ĐẶT VẤN ĐỀ Trà hoa vàng (Camelia inusitata Orel, Curry & Luu), thuộc chi Camelia L., họ Chè Theaceae (còn có tên gọi khác là Trà cành dẹt, Trà mi cành dẹt, Tra mi hoa trắng). Trà hoa vàng là loài thực vật thƣờng xanh quanh năm, cây gỗ nhỏ. Trà hoa vàng là một trong 2 loài mới đƣợc ghi nhận vào năm 2012. Đây là loài đặc hữu của tỉnh Lâm đồng, loài không chỉ có giá trị cao về mặt kinh tế, dƣợc liệu mà còn có giá trị hết sức đặc biệt về góc độ bảo tồn.
Trà hoa vàng đƣợc ghi nhận phân bố tự nhiên trong kiểu phụ rừng lùn trên núi cao thuộc kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới ở một số khu vực tại VQG Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng và một phần diện tích giáp ranh của công ty lâm sản Khánh Hòa , tỉnh Khánh Hòa. Do mới đƣợc phát hiện, và là loài có giá trị cao về dƣợc liệu, kinh tế, là loài phân bố hẹp, môi trƣờng sinh sống của loài này trong thời gian vừa qua đã phải chịu những tác động tiêu cực của các hoạt động ở địa phƣơng, dẫn đến quần thể Trà hoa vàng có xu hƣớng thu hẹp và suy thoái. Nhận định đƣợc vấn đề này, chính quyền địa phƣơng, nhất là VQG Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng cùng các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà lâm sinh hết sức quan tâm, đã có những chủ trƣơng trong việc bảo vệ, bảo tồn, khôi phục và phát triển, nghiên cứu tiềm năng của loài. Tuy nhiên, do mới đƣợc phát hiện, cho nên các thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái, cấu trúc của loài hiện nay còn rất ít thông tin.
Quy luật phát sinh, phát triển, diễn thế của loài trong tự nhiên còn chƣa đƣợc nghiên cứu. Trƣớc tình hình thực tế yêu cầu về thông tin, bƣớc đâu xây dựng cơ sở dữ liệu của loài làm căn cứ cho việc tiệp tục nghiên cứu, tìm giải pháp nuôi dƣỡng, phục hồi, phát triển bền vững cũng nhƣ khai thác sử dụng loài. Cho nên công tác tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm sinh thái học của loài, nhất là xem xét các ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng sinh thái đến quy luật đó, đặc điểm sinh học, sinh thái ấy là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa cao cả về lý luận và thực tiễn. Chính do vậy, việc kế thừa các thông tin, kết quả nghiên cứu trƣớc đây về Trà hoa vàng, tiếp tục đi sâu làm rõ những quy luật phát sinh, phát triển, các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài dƣới tác động ảnh hƣởng của các yếu tố sinh thái là thực sự có ý nghĩa.
Đó cũng là lý do đề tài luận văn: "Ảnh hƣởng của các nhân tố sinh thái đến quần thể 1 c Trà hoa vàng (Camellia inusitata Orel, Curry & Luu), trong kiểu phụ rừng lùn trên núi, tại Vƣờn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng" đƣợc đạt ra. 2 c Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về đặc điểm lâm học, cấu trúc rừng 1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một hệ sinh thái, thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lƣợng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi, rừng cây và con ngƣời có quan hệ mật thiết với nhau.
Chính vì lẽ đó, cây rừng đƣợc con ngƣời quan sát, xem xét, nghiên cứu từ thuở xa xƣa.Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng đƣợc gọi là mô phỏng, phản ảnh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên.Lacher (1978) đã chỉ rõ các vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật nhƣ sự thích nghi ở các điều kiện nhƣ dinh dƣỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu. Các phƣơng pháp thực nghiệm sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá.
đã đƣợc trình bày trong cuốn ''Thực nghiệm sinh thái học'' của Stephen D.Wratten and Gary L. Về phƣơng pháp điều tra tái sinh nhiều tác giả đã sử dụng phƣơng pháp điều tra theo dải hẹp với các ô 2 đo đếm có diện tích từ 10 100 m. Phƣơng pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác định quy luật phân bố lớp cây tái sinh trên bề mặt đất rừng. Nghiên cứu về tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dƣới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nƣơng rẫy.
Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già 3 c cỗi. Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố. Sự tƣơng đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, ngƣời ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định. Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít đƣợc nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mƣa thƣờng chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dƣới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi. Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mƣa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ƣa sáng.
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy cây con của các loài cây ƣu thế trong rừng mƣa là rất hiếm.Obrevin đã khái quát hoá các hiện tƣợng tái sinh ở rừng nhiệt đới châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhƣng phần lý giải các hiện tƣợng đó còn bị hạn chế. Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chƣa giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P. Richards (1933), Beard (1946), Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với nhận định của A.
Đó là hiện tƣợng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài. Về phƣơng pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thông thƣờng từ 1 đến 4 m2. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhƣng số lƣợng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng. Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phƣơng pháp "điều 4 c tra chẩn đoán" mà theo đó kích thƣớc ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau.
các nghiên cứu về chi trà camellia 1. Đặc điểm phân loại Đề tài tiến hành chọn hệ thống phân loại của Chang Hung Ta (1998) với sự bổ sung của Orel & Cury để phân loại chè ở Lâm Đồng thành 2 phân họ, 5 tông và 8 chi. Hệ thống phân loại chè ở Lâm Đồng Họ Phân họ Tông Chi Camellia (bao gồm Thea, Trib. Theeae Dankia) Polyspora Subfam.
Gordonieae Schima Theaceae Trib. Pyrenarieae Pyrenaria Subfam. Ternstroemieae Anneslea, Ternstroemia Ternstroemioideae Trib. Adinandreae Adinandra, Eurya 1.
Đặc điểm hình thái Dạng cây: Cây bụi, cây gỗ trung bình, ít khi là cây gỗ lớn (Schima); thƣờng xanh, hiếm khi rụng lá (Anneslea, Ternstroemia). Vỏ thân thƣờng nhẵn đôi khi bong vảy (Schima). Cành non nhẵn hoặc có lông, thƣờng có vảy bao chồi non. Hình bầu dục (Camellia luteopallida); (b).
Hình giáo ngƣợc (Polyspora microphylla); (d). Hình trái xoan (Anneslea fragrans); (f). Hình trứng ngƣợc (Ternstroemia Hình 1. Hình thái lá kwangtungensis).
Lá: Lá đơn, nguyên, mọc cách, không có lá kèm; hình bầu dục, giáo, giáo ngƣợc, thuôn, trái xoan, trứng ngƣợc; phiến lá thƣờng dai, gân chính thƣờng nổi rõ mặt dƣới, gân bên hình lông chim, mờ nhạt hoặc nổi rõ; mép lá nguyên hay xẻ răng cƣa một phần hoặc toàn bộ mép lá. 5 c Hoa: Mọc ở nách lá, đầu cành hoặc ở thân, đơn độc hoặc 2-5 trong một cụm hoặc thành chùm, có cuống hoặc gần không cuống, thƣờng lƣỡng tính, ít khi là đơn tính (Eurya), bao hoa xếp xoắn hoặc xếp vòng. Lá bắc nhỏ từ 2 đến nhiều, tồn tại hoặc sớm rụng, lá bắc nhỏ khác biệt với đài hoặc không khác biệt với đài (lá bắc-đài). Đài 5-7, xếp xoắn hoặc xếp vòng, những cánh xếp trong thƣờng to hơn, tồn tại hoặc sớm rụng.
Cánh hoa 5-9 (>10), rời nhau hay dính một phần ở gốc. Hoa lƣỡng tính (Camellia kissii) Hình 1. Kiểu hoa Nhị thƣờng nhiều, (1) 2-6 (7) vòng nhị xếp xoắn hoặc vòng, chỉ nhị rời hoặc hợp thành ống, dính với gốc cánh hoa, bao phấn đính gốc (Adinandra, Anneslea, Eurya, Polyspora, Pyrenaria, Ternstroemia, Schima) hay đính giữa (Camellia), mở theo một khe dài, bao phấn thƣờng không lông, hiếm khi có lông (Adinandra), chia ô hoặc không. Bao phấn đính giữa (Camellia cattiensis); (b).
Bao phấn đính gốc (Eurya japonica var. Bao phấn dính gốc (Schima superba); (d). Bao phấn tạo vết thắt (Eurya trichocarpa) (e); Bao phấn có lông (Adinandra integerrima). Hình thái bao phấn Bộ nhụy gồm (2)3-5(8) lá noãn hợp thành bầu trên, hiếm khi là bầu trung (Anneslea), 2-8 ô; mỗi ô thƣờng chứa 2- nhiều noãn trên giá noãn trụ giữa, vòi nhụy dính hoặc rời, sớm rụng hoặc tồn tại ở quả.
Quả: Hình bầu dục, cầu, cầu dẹt, cầu hơi dẹt, cốc, trứng, trứng lệch, trứng ngƣợc, thuôn, trụ. Vỏ quả có lông hoặc không có.