Luận văn thạc sĩ báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước khảo sát báo đầu tư báo tuổi trẻ tphcm thời báo kinh tế sài gòn tạp chí tài chính doanh nghiệp từ tháng 8 2012 tháng 8 2013

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước khảo sát báo đầu tư báo tuổi trẻ tphcm thời, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Báo chí học

Tác giả

Hà Khắc Minh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

161
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào vai trò của báo chí trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát bốn tờ báo: Báo Đầu tư, Báo Tuổi trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2013. Tái cơ cấu DNNN là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế nhà nước. Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giám sát và phản biện quá trình này.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, DNNN còn nhiều yếu kém như hiệu quả kinh tế thấp, sức cạnh tranh yếu, và tình trạng thất thoát vốn. Tái cơ cấu DNNN được xem là yêu cầu cấp thiết để cải thiện tình hình. Báo chí, với vai trò giám sát và phản biện, cần đẩy mạnh thông tin về quá trình này để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là phân tích và đánh giá thực trạng thông tin về tái cơ cấu DNNN trên bốn tờ báo được khảo sát. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền của báo chí, góp phần thực hiện thành công chủ trương tái cơ cấu DNNN.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, và hệ thống lý luận báo chí truyền thông. Nghiên cứu cũng tham khảo các chính sách của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu DNNN, cũng như các văn bản pháp luật liên quan. Báo chí được xem là công cụ quan trọng trong việc tuyên truyền, giám sát và phản biện các chính sách kinh tế.

2.1. Vai trò của báo chí trong tái cơ cấu DNNN

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc phản ánh thực trạng, giám sát quá trình tái cơ cấu DNNN, và đưa ra các ý kiến phản biện. Thông qua các bài viết, báo chí giúp nâng cao nhận thức của công chúng về sự cần thiết và lợi ích của quá trình này.

2.2. Thực tiễn tái cơ cấu DNNN

Quá trình tái cơ cấu DNNN gặp nhiều thách thức như hiệu quả kinh tế thấp, thất thoát vốn, và sự chậm trễ trong việc thực hiện các chính sách. Báo chí đã phản ánh những vấn đề này, đồng thời đưa ra các giải pháp và kiến nghị để cải thiện tình hình.

III. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Các phương pháp chính bao gồm phân tích nội dung, so sánh, và đối chiếu thông tin từ bốn tờ báo được khảo sát. Nghiên cứu cũng tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia, và phóng viên để có cái nhìn toàn diện về vấn đề.

3.1. Phương pháp phân tích nội dung

Phương pháp này được sử dụng để phân tích các bài viết về tái cơ cấu DNNN trên bốn tờ báo. Nghiên cứu tập trung vào nội dung, hình thức, và cách thức tổ chức thông tin để đánh giá hiệu quả tuyên truyền của báo chí.

3.2. Phương pháp so sánh và đối chiếu

Nghiên cứu so sánh cách thức phản ánh thông tin về tái cơ cấu DNNN giữa các tờ báo. Qua đó, đánh giá sự khác biệt trong cách tiếp cận và hiệu quả tuyên truyền của từng tờ báo.

IV. Kết quả nghiên cứu và đánh giá

Kết quả nghiên cứu cho thấy báo chí đã phản ánh khá đầy đủ về quá trình tái cơ cấu DNNN. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như thiếu thông tin chi tiết, phản ánh mặt trái nhiều hơn mặt ưu điểm, và thiếu sự hấp dẫn trong cách trình bày. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí.

4.1. Thực trạng thông tin trên báo chí

Các tờ báo đã phản ánh khá đầy đủ về quá trình tái cơ cấu DNNN, từ những bất cập trong cơ chế chính sách đến các sai phạm trong quản lý. Tuy nhiên, thông tin thường tập trung vào mặt trái, trong khi các mặt ưu điểm và thành tựu lại ít được đề cập.

4.2. Đề xuất giải pháp

Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, báo chí cần cung cấp thông tin chi tiết và cân bằng hơn về quá trình tái cơ cấu DNNN. Các bài viết cần được trình bày một cách hấp dẫn và dễ hiểu để thu hút sự quan tâm của công chúng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước khảo sát báo đầu tư báo tuổi trẻ tphcm thời báo kinh tế sài gòn tạp chí tài chính doanh nghiệp từ tháng 8 2012 tháng 8 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về báo chí và vai trò báo chí với TCC DNNN Nội dung chương này giải quyết các vấn đề lý luận về TCC DNNN nói chung, một số quan điểm định hướng của Đảng, Nhà nước về vấn đề TCC DNNN và vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vai trò của báo chí với vấn đề TCC DNNN. Chƣơng 2: Thực trạng thông tin báo chí về TCC DNNN Chương này trình bày toàn bộ số liệu khảo sát cũng như thuyết minh kết quả khảo sát về nội dung và hình thức chuyển tải thông tin về TCC DNNN trên 04 tờ báo được khảo sát. Đây là những dữ liệu quan trọng để đánh giá ưu nhược điểm và tìm ra giải pháp cho vấn đề. Chƣơng 3: Kiến nghị một số giải pháp nâng cao vai trò của báo chí về TCC DNNN Trên cơ sở dữ liệu ở chương 2, chương 3 đã tiến hành đánh giá điểm mạnh và những điểm còn hạn chế của công tác thông tin tuyên truyền về TCC DNNN trên 04 báo.

Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin về TCC DNNN thời gian tới. CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VÀ VAI TRÒ BÁO CHÍ VỚI TCC DNNN 11 1. Báo chí, thông tin báo chí và sự giám sát phản biện của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm báo chí và thông tin báo chí Theo giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của các tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng vào có khả năng quyết định, tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng.

Báo chí là một hiện tượng đặc biệt phổ biến tác động từng ngày, từng giờ vào xã hội. Quy mô phạm vi, hình thức hoạt động của báo chí ngày càng mở rộng, thu hút sự quan tâm chú ý của đại bộ phận xã hội, trở thành một phương tiện có sức mạnh được sử dụng vào các mục đích rất khác nhau như: nhân đạo, kinh doanh, kinh tế, chính trị và quân sự, không có một đảng chính trị, một tổ chức lực lượng kinh tế xã hội nào không sử dụng báo chí như một phương tiện thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình. Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng. Báo chí đã và đang đóng góp hết sức to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng. Báo chí là loại hình hoạt động thông tin mang tính chính trị - xã hội. Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ tiếng Latinh informetio, gốc của từ tiếng Anh information. Hai ông Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “bùng nổ truyền thông” giải thích rằng: Khái niệm này có liên quan đến nét đặt trưng Roma, biểu hiện sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt.

Nó có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng “forme”, thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự 12 truyền đạt kiến thức và truyền đạt, đây là tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latinh. Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức. Hiện nay, khi khoa học và công nghệ phát triển đến trình độ cao, trong các lĩnh vực khoa học, thuật ngữ “thông tin” cũng có những cách hiểu khác nhau khi sử dụng đến nó.

Trong báo chí được dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả, câu chuyện kể, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại. Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách hiểu: Một là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống. Hai là sự loan báo cho mọi người biết. Theo cách hiểu thứ nhất, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh tế - chính trị…).

Đây chính là đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung. Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh. Như vậy, thì thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo). Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình.

Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng. Nó là “dụng cụ làm việc” của nhà báo, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc đa dạng và quan trọng được thực hiện. Có thể coi những công việc của báo chí như một hệ thống xã hội đặc biệt. Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụng khác nhau.

Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó để biểu thị tính chất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin văn hay tin ngắn). Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn… Nhiều khi một tin ngắn cũng được gọi là “thông tin”. Nhưng bất cứ tác phẩm báo chí nào (tin vắn, phim tài liệu, tin của đài phát thanh…) cũng đều chứa đựng thông tin. Tóm lại, “thông tin” là cách gọi truyền 13 thống trong nghề báo, theo nghĩa chính xác nhất của từ này thì đó là “thông tin sự kiện”.

Ngoài ta, trên báo, trong chương trình phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình còn có “thông tin lý luận”, “thông tin giải thích”, “thông tin nghệ thuật” v.v… [45] Thuật ngữ “thông tin” còn có cách hiểu rộng hơn. Để hiểu thuật ngữ này một cách đầy đủ, đòi hỏi phải xem xét từ sự ứng dụng riêng biệt. Chúng ta có thể gọi “toàn bộ các tác phẩm”, hay “hệ thống những tin tức”… là thông tin. Như vậy, thuật ngữ “thông tin” nhiều khi còn được hiểu như một danh từ tập hợp.

Khi xem xét khái niệm thông tin trong hệ thống khái niệm của lí luận báo chí thì cách hiểu như vậy không phù hợp, vì ý nghĩa riêng của thuật ngữ “thông tin” thường được sử dụng theo thói quen hay theo kinh nghiệm. Ví dụ, khi nghe đài hay đọc báo mà người đọc không thu nhận được điều gì mới mẻ, họ sẽ nói: “tác phẩm nghèo thông tin” thậm chí là “không có thông tin”. Điều này dường như vô lý. Nhiệm vụ của báo chí là mang thông tin đến cho công chúng nhưng tại sao họ lại không tìm thấy chúng trong tác phẩm? Thế nhưng đây là điều có thật khi thông tin không phản ánh được thực tế cuộc sống, không thỏa mãn nhu cầu của công chúng.

Ở dạng hoàn chỉnh, khái niệm thông tin chứa đựng nội dung rất phong phú; nó có quan hệ trực tiếp đến chức năng và hiệu quả của công tác báo chí, đến “nguyên tắc” cung cấp thông tin, đến những yêu cầu nghiệp vụ báo chí và những nguyên tắc tác động lẫn nhau của các mặt nói trên. Khái niệm “thông tin” là nền tảng của công tác báo chí, cho nên khi nghiên cứu lí luận báo chí cần chú ý đến ý nghĩa của thuật ngữ này. Nhận thức về thông tin phát triển song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí. Muốn có sự nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động thực tiễn của một nền báo chí.

Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thực hiện chức năng của báo chí. Một hướng quan trọng trong 14 cách tiếp cận thông tin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng. Tác phẩm báo chí (trong lí luận về thông tin thường dùng thuật ngữ “bài báo”) là điểm trung gian (cầu nối) của hệ thống Nhà báo – Tác phẩm – Công chúng. Tác phẩm (bài báo, chương trình phát thanh hay truyền hình) do nhà báo chuẩn bị và được in trên báo hay phát sóng.

Đối với công chúng, tác phẩm báo chí mới chỉ thể hiện qua chất lượng của thông tin tiềm năng. Bởi vì những thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận. Có nhiều tác phẩm (bài báo) giữ vai trò là “cầu nối”, phục vụ cho việc trao đổi thông tin giữa nhà báo và công chúng, nhưng công chúng không tiếp nhận, mặc dù tác phẩm (hay chương trình) đã được đăng báo hay phát sóng. Hiện tượng đó diễn ra khi công chúng không đọc báo, không xem truyền hình hay không nghe đài (có nhiều lý do dẫn đến hiện tượng này, chẳng hạn như kỹ thuật in kém, sóng truyền hình yếu v.v… nhưng quan trọng hơn cả mà người làm báo cần chú ý là bài viết, hay chương trình phát thanh, truyền hình… không hấp dẫn được người đọc, người xem, người nghe).

Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo – tác phẩm – công chúng bị phá vỡ. Điều đó dẫn đến tình trạng là không có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực. Thông tin hiện thực là thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là “người nhận thứ hai” (nghe người đã từng nghe, xem, đọc kể lại). Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm và chương trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ báo chí về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Khảo sát báo Đầu tư, Tuổi trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp (8/2012 - 8/2013) là một nghiên cứu chuyên sâu về quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, thông qua việc phân tích các bài viết từ các tờ báo uy tín như Đầu tư, Tuổi trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách và thực tiễn tái cơ cấu mà còn đánh giá vai trò của báo chí trong việc phản ánh và định hướng dư luận về vấn đề này. Độc giả sẽ được tiếp cận với những phân tích chi tiết, giúp hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề này, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về thành lập chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100 vốn điều lệ và thực tiễn thực hiện tại việt nam để hiểu sâu hơn về khía cạnh pháp lý. Bên cạnh đó, Luận văn đổi mới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở thành phố đà nẵng sẽ mang đến góc nhìn thực tiễn về quá trình đổi mới. Cuối cùng, Đề tài khoa học cấp cơ sở hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý tài sản nhà nước trong tập đoàn kinh tế nhà nước sẽ bổ sung thêm kiến thức về quản lý tài sản nhà nước. Mỗi tài liệu là một cánh cửa mở ra những hiểu biết sâu rộng hơn về chủ đề này.