn vốn đầu tư nôi bộ khu vực cũng như với khu vực khác và các nước trên thé giới. Hợp tác kinh tế khu vực trở thành nhu cầu cấp thiết để đảm bảo điều tiết các hoạt đông kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế cao và Ổn định. Bên cạnh đó, đầu những năm 1980 đã cỏ những biếu hiện của thé giới về sự khủng hong trên nhiều lĩnh vực, hệ thống thương mại Loàn cầu lại đứng trước những đe dọa nghiêm trọng.
Irong bối cảnh đó, hầu hết các nước trên thế giới đều phải xem xét lại nền kinh tế của mình, thực hiện các chương trình cải cách cơ cầu nền kinh tế để phủ hợp với xu thế phát triển mới của thời đại TỨng phó với tình hình đó, nhiều nước đã áp dụng các công cụ bảo hộ thương mại, những ràa cản (hương mại mới để báo về ngành sẵn xuất và thị trường nội dia, dic biét la Hoa Ky va Nhat Bản. Hệ quả của tình trạng trên là tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thương mại bị đe dọa. Để đương đầu với những thách thức mới của sự cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường quốc tế, vẫn đề đặt ra bức thiết cho tất cả các nước phát triển và đang phát triển lá phải tìm ra một cơ chế hợp tác, tháo gỡ hàng rào bảo hộ, tạo thé và lực trong đảm phán thương mại da biên ‘lrong béi cảnh đó, hai khuynh hướng kinh tế quan trong đã hình thành, được xem là giải pháp khắc phục tỉnh trạng suy thoải của kinh tế thế giới, đó là chủ nghĩa toàn cầu vả chủ nghĩa khu vực với ý tưởng chung là tự do hóa Xu thế toàn cầu với đại điện là GATT phát triển mạnh mẽ thể hiện qua sự phân công lao động quốc tế đan xen dười tác động của những tiến bộ khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin. Việc tiến hành cải cách và mở cửa cảng làm gia tăng xu thể này ở khu vực chau A - Thái Bình Dương.
Cùng với loàn cầu hóa và như một sự ửng phỏ với toàn cầu hóa, xu thế khu vực hóa cũng, phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng vả chiền sâu. Trào lưu khu vực hoá phát 11 triển mạnh mẽ, di đầu là Khối công đồng Châu Âu (RC) với thoả thuận thành lập một thị trường chưng vào năm 1992 và ráo riết thành lập một liên minh tiền tệ với một đồng tiên chung. Cùng với động thái đó của BC, Iloa Kỳ cũng bat dầu chuyển hướng từ việc úng hộ hệ thống thương mại da phương sang, thành lập những thoả thuận thương mại song phương và khu vực, thể hiện bing việc thánh lập khu vực thương mại Lự do với Canada nam 1983 - nhân tổ cơ bản để thảnh lập Khu vực thương mại tự đo Bắc Mỹ (NAFTA) sau này. Năm 1988, Hiệp định thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và Canađa được ký kết và năm 1992 kết nạp thém Méxicé vao NAFTA Chiu A.
mic dé dat được thanh tau rat to lớn về khía cạnh kinh tế trong những thập niên 70 va 80 với sự phát triển nhanh chóng của những nền kinh tế như Nhật Bản và các “con ring Chau A”, vin chưa có dược một hình thức liên kết kinh tổ chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để đảm bảo quyển và lợi ích của các quốc gia Châu A tue su gia Bing của chủ nghĩa bảo hộ vả khu vực hoá như Chau Au va Bắc Mỹ. Trong khi đó, từ những năm 1970, 1980 trao dỗi thương, mại khu vực Châu Á Thái Binh Dương tăng trưởng nhanh chóng. Năm 1989, xuất khẩu hàng hoá của các nước Châu Á — Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản) sang Hoa Kỳ đạt 25,8% tổng kim ngạch thương mại và xuất khẩu từ Hoa Ky sang các nước này đạt 30,5% tổng kim ngạch thương mại. Riêng đối với Nhật Bản, xuất khẩu sang Hoa Kỳ dạt 34.2% tổng kim ngạch xuất khẩu và Hoa Kỷ xuất sang Nhật đạt 12.3% tống kim ngạch xuất khẩu.
Môt lần nữa, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày cảng tăng về kinh tế đã tạo ra lực gắn kết, tạo ra như cầu về phối hợp giữa các nên kinh tế trong khu vực với nhau. [20, 9] Trong bối cảnh phát triển kinh tế thế giới nói chung và châu Á - Thái Bình Dương nói riêng có thể nhận thấy, khu vực châu Á - Thai Binh Duong tuy có sự ồn định tương đổi về chính trị và là một khu vực năng đồng và tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chấL chính thức, liên chính phú toán khu vực dễ đảm bảo lợi ích công bằng giữa các nước trong khu vục trước sự gia tăng ngày cảng mạnh của chủ nghĩa khu 12 vực bản hộ ở Tây Âu và Bắc Miỹ. Yêu cầu về việc thành lập một diễn dàn liên kết kinh tế khu vực là hết sức cấp thiết Lo ngại rằng các đối tác thương mại chủ yếu của minh chỉ tập trung vào các thị trưởng trong nước và gia tăng các hình thức bảo hộ thương mại, những, nước có đặc điểm kinh tế phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài là Oxtraylia, Nhat Ban va [an Quốc đã nêu sáng kiến thành lập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với muc đích thưc hiện đổi thoại chỉnh sách nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của chi nghĩa cô lập khu vực và thắc đẩy quả trình tự đo hoá thương mại, làm động lực thúc day đảm phán trong GATI/WTO. Tuy nhiên, khởi nguồn của tạo lập APEC có công đóng góp lớn của Nhật Bản.
Thực tế, ý tưởng về liên kết khu vực đã được một số học giả châu Á, dặc biệt là Nhật Bản dễ gập đến từ những năm 60 của thể ký 20 đo họ sớm nhận thúc được sự cần thiết phải xây dựng một mô hình hợp tác có hiệu quả về kinh tế trong khu vực. Năm 1965, để xuất thành lập “khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương” với thành viên là năm nước công nghiệp phát triển nhằm mục đích tạo đà cho việc mở cửa nén kinh tế cho một số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lỏng, chảo Thái Bình lương đã được hai học giả nổi tiếng của Nhật Bản đưa ra. Năm 1980, lội đẳng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PBCC) đã ra đời với những nỗ lực của chính các học gid Nhat Ban. Chính PHCC và ASEAN sau nay đã đóng vai trò là những yếu tổ đấy quan trong để ý tưởng thành lập APEC trở thành hiện thực.
Tiếp đỏ vào cuỗi những năm 80 thể kỹ 20, một lần nữa Nhật Bắn lại là người khởi xướng việc nhắc lại ý tưởng thành lập một diễn đản hợp tác để giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế trong khu vực. Mặc dù ý tướng này không nhận được sự chú ý và hưởng ứng của cường quốc kinh. +6 vung lòng chảo Thái Bình Dương là Hoa Kỷ, nhưng nó vẫn nhận được sự hoan nghênh và ủng hộ của một số nước trong khu vực, đặc biệt là Oxtraylia do nhận thức được tim quan trọng thiết yếu của mỗi quan hệ kinh tế thương, 13 mại giữa các nước tronp khu vực xuất phát từ lợi ích thiết thực của bản thân Ôxtrâylia đôi với các quốc gia khác trong khu vực này Tháng 1/1989, Ôxtrâylia đã củng cỗ ý tưởng của Nhật Bản băng cách nêu sáng kiến về việc thành lập một Iiễn dàn tư vẫn kinh tế cắp Bộ trưởng ở châu A ‘Thai Bình Dương với mục đích phổi hợp hoạt đồng của các chính phú nhắm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Sáng kiến nay đã nhân được sự ủng hộ mạnh mẽ của một số nước trong khu vực.
Tháng 11/1989, các Bộ trướng Ngoại giao và Thương mai cúa 12 nền kinh tế thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương la Oxtraylia, Hoa Ky, Canada, Nhat Ban, Ilin Quéc, Brundy, Inddnéxia, Kingapo, Malayxia, Philippin, Thai I.an, va Niu Dilan di nhom hop 6 thi dé Canberra (Oxtraylia), thành lập ra APEC.