phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sỏ lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng biện pháp quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm công cụ của đề tài 1. Cơ sở khoa học quản lý 1. Một số quan điểm về quản lý Quản lý là khái niệm có thuộc tính lịch sử, là nội tại của mọi quá trình lao động.
Nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, như K. Mack đã viết ở bộ Tư bản: “ bất cứ lao động nào có tính chất xã hội được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn đều cần đến sự quản lý ở một chừng mực nhất định. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau: a. Tiếp cận truyền thống + Tiếp cận theo kinh nghiệm thực tiễn: Cách tiếp cận này phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm, mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể.
Nó dựa trên sự tin tưởng: qua việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc sai lầm trong các trường hợp các biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý một cách hiệu quả trong hoàn cảnh tương tự. + Tiếp cận theo thuyết hành vi (hay thuyết quan hệ con người): Dựa trên ý tưởng cho rằng quản lý làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do đó việc quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do đó việc nghiên cứu nên tập trung vào mối liên hệ giữa người với người.
Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý và vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “ con người nên hiểu con người”. Học thuyết này giúp cho người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì quá chú trọng tới các chức năng của người quản lý, thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Tiếp cận theo lý thuyết quyết định: Dựa trên sự tin tưởng vào quyết định của những người quản lý, người ta chỉ cần tập trung vào việc đưa ra quyết định sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyết định, tức là lựa chọn trong số các khả năng để có thể rút ra một đường lối hành động.
Theo quan điểm này, trước hết các nhà quản lý phải ra các quyết định (quyết định cá nhân hoặc theo nhóm có tổ chức) sau đó phân tích quá trình ra quyết định. Tiếp cận theo lý thuyết hệ thống Đây là một quan điểm hiện đại, được áp dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, đặc biệt trong quản lý. Hệ thống, được hiểu là một tập hợp các bộ phận hay thành tố liên hệ tương hỗ hoặc phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên một thể thống nhất hòan chỉnh, bao gồm: + Đầu vào của hệ thống là các nguồn nhân lực, vật lực và thông tin sẽ được đưa vào quá trình chuyển đổi. + Quá trình chuyển đổi là các công nghệ được sử dụng để biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống.
+ Đầu ra của hệ thống là kết quả quá trình chuyển đổi. + Liên hệ ngược là một dạng thông tin về trạng thái và kết quả hoạt động của hệ thống. Lý thuyết hệ thống đã được nhận thấy có khả năng áp dụng vào lý thuyết và khoa học quản lý. Lý thuyết quản lý với tư cách là một hệ thống cần có những giới hạn nhằm tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, song nó vẫn là một hệ thống mở đối với môi trường.
Do đó, khi lập kế hoạch, các nhà quản lý phải tính tới các biến ngoại sinh như: thị trường, kỹ thuật công nghệ, các lực lượng xã hội, các luật lệ và những sự điều chỉnh… Như vậy, qua một vài cách tiếp cận, ta có thể nói: Quản lý, xét cho cùng là sự tác động của chủ thể quản lý vào hệ thống, trong đó chủ yếu tác động vào sự họat động của con người nhằm mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng thời cũng là mục tiêu của hệ thống. Bởi vậy, vai trò hoạt động của quản lý là rất lớn đối với tất cả các bình diện kinh tế -xã hội. Trong lao động xã hội, hay lao động chung trực tiếp trên quy mô khá lớn đều đòi hỏi pahỉ có một sự chỉ đạo ít hay nhiều để điều hòa các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung. Tức là những chức năng phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể sản xuất đó.
Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhất cần có sự quản lý. Phrêđic Uynslâu Taylor (Fredrick Winslow Taylor: 1856-1915), người Mỹ, được coi là cha đẻ của Thuyết quan lý khoa học, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý của Mỹ và các nước phương Tây. Taylor định nghĩa “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [10, Tr. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của Taylor về quản lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính: + Chú trọng cải tạo các quan hệ trong quản lý + Tiêu chuẩn hóa các công việc.
+ Chuyên môn hóa lao động + Hình thành quan niệm con người kinh tế. Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhặt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, ông đã liên kết các mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức. Đặng Vũ Hoạt và GS. Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quy trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu. Đây là hoạt 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra”. Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra các định nghĩa về quản lý, nhưng bản chất chung Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.
Với khái niệm như trên, về bản chất, quá trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ như sau: Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý Môi trường bên ngoài Lập kế hoạch Tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo 1. Cơ sở tâm lý học quản lý Bản thân mỗi một con người đều là một cá thể tâm lý nhất định. Do vậy trước mỗi một tình huống, một vấn đề thì mỗi người thường có những thái độ, phản ứng và đưa ra những nhận xét, quyết định hành động theo những cách khác nhau. Chính những ''lăng kính tâm lý'' đó đã tạo lên những bất đồng ý kiến (thường được gọi là xung đột) đôi khi là giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa cá nhân với tập thể và ngược lại.
Đặc biệt, khi có hình thức lao động mới được đưa vào một tổ chức thì hiện tượng này xảy ra là khó tránh khỏi. Nó có thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc tích cực phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột. Lúc này, vai trò của người quản lý là phải làm sao tạo được sự đồng thuận cao nhất, lôi cuốn được mọi thành viên cùng quyết tâm thực hiện để đạt 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được mục tiêu cho ý tưởng mới. Theo tài liệu bài giảng cao học chuyên đề Tâm lý học quản lý của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có tám chiến thuật gây ảnh hưởng trong tổ chức để đưa thành viên của tổ chức vào công việc.
Đó là : + Tư vấn: Lôi cuốn, khuyến khích mọi thành viên tham gia, góp ý kiến vào việc ra quyết định và biến đổi. Chiến thuật này sẽ tạo tâm lý tích cực cho các thành viên vì họ đều cảm thấy được tôn trọng, được phát huy tính dân chủ. + Thuyết phục, lôi kéo duy lý: Cố gắng thuyết phục các thành viên bằng lý lẽ, lô gíc và sự kiện. Chiến thuật này đòi hỏi người quản lý phải có tư duy sắc bén, hiểu sâu sắc vấn đề và có tài hùng biện.
+ Kêu gọi (khơi gợi) khéo léo: Cố gắng làm cho các thành viên nhiệt tình ủng hộ và tham gia bằng cách khơi gợi cảm xúc, lý tưởng, giá trị của họ. + Chiến thuật khôn khéo: Tạo cho các thành viên đạt đến trạng thái tinh thần tốt nhất, phấn chấn nhất trước khi thực hiện một yêu cầu nào đó. + Chiến thuật tạo đồng minh: Lôi cuốn sự ủng hộ, giúp đỡ của một thành viên để thuyết phục các thành viên khác. + Chiến thuật gây áp lực: Yêu cầu sự phục tùng hoặc sử dụng các biện pháp đe doạ, răn đe.
+ Chiến thuật tạo sức ép từ bên trên: Cố gắng thuyết phục các thành viên bằng cách có được sự ủng hộ từ cấp trên. +Chiến thuật trao đổi, thương thảo: Biểu hiện cam kết, hoặc hứa hẹn áp dụng các ưu đãi, cất nhắc. Các chiến thuật tâm lý nêu trên sẽ đạt được kết quả tốt đẹp nếu người quản lý hình thành liên minh chiến lược trên cơ sở: - Tạo nên sự tôn trọng lẫn nhau. - Tạo được niềm tin, uy tín.
- Tạo điều kiện cùng có lợi. - Hợp tác trên tinh thần cởi mở, chân thành.