CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính kịp thời BCTC, theo trình tự thời gian, tác giả lược khảo lại một số nghiên cứu như sau: Đầu tiên là nghiên cứu của Rowland K. và cộng sự vào năm 1989 với nghiên cứu “Timeliness of financial reporting, the firm size effect, and stock price reactions to annual earnings announcements”.
Theo nghiên cứu này, tính kịp thời BCTC là mối quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng thông tin và các tác giả nhận định rằng tính hữu ích của báo cáo có thể liên quan nghịch với sự chậm trễ báo cáo (công bố BCTC chậm hơn nhưng đầy đủ thông tin hơn). Các công ty lớn thường công bố thu nhập tương đối sớm, các công ty nhỏ hơn thường công bố thu nhập trễ hơn nên. Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp hồi quy đa biến để phân tích mối quan hệ giữa tính kịp thời việc công bố thu nhập hàng năm với quy mô doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu khẳng định rằng quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều với tính kịp thời BCTC.
Một nghiên cứu của Afify vào năm 2009 với tiêu đề “Determinants of audit report lag does implementing corporate governance have any impact? Empirical evidence from Egypt”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết ba mục đích chính: thứ nhất, để xem xét về độ trễ báo cáo kiểm toán (ARL) và các yếu tố quyết định của nó; thứ hai, để đo lường mức độ ARL ở một nước đang phát triển, cụ thể là ở Ai Cập; và thứ ba, để kiểm tra thực nghiệm tác động của các đặc điểm quản trị doanh nghiệp (CG) đối với ARL ở Ai Cập. Kích thước mẫu của nghiên cứu này là 85 công ty niêm yết tại Ai Cập. Độ trễ của các báo cáo kiểm toán ở các công ty được chọn khảo sát này dao động từ 19 ngày đến 115 ngày và trung bình đạt giá trị 60 ngày.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để kiểm định mức độ tác động của các nhân tố như quy mô của hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập của hội đồng quản trị, ngành công nghiệp, loại kiểm toán và lợi nhuận kinh doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đến độ trễ của báo cáo kiểm toán.Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy , kết quả cho thấy sự tập trung quyền sở hữu, loại kiểm toán có ảnh hưởng không đáng kể đến ARL. Ba biến kiểm soát là quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và lợi nhuận kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến ARL. Một nghiên cứu khác của Ash Turel được thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2010 với tên đề tài “Timeliness of financial reporting in emerging capital market: Evidence from Turkey”. Nghiên cứu này điều tra các nhân tố thuộc về công ty và nhân tố thuộc về kiềm toán ảnh hường đến tính kịp thời BCTC của các công ty niêm yết tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Quá trình nghiên cứu được thực hiện bằng cách: trước tiên, tác giả xác định độ trễ của báo cáo và sau đó sử dụng hồi quy đa biến để phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến độ trễ của báo cáo. Mẫu của nghiên cứu là 211 công ty niêm yết ở Thổ Nhĩ Kỳ ,chiếm khoảng 66% số lượng công ty niêm yết trên thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố kiểm toán viên , loại ý kiến kiểm toán ,thu nhập và ngành công nghiệp có tác động đến tính kịp thời BCTC. Kế đến, vào năm 2011, Wafa Al-Ghanem và Mohamed đã thực hiện một nghiên cứu với tên “An Empirical Analysis of Audit Delays and Timeliness of Corporate Financial Reporting in Kuwait”.
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chậm trễ trong việc ký báo cáo kiểm toán. Chậm trễ trong báo cáo kiểm toán được tính bằng số ngày trôi qua từ cuối năm tài chính cho đến ngày báo cáo kiểm toán được ký. Nghiên cứu này tập trung vào 149 và 177 công ty niêm yết ở Kuwait trong năm 2006 và 2007. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy thời gian kiểm toán trung bình là 57 ngày cho năm 2006, và 62 ngày cho năm 2007 và chỉ duy nhất có biến quy mô của công ty là biến có tương quan nghịch với độ trễ kiểm toán cho cả hai năm 2006 và 2007.
Biến thanh khoản và tỷ lệ nợ chỉ ảnh hưởng đến độ trễ cho năm 2006, biến loại kiểm toán chỉ ảnh hưởng đến độ trễ cho năm 2007. Vào năm 2013, Mouna và J. Anis đã có nghiên cứu với tên gọi “Financial Reporting Delay and Investors Behavior: Evidence from Tunisia”. Nghiên cứu này nghiên mối quan hệ giữa độ trễ của BCTC với cấu trúc quyền sở hữu , quy mô công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 ty, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận kinh doanh của các công ty niêm yết ở Tunisia trong năm 2009.Cở mẫu nghiên cứu là 33 công ty, không bao gồm các công ty tài chính.
Sử dụng phân tích hồi quy đa biến, kết quả nghiên cứu chứng tỏ độ trễ của BCTC các công ty niêm yết tại Tunisian trung bình là 150 ngày, độ lệch chuẩn 24,51 ngày, tính kịp thời việc công bố thông tin BCTC cho công chúng bị tác dộng bởi các nhân tố là cấu trúc quyền sở hữu và lợi nhuận. Gần đây nhất là nghiên cứu của Aldaoud và Khaldoon Ahmad Mohammad vào năm 2015 với tiêu đề “The influence of corporate governance and ownership concentration on the timeliness of financial reporting in Jordan”. Nghiên cứu này nghiên cứu các cơ chế quản trị doanh nghiệp và các thuộc tính của công ty tác động đến tính kịp thời các BCTC ở các công ty niêm yết tại Jordan như thế nào.Tính kịp thời được đo bằng độ trễ báo cáo kiểm toán (ARL), độ trễ báo cáo quản lý (MRL) và tổng độ trễ báo cáo (TRL). Cở mẫu của nghiên cứu là 114 công ty niêm yết ở Amman từ năm 2009 đến năm 2012.
Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty trung bình mất hơn ba tháng để phát hành BCTC của họ. Phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra chiều hướng tác động của các nhân tố. Kết quả cho thấy sự độc lập của hội đồng quản trị, sự hiện diện của ủy ban kiểm toán, ý kiến của kiểm toán viên và quyền sở hữu liên quan đáng kể với ARL. Quy mô hội đồng quản trị, sự hiện diện của ủy ban kiểm toán, ý kiến của kiểm toán viên, quyền sở hữu có liên quan đến MRL.
Đối với mô hình TRL, kết quả cũng chỉ ra rằng tính độc lập, quy mô của hội đồng quản trị có liên quan đến tổng độ trễ báo cáo. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy lợi nhuận của công ty, đòn bẩy và loại ngành có liên quan đến kịp thời của BCTC.Các nghiên cứu công bố ở trong nước. Tính kịp thời BCTC cũng đã được một số tác giả trong nước quan tâm, tác giả lược khảo một số nghiên cứu như sau: Đầu tiên là nghiên cứu của tác giả Nguyễn An Nhiên (2013) với đề tài “Các nhân tố tác động đến tính kịp thời BCTC các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Nam” luận văn trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu này đã cung cấp thêm các nhân tố tác động đến tính kịp thời BCTC các công ty niêm ở Việt Nam, đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện tính kịp thời BCTC ở các công ty này. Mẫu nghiên cứu là 173 công ty niêm yết trong năm 2012,nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kịp thời BCTC các công ty niêm yết ở Việt Nam chịu tác động bởi các nhân tố như: loại BCTC, loại ý kiến kiểm toán, tỷ số ROE. Cũng trong năm 2013, tác giả Đặng Đình Tân đã có bài viết “Một số nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam” đăng trên Tạp Chí công nghệ Ngân hàn. Nghiên cứu này thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời BCTC và đưa ra các giải pháp góp phần cải thiện tính kịp thời BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Cở mẫu của nghiên cứu là 120 công ty niêm yết trong năm 2010 và năm 2011, kết quả nghiên cứu cho thấy tính kịp thời BCTC bị ảnh hưởng bởi loại BCTC ( riêng lẻ hay hợp nhất); loại kiểm toán ( thuộc Big 4 hay không thuộc Big 4) không ảnh hưởng đến tính kịp thời BCTC Một nghiên cứu khác được thực hiện trong năm 2015 là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phi Trinh với tên gọi “Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản trị công ty đến tính kịp thời BCTC của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” luận văn trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này trình bày những lý luận cơ bản và thực trạng về quản trị công ty đến tính kịp thời BCTC của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, xác định và đo lường các nhân tố thuộc quản trị công ty tác động đến tính kịp thời BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Các kết quả của phân tích hồi quy đa biến chứng tỏ các nhân tố: tính độc lập của hội đồng quản trị, trình độ kế toán của Ban kiểm soát, loại BCTC, loại ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng đến tính kịp thời BCTC.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Vào năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Xuân Vy cũng đã nghiên cứu về đề tài này với tên “Mối quan hệ giữa đặc trưng của doanh nghiệp và tính kịp thời việc công bố thông tin BCTC của các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam”, luận văn trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Luận văn đã xác định và phân tích sự tác động của những nhân tố như cấu trúc tài chính ,kiểm toán độc lập của doanh nghiệp đến tính kịp thời BCTC. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy số lượng công ty con,tính phức tạp trong hoạt động, khả năng sinh lời và ý kiến của kiểm toán viên có ảnh hưởng đến tính kip thời của BCTC .Nhận xét tổng quan nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu.
Nhận xét tổng quan nghiên cứu. Thông qua việc lược khảo một số nghiên cứu trước được thực hiện trong và ngoài nước có liên quan đến luận văn, có thể nói rằng chủ đề về tính kịp thời BCTC là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm.