Luận Văn Thạc Sĩ Nghiên Cứu Biến Đổi Hôn Nhân Và Gia Đình Của Người Dao Đỏ Ở Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biến đổi hôn nhân và gia đình người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

147
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ 'Biến đổi hôn nhân và gia đình người Dao Đỏ tại Bắc Kạn' tập trung vào việc phân tích sự thay đổi trong cấu trúc hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trải qua quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, tác động đến các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số, trong đó có người Dao Đỏ. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu dân tộc học, kết hợp với phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu, nhằm làm rõ những biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ từ trước và sau năm 1986.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các khía cạnh như quan niệm về hôn nhân, các nghi lễ, cấu trúc gia đình, và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh từ trước năm 1986 đến nay, nhằm so sánh sự biến đổi trong các giá trị truyền thống và hiện đại.

1.2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là tìm hiểu sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ, từ đó chỉ ra nguyên nhân và xu hướng của những thay đổi này. Nghiên cứu cũng nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Đỏ trong bối cảnh hiện đại hóa.

II. Khái quát về người Dao Đỏ và địa bàn nghiên cứu

Người Dao Đỏ là một trong những nhóm tộc người thiểu số đa dạng về văn hóa và truyền thống tại Việt Nam. Thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, là một trong những địa bàn cư trú chính của người Dao Đỏ. Địa bàn này có điều kiện tự nhiên khá biệt lập, giúp bảo tồn nhiều nét văn hóa truyền thống, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, từ sau năm 1986, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người Dao Đỏ tại đây đã có nhiều thay đổi, kéo theo sự biến đổi trong các tập quán hôn nhân và gia đình.

2.1. Đặc điểm văn hóa người Dao Đỏ

Người Dao Đỏ có nhiều nét văn hóa độc đáo, đặc biệt là trong các nghi lễ hôn nhân và cấu trúc gia đình. Truyền thống hôn nhân của người Dao Đỏ thường gắn liền với các nghi lễ phức tạp, thể hiện sự tôn trọng và bảo tồn các giá trị gia đình. Tuy nhiên, những giá trị này đang dần thay đổi dưới tác động của hiện đại hóa và giao thoa văn hóa.

2.2. Địa bàn nghiên cứu Thôn Nà Cà

Thôn Nà Cà là một địa bàn cư trú tương đối biệt lập, với gần 100% dân số là người Dao Đỏ. Điều kiện tự nhiên và xã hội tại đây đã giúp bảo tồn nhiều nét văn hóa truyền thống, nhưng cũng tạo ra những thách thức trong việc thích ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện đại.

III. Biến đổi trong hôn nhân và gia đình người Dao Đỏ

Luận văn phân tích sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà từ sau năm 1986. Những thay đổi này bao gồm sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, các nghi lễ, cấu trúc gia đình, và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Sự biến đổi này chịu ảnh hưởng lớn từ quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa, và sự giao thoa văn hóa.

3.1. Biến đổi trong hôn nhân

Quan niệm về hôn nhân của người Dao Đỏ đã có sự thay đổi đáng kể, từ việc tuân thủ các nghi lễ truyền thống đến việc chấp nhận các hình thức hôn nhân hiện đại. Các nghi lễ hôn nhân cũng được đơn giản hóa, phản ánh sự thay đổi trong lối sống và giá trị văn hóa.

3.2. Biến đổi trong cấu trúc gia đình

Cấu trúc gia đình của người Dao Đỏ đã chuyển từ mô hình gia đình truyền thống, đa thế hệ, sang mô hình gia đình hạt nhân hiện đại. Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, cũng như vai trò của từng thành viên.

IV. Nguyên nhân và xu hướng biến đổi

Luận văn chỉ ra rằng sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, bao gồm sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình hiện đại hóa, và sự giao thoa văn hóa. Những yếu tố này đã tác động đến quan niệm và thực hành hôn nhân, cũng như cấu trúc gia đình của người Dao Đỏ.

4.1. Nguyên nhân biến đổi

Nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ bao gồm sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình hiện đại hóa, và sự giao thoa văn hóa. Những yếu tố này đã làm thay đổi quan niệm và thực hành hôn nhân, cũng như cấu trúc gia đình của người Dao Đỏ.

4.2. Xu hướng biến đổi

Xu hướng biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà là sự chuyển đổi từ các giá trị truyền thống sang các giá trị hiện đại. Điều này thể hiện qua việc đơn giản hóa các nghi lễ hôn nhân, sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, và sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà xã mỹ thanh huyện bạch thông tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng: Chƣơng 1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và tộc ngƣời nghiên cứu Chƣơng 2. Một số đặc điểm hôn nhân – gia đình của ngƣời Dao Đỏ thôn Nà Cà trƣớc 1986 Chƣơng 3 Một số đặc điểm hôn nhân – gia đình của ngƣời Dao Đỏ thôn Nà Cà từ sau 1986 Chƣơng 4 Nguyên nhân và xu hƣớng của sự biến đổi 17 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU 1.1 Địa bàn nghiên cứu: Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 1.1 Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Mỹ Thanh là một xã vùng cao nằm ở phía Đông Nam của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 12km. Với diện tích 33,1 km², mật độ dân số đạt 57,8 ngƣời/km², dân số năm 2009 là 1929 ngƣời.6 Phía Đông giáp xã Côn Minh, huyện Na Rì và xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông; phía Tây giáp xã Huyền Tụng (nay là phƣờng Huyền Tụng) thành phố Bắc Kạn; phía Nam giáp với xã Xuất Hóa (nay là phƣờng Xuất Hóa), thành phố Bắc Kạn; phía Bắc giáp xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông. Mỹ Thanh có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, độ dốc lớn, nhiều khe suối.

Xã bị chia cắt bởi 2 con sông lớn đó là sông Cầu và sông Nguyên Phúc tạo thành nhiều khu, cụm dân cƣ sinh sống với nhau đã từ bao đời nay. Xã Mỹ Thanh đƣợc chia thành 9 thôn: Nà Cà, Châng, Phiêng Kham, Bản Luông 1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc, Thôm Ƣng, Cây Thị. Tài nguyên thiên nhiên: tổng diện tích đất tự nhiên của Mỹ Thanh là 3.323,59 ha; đất nông nghiệp: 3.167,38 ha chiếm 95,31%; đất phi nông nghiệp: 113,80ha chiếm 3,42%; đất chƣa sử dụng: 42,20 ha chiếm 1,27%. Về tài nguyên rừng, xã có hai loại rừng chính là rừng phòng hộ và rừng sản xuất.

Diện tích rừng tự nhiên 904,20 ha. Hiện nay diện tích đất rừng đã đƣợc giao cho các hộ gia đình quản lý.Với diện tích đất rừng sản xuất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp kết hợp. Có thể phát triển các khu rừng nguyên liệu, dƣợc liệu, cây lấy gỗ,. Xã có tổng diện tích mặt nƣớc 75,12 ha; diện tích mặt nƣớc đƣợc nhân dân sử dụng để chăn nuôi thuỷ sản là 2,24 ha.

Hiện nay, diện tích ao nuôi cá ở địa phƣơng chƣa đƣợc quan tâm đầu tƣ nên chƣa đem lại thu nhập kinh tế đáng kể cho hộ dân. 6 Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Bắc Kạn 01/04/2009 18 Về khoáng sản và các tài nguyên khác ở địa phƣơng rất hạn chế. Tuy nhiên, hiện nay, trữ lƣợng cát, sỏi trên địa bàn do hai con sông Cầu, Sông Nguyên Phúc bồi đắp hàng năm là nguồn tài nguyên đáng kể cần đƣợc quan tâm và có kế hoạch khai thác, sử dụng phù hợp. TỈNH BẮC KẠN Nà Cà Địa bàn nghiên cứu thôn Nà Cà, Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn.

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tỉnh Bắc Kạn – Huyện Bạch Thônghttp://backan.vn/bd/mapbachthong.htm) 19 Thành phần tộc người gồm có: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay. Trong đó đông nhất là đồng bào dân tộc Dao với 887 ngƣời chiếm tới 45,98 % dân số toàn xã, đại đa số là đồng bào ngƣời Dao Đỏ. Tuy nhiên trình độ dân trí và đời sống của đồng bào nhìn chung còn nhiều hạn chế. Với 100% ngƣời dân sống ở nông thôn.1 Số lượng người Dao trên địa bàn Huyện Bạch Thông (Đơn vị: người) Số dân Thị trấn, xã STT Tổng số tộc Dao (16 xã, 1 thị trấn) 1 Thị trấn Phủ Thông 1.683 30 2 Xã Phƣơng Linh 1.881 251 12 Xã Cao Sơn 829 383 13 Xã Hà Vị 1.2 Thành phần tộc người xã Mỹ Thanh (Đơn vị: người) STT Tộc người Số người 1 Kinh 144 2 Tày 775 3 Nùng 120 4 Dao 887 5 Sán Chay 3 Tổng số 1.3 Dân số chia theo tộc người, giới tính và đơn vị hành chính xã Mỹ Thanh (Đơn vị: người) Tổng Tổng số Tổng Thành thị Tổng Nông thôn Tộc số số số STT Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ người 1.002 927 1 Kinh 144 60 84 - - - 144 60 84 2 Tày 775 426 349 - - - 775 426 349 3 Nùng 120 64 56 - - - 120 64 56 4 Dao 887 459 437 - - - 887 459 437 5 Sán 3 2 1 - - - 3 2 1 Chay (Nguồn: Số liệu tổng điều tra ngày 01/4/2009,Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn) 1.2 Kinh tế Kinh tế chủ yếu của ngƣời dân xã Mỹ Thanh là sản xuất nông - lâm nghiệp.

Nằm dọc bờ sông Cầu, đất sản xuất nông nghiệp ít, lâu nay ngƣời dân xã Mỹ Thanh chủ yếu dựa vào phát triển kinh tế đồi rừng. Mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhƣng với ý chí vƣơn lên xóa đói, giảm nghèo, nhân dân xã Mỹ Thanh đã phát triển nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả từ những cây trồng nhƣ: Chít, chuối tây, ngô,… Vài nay trở lại đây, ngƣời dân trồng thêm cây khoai môn, mặc dù mới bắt đầu trồng thử nghiệm từ 2011 nhƣng cho đến nay cây khoai môn đã trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp ngƣời dân xã Mỹ Thanh nâng cao thu nhập, vƣơn lên 21 thoát nghèo. Hiện nay Mỹ Thanh có 32 ha trồng khoai môn, 36 ha dong giềng, 23 ha rau, 6 ha gừng, 28 ha chuối, 53 ha chít… Trong đó diện tích trồng khoai môn của Mỹ Thanh lớn nhất toàn huyện.7 Hai năm trở lại đây khoai môn đƣợc đánh giá là cây trồng chủ đạo, phát triển rộng khắp tại các thôn trong xã, trong đó tập trung nhiều nhất là tại các thôn Phiêng Kham, Bản Châng, Nà Cà. Hiện nay, bình quân lƣơng thực đầu ngƣời của xã đạt 549,7kg/năm.

Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm dần qua từng năm. Theo kết quả rà soát năm 2012, xã Mỹ Thanh còn 12,40% hộ nghèo. Cơ sở hạ tầng xã bƣớc đầu đƣợc quan tâm đầu tƣ xây dựng. Tuy nhiên chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.

Cùng với các địa phƣơng khác triển khai “ Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới”, Mỹ Thanh bƣớc đầu đang có đƣợc nhiều kết quả đáng khích lệ. Bắt đầu từ năm 2011, các thôn, bản, tổ chức đoàn thể xã đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân đóng góp tiền, công sức, hiến đất, cây cối hoa màu. để mở rộng và đổ bê tông đƣờng giao thông nông thôn. Năm 2011, đã có 04 thôn thực hiện đổ bê tông đƣợc, tổng chiều dài 741 m/ 76.000đ và mở mới 01 đoạn đƣờng dài khoảng 3km.

Năm 2012, lồng ghép thực hiện giữa chƣơng trình xây dựng nông thôn mới và Chƣơng trình 135, xã đã mở đƣợc tuyến đƣờng Khau Ca - Khuổi Duộc dài 1,3km, đƣợc nhân dân đồng tình ủng hộ, nhất trí hiến đất, hoa mầu. di chuyển nhà cửa, chuồng trại để mở đƣờng với tổng diện tích đất hiến là 8. Hiện nay nhân dân thôn Phiêng Kham đang thực hiện mở rộng và đổ bê tông hai tuyến đƣờng từ trung tâm thôn Phiêng Kham đi vào vùng sản xuất tập chung Khuổi Rầy và Khuổi Lòng.3 Văn hóa – xã hội Xã Mỹ Thanh hiện có 487 hộ dân với tổng dân số 2.001 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống tại 9 thôn bản: Nà Cà, Châng, Phiêng Kham, Bản Luông 1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc, Thôm Ƣng, Cây Thị. 7 Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn http://backan.vn/Pages/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung- nong-thon-moi-244/cuoc-thi-sang-tac-245/gioi-thieu-cac-tac-pham-du-thi-233/my-thanh-tuoi-dep- ccfc824b12257248.aspx 8 Cổng thông tin điện tử xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn http://bachthong.vn/subsites/Pages/45/XC3A320ME1BBB920Th-c4eca6f3b21f19f9.aspx 22 Lực lƣợng lao động dồi dào, chiếm 76,86% trên tổng dân số.

Tuy nhiên, chất lƣợng lao động còn thấp, chủ yếu là lao động chƣa qua đào tạo, không có tay nghề, trình độ không đồng đều. Đây là rào cản lớn đối với việc phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Do vậy, trong những năm tới, xã đang có kế hoạch bồi dƣỡng đào tạo nghề cho lao động, tạo ra nguồn lực góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, trên địa bàn xã có 03 trƣờng học: Trƣờng Mầm non, Trƣờng Tiểu học và Trƣờng THCS Mỹ Thanh.

Trong thời gian qua, chính quyền địa phƣơng cùng nhà trƣờng đã nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ năm học đề ra, duy trì kết quả phổ cập giáo dục mầm non đối với nhóm trẻ 5 tuổi, phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập Trung học cơ sở. Tuy nhiên về cơ sở vật chất các trƣờng học còn nhiều hạn chế điều này gây cản trở lớn đến chất lƣợng dạy và học. Chính vì vậy, cần đƣợc sự quan tâm đầu tƣ hơn nữa của các cấp lãnh đạo, các sở ban ngành để mặt bằng dân trí của ngƣời dân nơi đây đƣợc ngày một nâng cao.4 Dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo tình trạng đi học hiện nay, nhóm tuổi và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông (Đơn vị: Người) Thành thị Nông thôn Chƣa Nhóm tuổi Đang Đã thôi Đang đi Đã thôi Chƣa bao Tổng số bao giờ Tổng số đi học học học học giờ học học 5 tuổi 31 30 - 1 373 348 - 25 6-10 tuổi 100 98 1 1 1.278 ( Số liệu tổng điều tra ngày 1/4/2009 cục thống kê tỉnh Bắc Kạn) Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân địa phƣơng đƣợc quan tâm thực hiện tốt. Hiện nay, xã đang đầu tƣ xây dựng Trạm y tế, phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã.

23 Toàn xã luôn tích cực thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Phong trào văn hóa - văn nghệ - thể dục, thể thao đƣợc ngƣời dân tham gia tích cực. Các hội diễn văn nghệ thƣờng xuyên đƣợc tổ chức. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã nhìn chung luôn ổn định.9  Địa bàn thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn Thôn Nà Cà nằm ở phía Đông Nam, cách trung tâm xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông khoảng 3km.

Số hộ 56 hộ với 258 nhân khẩu. Nằm dọc bờ sông Cầu, đất sản xuất nông nghiệp ít nên đồng bào triệt để khai thác các dải đất ven các sông, suối và các thung lũng để làm ruộng nƣớc. Ngoài trồng lúa để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày ngƣời dân Nà Cà chủ yếu dựa vào phát triển kinh tế rừng. Cũng giống với các nhóm Dao khác, đồng bào Dao Đỏ có truyền thống làm nƣơng rẫy.

Đất làm nƣơng thƣờng đƣợc chọn ở những khu rừng già, những loại đất này thƣờng có độ phì cao nên cho năng suất cây trồng cao hơn các loại nƣơng khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ: Biến đổi hôn nhân và gia đình người Dao Đỏ tại Bắc Kạn là một nghiên cứu chuyên sâu về sự thay đổi trong cấu trúc hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ ở tỉnh Bắc Kạn. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế tác động đến sự biến đổi này, đồng thời phân tích những thách thức và cơ hội mà cộng đồng này đang đối mặt. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong đời sống của người Dao Đỏ, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân tộc.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hôn nhân hiện nay của người Pa Dí ở thôn Cốc Ngù, xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cũng tập trung vào sự biến đổi hôn nhân trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang cung cấp góc nhìn về bảo tồn văn hóa, một chủ đề liên quan mật thiết đến nghiên cứu này. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ lịch sử Việt Nam: Giao lưu văn hóa Việt - Chăm ở Bình Dương (1997-2016) là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về sự tương tác văn hóa giữa các dân tộc.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết của mình về văn hóa và xã hội các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.