Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Một số biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội Chương 3: Những yếu tố ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Dân số là lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như địa lý học, sinh học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học.Đặc biệt trong những năm trở lại đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội trong đó không thể không nói đến dân số. Rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến dân số đã xuất hiện với nhiều chiều hướng nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau. Đề tài “Nghiên cứu một số đặc trưng chất lượng dân số của một vài vùng dân cư miền Bắc Việt Nam” (Năm 2000) do PGS.TS Nguyễn Văn Yên, khoa Sinh Học, Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội chủ nhiệm, nghiên cứu ở 6 xã thuộc 2 huyện Đông Hưng và Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bằng những phương pháp thường được sử dụng trong cả Nhân học, Y học, Môi trường và Xã hội học.đề tài đã mô tả rõ thực trạng chất lượng dân số của địa bàn nghiên cứu qua các chỉ số về văn hóa xã hội, môi trường, bệnh tật qua đó nhấn mạnh cần mở rộng triển khai các chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình với công tác vệ sinh môi trường, lồng ghép các chương trình này với phát triển kinh tế xã hội.
Từ đó nghiên cứu khẳng định đây chính là nhân tố quan trọng, làm tốt công tác này chính là nhân tố quan trọng cho việc nâng cao chất lượng dân số. Luận án Tiến Sỹ Kinh Tế của Bùi Minh Tiệp (năm 2012) về “tác động của biến đổi cơ cấu dân số tuổi đến tăng trưởng kinh tế”. Luận án đã hệ thống hóa các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế ở các nước trên thế giới. Từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Qua phân tích tình hình dân số Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của nó đến tăng trưởng kinh 8 tế, luận án đã chỉ rõ, đây mới là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Quan điểm này là một bước tiến mới so với các nghiên cứu trước kia, thường tập trung phân tích quy mô dân số. Luận án cũng chỉ rõ giai đoạn nào của biến đổi cơ cấu tuổi dân số ở Việt Nam tác động tích cực hay tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (thúc đẩy/ kìm hãm thu nhập bình quân đầu người), từ đó có hướng chuẩn bị cho giai đoạn tới. Bên cạnh đó, bằng kết quả phân tích định lượng và phương pháp hợp lý hóa khoa học, luận án đã xây dựng mô hình và ước lượng tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam.
Nghiên cứu giúp các nhà làm chính sách có cách nhìn rõ hơn và tận dụng tốt cơ hội dân số và giải quyết hiệu quả một các thách thức góp phần tăng trưởng kinh tế và chuẩn bị cho thời kỳ dân số già. Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình, đề tài nghiên cứu dưới các góc độ khác liên quan tới dân số như giáo dục, y tế và môi trường. Dƣới góc độ xã hội đã có một số nghiên cứu về dân số và các mối quan hệ nhƣ: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia “ Kiến tạo để đánh giá nhanh chất lượng dân số cộng đồng nông thôn” lấy ví dụ ở Nam Định, Thái Bình, Quảng Ngãi (mỗi tỉnh 1 xã), thực hiện trong 2 năm 2001 -2003 do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa trưởng khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ nhiệm. Bằng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp với phân tích tài liệu, nhóm nghiên cứu đề tài đã phân tích hệ thống chất lượng dân số nông thôn Việt Nam hiện nay, kiến tạo chỉ số PQI và bộ chỉ thị đơn, áp dụng chỉ số PQI để đánh giá nhanh chất lượng dân số và tìm giải pháp cải thiện dân số tại các xã địa bàn nghiên cứu.
Qua cách tính của chỉ số PQI trong nghiên cứu có thể áp dụng đánh giá nhanh chất lượng dân số trên một thôn, xã, huyện hay một tỉnh thành hoặc cả nước. Từ đó có thể lập nên 9 một bản đồ bằng phương pháp GIS để đánh giá xã/huyện nào chỉ số chất lượng dân số còn thấp, thấp ở mặt nào: thể lực, trí lực, văn hóa tinh thần hay môi trường.Từ đó chúng ta có kế hoạch tổng thể để đầu tư theo vùng, tỉnh hoặc huyện nhằm nâng cao chất lượng dân số ở những xã còn thấp. Luận án Tiến Sĩ của Đặng Xuân Thao, (năm 2000) viện xã hội học “về mối quan hệ giữa dân số việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Nghiên cứu đã phân tích, chứng minh làm rõ mối quan hệ tương tác giữa dân số việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa qua các số liệu điều tra, khảo sát, so sánh vi mô và vĩ mô tìm ra quy luật chung và những phát hiện đặc thù.
Tình trạng quá tải dân số sẽ dẫn đến thất nghiệp, việc làm và nghèo đói. Ngược lại, khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển tạo ra nhiều việc làm, lại thiếu lao động đặc biệt là lao động có chất lượng cao. Nghiên cứu là cơ sở giúp các nhà quy hoạch nắm rõ để đề ra những chính sách dân số, giải pháp việc làm phù hợp cho từng giai đoạn, từng vùng miền cụ thể. Luận văn thạc sỹ xã hội học của Lê Thanh Hồng (2008) với đề tài “ các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số của đô thị Hà Nội” luận văn nghiên cứu 11 yếu tố kinh tế xã hội tác động đến chất lượng dân số đô thị ở Hà Nội: thu nhập và phân phối thu nhập; lao động và việc làm; giao thông liên lạc; sức khỏe; giáo dục; nhà ở; môi trường; cuộc sống và gia đình; sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ; trật tự an toàn công cộng; văn hóa và giải trí…qua đó nhận thức rõ yếu tố nào tác động trực tiếp, yếu tố nào tác động gián tiếp đến chất lượng dân số từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền và sự hoạt động có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể; thực hiện các giải pháp về tăng trưởng kinh tế, nâng cao chỉ số GDP, tạo điều kiện vật chất để nâng cao các tiêu chí khác trong chỉ số phát triển nguồn nhân lực; nâng cao các chỉ tiêu 10 phát triển phúc lợi xã hội cho người dân; tăng cường giáo dục đào tạo và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện tốt chính sách dân số… nhằm nâng cao chất lượng dân số đô thị thành phố Hà Nội.
Luận văn Thạc sỹ Xã hội học của Đỗ Thị Thanh Hương (2012) về “ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số dân tộc Pà Thẻn, Huyện Quảng Bình, Tỉnh Hà Giang”. Bằng phương pháp phân tích tài liệu của dự án “Nghiên cứu đánh gia, xây dưng mô hình can thiệp nâng cao chất lượng dân số một số dân tộc có số dân dưới 10.000 người” và các phương pháp nghiên cứu xã hội học khác đề tài đã mô tả chất lượng dân số dân tộc Pà Thẻn qua các chỉ báo về thể chất, trí tuệ và tinh thần và cơ cấu dân số. Qua đó khẳng định chính sách xã hội, cụ thể là cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản (dân số, y tế, giáo dục) và phát triển kinh tế là các yếu tố quan trọng, tác động quyết định đến chất lượng dân số dân tộc. Vì vậy, các ngành chức năng cần đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật hỗ trợ để nâng cao chất lượng dân số cho người dân trong vùng.
Nhìn chung, các nghiên cứu về dân số đã có đều đi sâu vào một góc độ nào đó của dân số như: dân số với tăng trưởng kinh tế, chất lượng dân số, dân số giáo dục. chưa có một nghiên cứu nào mô tả một bức tranh khái quát về dân số và phân tích theo chiều ngược lại, là tại sao dân số thời kỳ này lại như vậy, yếu tố nào chi phối xu hướng phát triển dân số thời điểm đó.để tìm ra những ảnh hưởng của bức tranh dân số tại thời điểm đó đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ đó có cái nhìn hai chiều trong việc quy hoạch phát triển dân số và kinh tế xã hội phù hợp. Xuất phát từ ý nghĩa trên luận văn chọn hướng nghiên cứu về Biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa.Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm dân số Theo PGS.TS Vũ Thị Thuyền & TS. Lưu Bích Ngọc trong tài liệu dân số học, viện dân số và các vấn đề xã hội: Dân số là dân cư được xem xét , nghiên cứu ở góc độ: quy mô, cơ cấu và chất lượng. Quy mô, cơ cấu dân số trên một lãnh thổ không ngừng biến động do có người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có ng ười di cư đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi này sang nhóm tuổi khác. Như vậy, nói đến dân số là nói đến quy mô, cơ cấu , chất lượng và những yếu tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết và di cư.
Vì vậy, dân số thường được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh lẫn trạng thái động.