đặt vấn đề theo kiểu chia ra hai khâu riêng biệt như trên chỉ tồn tại trong cơ chế ké hoạch hóa tập trung, hoạt động kinh doanh của các DNTM chỉ thuần túy là mua hàng vào và tìm cách dể bán sổ lượng hàng hóa đó. Thực té là nhiều DNTM trước đây đã tổ chức kinh doanh theo kiểu phân chia thành hai bộ phận riêng biệt là bộ phận mua hàng và bộ phận bán hàng. Điều dó dẫn đến sự chia cắt trong tư duy về kinh doanh thương mại cũng như sự thiếu đồng bộ và nhịp nhàng trong hoạt động kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, khái niệm hoạt động kinh doanh thương mại trỏ nên rộng hơn rất nhiều, đó là cả một quá trình liên tục từ nghiên cứu nhu cầu của thị trường và tìm cách để đáp ứng các nhu cầu đó, thông - Trang 15 - - Luận án Thạc sĩ khoa học kinh tế - qua việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng dể đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, tư tưỏng kinh doanh trong cơ ché thị trường là tư tưỏng hướng ngoại, tức là phải thỏa mãn nhu cầu của thị trường, ngược lại với tư tưỏng kinh doanh trong cơ chế ké hoạch hóa tập trung là tư tưỏng hướng nội. Theo đó, hoạt động kinh doanh thương mại trong cơ chế thị trường là một quá trình liên tục, logic và nhịp nhàng, doanh nghiệp thương mại phải trả lời đồng thời được các câu hỏi: Mua cái gì ?, bán cho ai?, số lượng bao nhiêu?, chất lượng như thể nào?, tổ chức mua bán ra sao? trước khi tiến hành thực hiện một thương vụ cụ thể. Hoạt động nghiên cứu thị trường để xác định và thỏa mãn nhu cầu của nó được gọi là hoạt dộng marketing. Marketing là khái niệm riêng có của nền kinh tể thị trường và mọi nỗ lực của nó đều hướng tới người tiêu dùng, vì chính họ là người phán xét cuối cùng về sự thành công hay thát bại của doanh nghiệp.
Với cách nhìn nhận mổi này thì các hoạt động mua hàng và bán hàng chỉ là các hoạt động nghiệp vụ cụ thể nằm trong một quá trình liên tục của hoạt động kinh doanh thương mại. Có hai phương pháp nghiên cứu thị trường đó là nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Các doanh nghiệp thương mại hiện nay thường sử dụng kết hợp cả hai phương pháp này tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể.
b) Lựa chọn mặt hàng, ngành hàng kinh doanh: Đổi tượng của kinh doanh thương mại là hàng hóa và các dịch vụ trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, vì vậy nghiên cứu và lựa chọn mặt hàng ngành hàng kinh doanh là khâu quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các DNTM. Mặt hàng, ngành hcàng kinh doanh phải mang tính chiến lược và lâu dài. - Trang 16 - - Luận àn Thạc sĩ khoa học kinh tế - Cơ sỏ để lựa chọn mặt hàng, ngành hàng kinh doanh là nhu cầu của thị trường về hcàng hóa, dịch vụ, khả năng của nguồn hàng có thể cung ứng cho thị trường. Theo CỊuan diêm kinh doanh hiện dại thi viẹc xac định nhu cầu của thị trường về hàng hóa và dịch vụ là khâu quan trọng và được quan tâm trước tiên, điều dó có nghĩa là việc tìm thị trường đầu ra được chú trọng hơn.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhu cầu của thị trường phải được dựa trên cơ sỏ khả năng khai thác và cung ứng các loại hàng hóa, dịch vụ đó. Để tổ chức hoạt động kinh doanh được tốt, việc nghiên cứu để lựa chọn mặt hàng kinh doanh phải được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau: mặt kỹ thuật, mặt kinh té, mặt xã hội,. của sản phẩm. Trong quá trình kinh doanh, việc lựa chọn mặt hàng, ngành hàng kinh doanh không phải chỉ được tiến hành một lần mà ngược lại, doanh nghiệp phải luôn luôn nghiên cứu sự thay đổi và phát triển của nhu cầu thị trường nhằm tìm kiếm những mặt hàng, ngành hàng mđi và tiên tiến hơn.
c) Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh: Các nguồn lực quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là vốn và con người. vón kinh doanh bao gồm vốn hữu hình như: tiền, nhà cửa, kho tàng cửa hàng. và vốn vô hình như: nhãn hiệu, tên tuôi, uy tín của doanh nghiệp,. về nhân tó con người thì đây là nguồn lực vô cùng quan trọng cửa doanh nghiệp, con người đề cập ỏ đây lcà tài năng, kinh nghiệm, đạo đức, tâm huyết.
gắn liền với con người cụ thể đó. Như vậy con người vừa là yếu tó hữu hình, vừa là yểu tố vô hình, do đó việc bó trí, sắp xép, đề bạt khuyến khích,. đổi với đội ngũ cán bộ nhân viên là một việc làm không dễ dàng, nó đòi hỏi sự linh động, nhạy cảm và đầu óc khoa học của lãnh dạo doanh nghiệp và các bộ phận tham mưu. - Trang 17 - - Luận án Thạc sĩ khoa học kinh tế - Các nguồn lực của doanh nghiệp lcà có giới hạn, tuy nhiên vổi cách thức két hợp khác nhau thì các nguồn lực đó sẽ tạo ra sức mạnh khác nhau cho doanh nghiệp.
d) Tổ chức và thực hiện các hoại động nghiệp vụ kinh doanh cụ thể: Đây là nhung hoạt động nghiệp vụ cụ thể nhằm đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, tốc độ lưu chuyển hàng hóa nhanh hay chậm phụ thuộc vào trình độ tổ chức và thực hiện các hoạt động nói trên. Việc tổ chức và thực hiện các hoạt động này phải phủ hợp với từng mặt hàng, từng thương vụ cụ thể , nó bao gồm: đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức kênh mua hàng, kênh bán hàng, dự trử, bảo quản, phân loại, đóng gói, vận chuyển hàng hóa, các hình thức khuyến mại, các hoạt động sau bán hàng,. Trong đó việc lựa chọn, tổ chức kênh mua hàng và kênh bán hàng là rất quan trọng đói với các DNTM.
Căn cứ đặc điểm, tính chất của từng mặt hàng kinh doanh, căn cứ nhu cầu của thị trường và điều kiện hiện có của doanh nghiệp mà tổ chức thiét lập các kênh mua, bán hàng hợp lý. Tất cả các hoạt động nói trên phải được phổi hợp nhịp nhàng và khoa học, nó có tác dụng vừa thúc đẩy tóc độ lưu chuyển hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh doanh vừa nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, tạo diều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, mỏ rộng hoạt động kinh doanh, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp. e) Quản trị vốn, phí, hàng hóa và nhăn sự trong hoạt dộng kinh doanh : Quản trị là hoạt động không thể thiếu được đói vđi mọi tổ chức. Tổ chức có qui mô càng lớn thì vai trò của quản trị càng quan trọng.
- Trang 18 - - Luận án Thạc sĩ khon học kinh tế - Quản trị là việc tổ chức và quản lý một cách hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản trị còn được định nghĩa như là "nghệ thuật làm việc bằng và thông qua người khác" hay là "ra các quyêt đinh" ,. Vốn, phí, hàng hóa và nhân sự là những đối tượng cơ bản của quản trị doanh nghiệp thương mại. Vốn kinh doanh của DNTM là thể hiện bằng tiền của tài sản lưu động và tài sản có định, của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Quản trị vón là thực hiện sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh một cách hợp lý nhất, luôn kiểm tra, giám sát sự lưu chuyển của đồng vón trong quá trình hoạt dộng kinh doanh, đánh giá được kết quả sử dụng vốn một cách thường xuyên nhằm đũa ra những quyết định đúng đắn và hợp \ý hơn để tăng hiệu quả sử dụng vốn. Chi phí kinh doanh là các khoản chi phí hao tổn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh như chi phí quản lý, chi phí mua bán hàng hóa, chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo,. Quản trị chi phí là nhằm mục đích đảm bảo cho các khocản chi phí phải đúng với mục đích kinh doanh, chi phí phải mang lại được khoản thu lớn hơn, hạn chế các khoản chi phí không cần thiết và kém hiệu quả. Theo quan điểm của nhiều nhà quản trị kinh doanh hiện nay thì việc chi tiêu cũng là một nghệ thuật.
Các doanh nghiệp có chi phí thấp chưa hắn là có lợi nhuận cao mà vấn đề là phải biết và dám bỏ ra các khoản chi phí để thu lại các khoản thu lớn hơn. Một đói tượng quan trọng khác của quản trị DNTM là hàng hóa, đó là một đối tượng hữu hình và rất cụ thể. Để tổ chức hoạt động kinh doanh được tốt thì các nhà quản trị phải có một sự hiểu biết nhất định về mặt hàng kinh doanh như: đặc điểm vật lý, công dụng, tính thòi vụ, cách sử dụng diều khiển,. Có như vậy mới có thể tổ chức tót hệ thống kênh phân phối, phương thức giao nhận, vận chuyển, bảo quản, lắp đặt, - Trang 19 - - Luận án Thạc sĩ khoa học kinh tế - hướng dẫn sử dựng và các dịch vụ khác phục vụ khách hàng.
Điều dó yêu cầu cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về kỹ thuật, công nghệ thông qua các hình thức dào tạo, tập huấn, khảo sát thực té,. Nhũng phức tạp hơn cả vẫn là quản trị nhân sự, vì đói tượng của nó là là con người có suy nghĩ, tình cảm và lý trí. Quản trị nhân sự cũng như các hoạt động quản trị khác là hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm tra cán bộ. Tuy nhiên nhà quản trị nhân sự phải là người tinh tế và nhạy cảm, có như vậy mới sắp xếp, bố trí cán bộ đúng người, đúng việc, có phương pháp để phát huy tiềm năng của mỗi người, đồng thời kết hợp được sức mạnh của tập thể nhằm vào mục tiêu chung của doanh nghiệp.
g) Tổ chức hoạt dộng kinh doanh phù hợp với các dường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt đổng thời các nhiệm vụ kinh tê. chính trị và xã hội: Đây là nội dung hoạt động dặc biệt và bao trùm lên mọi hoạt động khác của DNNN nói chung và DNTMNN nói riêng xuất phát từ vai trò của hệ thống DNNN trong nền kinh tể quốc dân.