CHƯƠNG I Có rất nhiều lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về việc lựa chọn tỷ lệ nợ - vốn cổ phần. Tuy nhiên, các kết quả đưa ra rất khác nhau. Sở dĩ như vậy có thể là bởi vì mô hình phân tích, ước lượng khác nhau. Đề tài này dựa vào nghiên cứu của Yu-Shu Cheng, Yi-PeiLiu và Chu-Yang Chien (2010) để kiểm tra tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
9 CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết lập mẫu khảo sát Mẫu được chọn là các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến năm 2011. Các công ty kinh doanh bên lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và ngân hàng không được chọn bởi vì các công ty này có cấu trúc vốn khác biệt so với những công ty phi tài chính được chọn.1 Phân loại công ty theo lĩnh vực kinh doanh Lĩnh vực kinh doanh Số công ty Tỷ lệ Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe 8 16% có động cơ khác Công nghiệp chế biến, chế tạo 14 28% Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước 2 4% thải Dịch vụ giải trí 2 4% Dịch vụ lưu trú và ăn uống 1 2% Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 1 2% Hoạt động kinh doanh bất động sản 5 10% Khai khoáng 3 6% Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 2 4% 3 6% Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước Thông tin và truyền thông 1 2% Vận tải kho bãi 3 6% Xây dựng 5 10% Tổng cộng 50 100% 10 Bảng 2.1 phân loại các công ty theo các ngành nghề kinh doanh khác nhau. Toàn bộ số liệu được thu thập từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Có tất cả 50 công ty được chọn.
Trong mẫu khảo sát, có 14 công ty thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm tỷ lệ 28% - cao nhất); 8 công ty bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô…(chiếm tỷ lệ 16%)… Có một số lĩnh vực số lượng công ty để lấy mẫu rất ít, thậm chí là 1, trước hết bởi vì lĩnh vực đó ít phổ biến, hơn nữa thời gian khảo sát của luận văn là từ năm 2008 đến năm 2011 nên không có thông tin về báo cáo tài chính của một số công ty mới niêm yết trong thời gian gần đây.2 Các biến Trong nghiên cứu về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp các công ty Trung Quốc (2010), Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu và Chu-Yang Chien đã sử dụng hai nhóm biến giải thích trong mô hình hồi qui ngưỡng và cơ sở dữ liệu mảng của Hansen (1999). Biến thứ nhất là biến ngưỡng (Tỷ số nợ trên tài sản), là biến chính được sử dụng để đánh giá cấu trúc vốn tối ưu của một công ty và để xác định ảnh hưởng ngưỡng của nợ đến giá trị công ty. Nhóm biến thứ hai là biến điều khiển, được sử dụng để phân lập các ảnh hưởng của những yếu tố khác có thể có ảnh hưởng đến giá trị công ty. Họ sử dụng 3 biến điều khiển trong nghiên cứu của mình.
Biến điều khiển thứ nhất được sử dụng để xác định quy mô công ty, được tính bằng Ln (Tổng tài sản). Biến điều khiển thứ hai và thứ ba liên quan đến sự tăng trưởng của công ty, được tính bằng phần trăm thay đổi của doanh thu và tổng tài sản hàng năm. Biến phụ thuộc các tác giả này sử dụng là tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần ROE. Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng các biến sau: 11 2.1 Giá trị doanh nghiệp Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp, để xác định giá trị doanh nghiệp, Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu và Chu-Yang Chien (2010) sử dụng tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE).
Khi nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến lợi nhuận, Joshua Abor (2005) cũng sử dụng ROE để tính toán giá trị doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng ROE để tính toán giá trị công ty với ROE được xác định như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100% Vốn chủ sở hữu Trong mô hình nghiên cứu này, ROE đóng vai trò là biến phụ thuộc.2 Các biến độc lập Để phân tích tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp, đề tài sử dụng 3 biến độc lập sau: Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản DA (Debt total Asset), Quy mô công ty SIZE (Enterprise size) và Chỉ số tăng trưởng doanh thu SG (Growth rate of Sales). Với: − DA Là biến chính được dùng để đại diện cho cấu trúc vốn của công ty và được dùng để kiểm tra tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp. Để tính tỷ số nợ trên tổng tài sản, tác giả sử dụng Tổng nợ, thay vì nợ ngắn hạn hay dài hạn.
Như vậy tỷ số nợ trên tổng tài sản được tính như sau: Tổng nợ DA = x 100% Tổng tài sản − SIZE Được xem là một yếu tố quyết định cấu trúc vốn. 12 Theo Joshua Abor (2005), các công ty có quy mô lớn hơn thông thường có lợi nhuận cao hơn, đồng nghĩa với việc biến SIZE và lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều. Ngược lại, Feng-Li Lin (2010), Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu and Chu-Yang Chien (2010) lại nhận thấy những công ty có quy mô lớn hơn thì thông thường giá trị doanh nghiệp của nó thấp hơn, tức là giữa biến độc lập ROE và biến độc lập SIZE có mối quan hệ ngược chiều. Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ khảo sát xem giữa SIZE và giá trị doanh nghiệp có mối quan hệ như thế nào, cùng chiều hay ngược chiều.
Với SIZE được tính theo công thức sau: SIZE = Ln (Tổng tài sản) − SG Được xem là một yếu tố có liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Theo Joshua Abor (2005), các công ty có cơ hội tăng trưởng cao hơn thông thường có lợi nhuận cao hơn. Tương tự, trong các nghiên cứu của mình, Chien-Chung Nieh, Hwey-Yun Yau, and Wen-Chien Liu (2008), Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu and Chu-Yang Chien (2010) kết luận rằng công ty nào có cơ hội tăng trưởng doanh thu cao hơn thông thường giá trị doanh nghiệp của nó cao hơn, nghĩa là giữa biến Growth và giá trị công ty có mối quan hệ cùng chiều. Ngược lại, nghiên cứu của Feng-Li Lin và Tsangyao Chang (2008), Feng-Li Lin (2010) cho chỉ số tăng trưởng của doanh thu không liên quan đến giá trị doanh nghiệp.
Chỉ số tăng trưởng được xác định theo công thức sau: Tổng doanh thu năm nay - Tổng doanh thu năm trước SG = x 100% Tổng doanh thu năm trước 13 2. THỐNG KÊ MÔ TẢ Bảng 2.2: Thống kê mô tả các biến của mẫu khảo sát Total Standard Mean Minimum Maximum Deviation Total N ROE ,183087 -1,028033 ,958314 ,205110 200 DA ,456373 ,039889 ,880083 ,224316 200 SIZE 27,437182 25,285706 31,200910 1,281213 200 SG ,355513 -,825926 10,245177 1,037751 200 Bảng 2.2 cho thấy kết quả thống kê mô tả các biến của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Các thông tin tài chính được thu thập từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011. Tổng các quan sát trong mô hình là 200 mẫu, của 50 công ty được chọn.
Kết quả thống kê: Giá trị bình quân của ROE của các công ty là 18,3%. Trong đó ROE cao nhất là 95,8% (Công ty CP Lương thực thực phẩm Vĩnh Long – năm 2008), ROE thấp nhất là -102,8% (Công ty CP Thực phẩm Quốc Tế - năm 2008). DA của các công ty có giá trị bình quân là 45,6%. DA cao nhất là 88% (Công ty CP Thực phẩm Quốc tế - năm 2011), DA thấp nhất là 4% (Công ty CP Công viên nước Đầm Sen – năm 2009).
SIZE bình quân của các công ty là 27,44 tương đương với tổng tài sản bình quân là 826,2 tỷ đồng. Trong đó công ty có SIZE lớn nhất là 31,2 tương đương với tổng tài sản là 25. 14 Chỉ số tăng trưởng bình quân của các công ty là 35,6%. Công ty có SG lớn nhất là CTCP Tư vấn – Thương mại – Dịch vụ Địa ốc Hoàng Quân (2009).
Sau đây là phần phân tích sâu hơn về biến DA và ROE 2.1 Cấu trúc vốn của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008-2011 Hình 2.1: Tổng nợ và Tổng tài sản bình quân giai đoạn 2008-2011 3500000.0 46% 46% Nợ phải trả 2000000.0 Tổng tài sản 44% bình quân 1000000.0 43% (Triệu đồng) 43% DA bình quân 500000.0 42% - 41% 2008 2009 2010 2011 Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thu thập trên HOSE Qua hình 2.1 ta thấy rằng các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản bình quân dưới 50% nhưng có xu hướng tăng dần từ năm 2008 đến năm 2011, đặc biệt trong năm 2011 tỷ lệ này là 48%, tức là nợ được sử dụng gần như ngang bằng với 15 vốn chủ sở hữu. Công ty cổ phần Quốc tế là công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao nhất với DA năm 2011 là 88%. Chênh lệch về tỷ lệ nợ trên tổng tài sản giữa các công ty là rất lớn: trong khi tỷ lệ nợ bình quân của 4 năm ở công ty cổ phần Công viên nước Đầm Sen chỉ là 6,9%, công ty cổ phần Thủy sản Mê Kông là 11,3% thì công ty cổ phần Quốc tế là 84,6%, công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh vật tư là 86%. Có thể nhận thấy tổng tài sản của các công ty tăng đều qua các năm nhưng nguồn gốc của tài sản tăng thêm lại có sự khác biệt.
Ví dụ như công ty cổ phần Sữa Việt Nam, tài sản tăng thêm được tài trợ chủ yếu từ vốn chủ sở hữu. So với đầu năm 2011, vốn chủ sở hữu của Công ty cuối năm 2011 tăng mạnh từ 7.477 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 56,7%. Trong khi đó nợ phải trả chỉ tăng 10,6%, từ 2.809 tỷ đồng lên 3.105 tỷ đồng và đến cuối năm 2011, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam hoàn toàn không vay ngân hàng. Vốn chủ sở hữu tiếp tục là nguồn tài trợ chính cho hoạt động của Công ty, khi chiếm đến gần 80% tổng nguồn vốn vào cuối năm 2011.