phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (05 trang) tài liệu tham khảo (05 trang), phần phụ lục (11 trang), luận văn có 76 trang chính văn, chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về quản lý hoạt động CLB (19 trang) 9 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý họa động CLB tại TTVH Q.1 - TPHCM (29 trang) Chƣơng 3: Chủ trƣơng của Đảng và giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý hoạt động CLB tại TTVH Q.1 - TPHCM (29 trang) 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CÂU LẠC BỘ 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm CLB Tình hình hoạt động CLB thời bao cấp Theo tác phẩm "Môn học CLB"của tác giả V.A CÔP-SA-RÔP. XCƠ- RƢP-NHEP và A.G XÔ-LÔ-MÔ-NHÍCH do Chủ biên Nguyễn Thụy Ứng và Bùi Tử Liêm dịch từ tiếng Nga, tái bản lần 1 năm 1984 tại Trƣờng Văn hóaTP.HCM, thì CLB là một môn học riêng mở ra với mục đích hƣớng dẫn và giảng dạy cho những cán bộ phụ trách văn hóa. CLB cũng có một số đặc điểm riêng, đa số CLB đều trực thuộc nhà nƣớc quản lý, Nhà văn hóa, Cung văn hóa, CLB đều là những trung tâm văn hóa để phục vụ công nhân, cán bộ và gia đình. Nhà văn hóa còn lãnh đạo các CLB ở các phƣờng về mặt tổ chức và phƣơng pháp.
Theo Crup-xcai-a, nhà lý luận nổi tiếng và nhà tổ chức công tác giáo dục văn hóa ở Liên Xô đã chỉ rõ rằng CLB nảy sinh trên cơ sở nhu cầu xã hội của con ngƣời trong việc giao tiếp với những ngƣời khác. Con ngƣời cần giao tiếp với những ngƣời khác. Con ngƣời cần giao tiếp không chỉ trong sản xuất mà cả lúc rảnh rỗi. Con ngƣời sử dụng thời gian rỗi ngoài xã hội, trong gia đình, giữa bạn bè, ngƣời quen.
Mọi ngƣời đến CLB với mong muốn đƣợc phát triển toàn diện, đƣợc tích cực hoạt động một cách tự nhiên. LÊNIN chỉ ra rằng CLB có góp phần khai sáng cho nhân dân lao động. Ở CLB tất cả các hình thức công tác chính trị quần chúng phải đƣợc kết hợp chặt chẽ với nhau. "CLB là một tổ chức đƣợc thành lập theo sự tự nguyện của mỗi ngƣời có chung một mục đích từ một mục đích này mà đề ra chƣơng trình hoạt động của mình sao cho phù hợp với khả năng và thời gian rỗi của các thành viên và khi hoạt động CLB, nhóm, đội lớn mạnh, số hội viên đông thì lại có thể chia ra các nhóm nhỏ hơn để đáp ứng đƣợc nhu cầu và sở thích riêng biệt hơn".09] Tình hình hoạt động CLB hiện nay 11 Giai đoạn từ năm 1986 đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Trung ƣơng 6, sau khi bỏ chế độ bao cấp, loại hình CLB đã chuyển sang tự quản, và đƣợc sự hỗ trợ về không gian sinh hoạt từ các trung tâm văn hóa.
Câu lạc bộ là danh từ của tiếng nƣớc ngoài, ta dùng dần thành quen, đây là một cụm từ muốn nói về một tổ chức đƣợc thành lập theo sự tự nguyện của mỗi ngƣời có chung một mục đích từ một mục đích này mà đề ra chƣơng trình hoạt động của mình sao cho phù hợp với khả năng và thời gian rỗi của các thành viên và khi hoạt động câu lạc bộ, nhóm, đội lớn mạnh, số hội viên đông thì lại có thể chia ra các nhóm nhỏ hơn để đáp ứng đƣợc nhu cầu và sở thích riêng biệt hơn. Có nhiều cách định nghĩa vể Câu lạc bộ, trong khuôn khổ luận văn, tác giả của nó sử dụng định nghĩa Câu lạc bộ nhƣ sau: Câu lạc bộ dùng để chỉ một tập hợp quần chúng có chung đặc điểm về sở thích, nhu cầu và tổ chức sinh hoạt nhằm thỏa mãn những nhu cầu và sở thích đó với nội dung sinh hoạt liên quan ở nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, chính trị xã hội. Thành viên sinh hoạt CLB có nhiều nghề nghiệp và lứa tuổi khác nhau, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện. Có thành lập tổ chức và mục đích hoạt động rõ ràng nhằm đem lại những lợi ích thiết thực cho tất cả hội viên và xã hội.
Đặc trƣng nổi bật nhất của CLB giúp phân biệt nó với các tổ chức khác là chế độ tự quản và sự tƣơng tác mạnh mẽ giữa các hội viên theo một chu kỳ sinh hoạt ổn định, các hoạt động chủ yếu diễn ra trong thời gian rỗi. Khái niệm CLB trên đƣợc thống nhất nhiều. Sự khác nhau, CLB có thể chủ yếu là sắc thái, quy mô hoạt động. Trên thực tế hiện nay từ CLB đƣợc sử dụng rất phổ biến.
Ngoài khái niệm trên nó còn có các nghĩa thông thƣờng sau đây: CLB là một cơ sở hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, kinh doanh. Ví dụ nhƣ: CLB thể dục thẩm mỹ, CLB Xe mô tô. CLB là một tổ chức, một hội của những ngƣời cùng nghề nghiệp. Ví dụ nhƣ: CLB doanh nhân, CLB đầu bếp, CLB kế toán.
CLB là một tổ chức chuyên nghiệp hoạt động theo những đặc thù nghề nghiệp và quy luật thị trƣờng. Ví dụ nhƣ: CLB Bóng đá, các nhóm múa, vũ đoàn, nhóm ca chuyên nghiệp. CLB là một sân chơi giao lƣu, một loại hình hoạt động dịch vụ nhƣ: CLB Khiêu vũ, CLB hát với nhau 12 1.2 Khái niệm tổ chức và hoạt động CLB Khái niệm tổ chức: Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ thì tổ chức có những nghĩa:"làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng nhất định. Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có đƣợc một hiệu quả nhất định.
Làm công tác tổ chức cán bộ.68] Nội dung hoạt động của CLB cần phù hợp, sát thực với đối tƣợng và đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phƣơng. Các nội dung hoạt động của CLB không nên bó hẹp trong phạm vi đối tƣợng nhất định, không gian và thời gian nhất định mà cần đƣợc mở rộng, bổ sung kịp thời đảm bảo tính cập nhật, tránh nhàm chán, đặc biệt là cung cấp một lƣợng kiến thức phong phú cho các hội viên. Ngoài ra, cũng cần phổ biến các kiến thức kinh tế, xã hội cần thiết khác phù hợp với từng đối tƣợng. Vì vậy, để hoạt động CLB đạt hiệu quả cao thì "Tất cả các hình thức và nội dung hoạt động trong CLB sở thích đều phải hướng vào việc phát triển khả năng sáng tạo của con người".10] Để thu hút số lƣợng hội viên tham gia CLB, giúp cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức trong CLB có hiệu quả thì phƣơng thức tổ chức sinh hoạt của CLB cần đa dạng, phong phú và hấp dẫn.
CLB thƣờng tập trung tổ chức sinh hoạt theo các phƣơng thức sau: Tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm chuyên đề. Tổ chức hoạt động thi tìm hiểu pháp luật, hái hoa dân chủ, giải đáp pháp luật, thi sáng tác các tác phẩm văn hóa, văn nghệ có nội dung liên quan. Xây dựng các tiểu phẩm văn hóa, văn nghệ.có nội dung tuyên truyền và nghệ thuật biểu diễn. Cung cấp thông tin, tƣ liệu phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phƣơng.
Tổ chức các buổi giao lƣu với các loại hình CLB khác, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tại đơn vị, địa phƣơng. Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm: Việc xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm của CLB đảm bảo tính liên tục về tiến độ hoạt động cũng nhƣ những nội dung, cách thức tổ chức hoạt động của CLB.3 Khái niệm quản lý Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức nhƣ cơ quan quản lý nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp… đều có thể đƣợc xem nhƣ một hệ thống 13 gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trƣờng nhất định đó gọi là khách thể quản lý. Cụ thể trong khuôn khổ luận văn Chủ thề quản lý là trung tâm văn hóa và đối tƣợng quản lý là các CLB đang sinh hoạt tại trung tâm văn hóa.
Từ đó có thể đƣa ra khái niệm: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động" Quản lý các hoạt động trong các đơn vị văn hóa là cần điều khiển để các thiết chế này thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, xây dựng con ngƣời mới thông qua hoạt động tại các thiết chế văn hóa. Vì vậy, tập thể cán bộ công nhân viên ở các đơn vị này phải thực hiện chức năng xã hội của mình thông qua quá trình quản lý. "Quản lý văn hóa là sự tác động có tổ chức, có hướng đích tới tập thể cán bộ công nhân viên bằng một hệ thống các phương pháp, biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để tập thể đó nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động văn hóa để đạt được những mục tiêu nhất định đã định trước"[26,tr52] 1.4 Khái niệm quản lý hoạt động CLB Quản lý CLB có nghĩa là vai trò của Ban chủ nhiệm CLB hoặc đội trƣởng, đội phó biết cách duy trì cho CLB hoạt động và sử dụng các hình thức hoặc các cơ sở vật chất của CLB sao cho phù hợp với từng loại hình sinh hoạt khác nhau.Các thành viên biết phân công nhau làm các nhiệm vụ đƣợc giao, mỗi thành viên tự quản lý lấy các dụng cụ hoạt động của mình, đồng thời giữ gìn các của chung. Biết phân phối kinh phí (có hạn) cho từng thời gian và nội dung hoạt động của CLB.Mỗi lần tổ chức sinh hoạt, các hội viên cần vận động và tìm các cộng tác viên tích cực để phát triển và giúp đỡ CLB lớn mạnh, mở rộng thành phần các hội viên, đồng thời chia dần các nhóm nhỏ trong CLB để sinh hoạt phong phú và mỗi nhóm lại có thể có tổ chức kinh phí riêng.5 Khái niệm thời gian rỗi Thời gian tự do hay thời gian rỗi là thời gian còn lại cho con ngƣời ngoài công việc lao động, ngoài những sự lao động có liên quan đến công việc lao động, ngoài thời gian dùng cho các nhu cầu sinh lý và sinh hoạt nhƣ ăn, ngủ, chăm lo việc 14 gia đình, vệ sinh,.ngoài các công việc có liên quan đến nhiệm vụ gia đình và nhiệm vụ xã hội.
Ngƣời ta coi bốn phần thời gian đầu là thời gian tất yếu, còn thời gian còn lại là thời gian tuy không nhiều, nhƣng có ý nghĩa đặc biệt, ngƣời lao động có thể sử dụng nó theo ý thích của mình.