Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE TH] TRUONG TIN DUNG NONG THON TRONG QUA TRINH CONG NGHIEP HOA, HIEN DAI HOA NONG THON 1. TH] TRUONG TIN DUNG NONG THON TRONG QUA TRINH CONG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN 1. Khái niệm - Khải niệm tín dụng Thuật ngữ tín dụng - Credit có nguồn gốc từ tiếng La-tinh: Credittum, có nghĩa là sự tin tưởng hay tín nhiệm. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nội hàm tir "tin dung” dần được rộng mở.
Theo các nhà kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế. Tín dụng hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, dưới góc độ khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra những định nghĩa khác nhau về tín dụng. Trong đó, nỗi bật là: + Cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: "Tín dụng là sự vay mượn tiền mặt và vật tư" [70, tr.
Định nghĩa này thể hiện mối quan hệ cấu thành bản chất bên trong của quan hệ kinh tế: Vay - mượn, cả về tiền mặt lẫn hàng hóa; với tư cách là tiền hay hiện vật giữa các chủ thê kinh tế. + Tác giả Lê Văn Tề, trong cuốn Tiền tệ và Ngân hang cho rang: Tin dụng diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam không chỉ là sự vay mượn đơn thuần mà còn là sự vay mượn với sự tín nhiệm nhất định [60, tr. Định nghĩa này hàm nghĩa tín dụng là quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở lòng tin của cả người cho vay và đi vay. + Tác giả Vũ Văn Hóa, trong cuốn Lý thuyết tiền tệ quan niệm rằng: Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (Trái chủ hoặc người cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán trong tương lai của bên kia (Thụ trái hoặc người đi vay) [19, tr.
Cách luận giải này phản ánh tính chất ràng buộc của quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay. Đối tượng tín dụng phong phú, cụ thể (tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán) và dựa vào lòng tin, sự tín nhiệm. + Học giả người Pháp - Louis Baudin khẳng định: Tín dụng là sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai, tức là hai bên cam kết: Một bên thì trao đổi ngay một số tiền bạc, bên kia cam kết sẽ hoàn trả lại những điều khoản đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định [66, tr. Ở đây, Louis Baudin cũng chỉ ra mối quan hệ trao đổi tài hóa trong hiện tại để lấy tài hóa trong tương lai giữa người cho vay và người đi vay, với những điều kiện và khoảng thời gian xác định.
+ Khi nghiên cứu về Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các Mác chỉ rõ: Tín dụng là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho một người này giao cho một người khác một số tư bản nào đó, dưới hình thức tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa đáng giá một số tiền nhất định nào đó. Số tiền này được trả lại trong một thời gian nhất định [27, tr. Và, điều tất yếu của sự luân chuyển (trở về) điểm xuất phát của đồng tiền không chỉ giữ được nguyên vẹn giá trị của nó mà đồng thời nó lại lớn lên thêm trong quá trình vận động [27, tr. Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng: Một là, xuất hiện sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng.
Hai là, sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị trong khoảng thời gian xác định và mang tính tạm thời. Ba là, chủ thể cầu tín dụng phải hoàn trả gốc và lãi (lợi tức) cho chủ thể cung tín dụng. 10 Như vậy, các nhà kinh tế đều khẳng định một quan hệ tín dụng tồn tai và phát triển phải đảm bảo 3 điều kiện trên. Biểu hiện ra trên bề mặt xã hội của quan hệ tín dụng là sự vận động của lượng giá trị vốn tín dụng, qua các giai đoạn: phân phối vốn tín dụng, sử dụng vốn tín dụng và hoàn trả vốn tín dụng.
Sự vận động của lượng giá trị tín dụng khi quay về điểm xuất phát luôn phải đảm bảo giá trị và giá trị tăng thêm, dưới hình thức lợi tức, thông qua cơ chế điều tiết lãi suất. Tính hoàn trả của tín dụng là cơ sở khoa học để phân biệt phạm trù tín dụng với phạm trù kinh tế khác. Từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa về tín dụng như sau: Tin dụng là quan hệ kinh tế gắn với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tin dung theo nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu câu vốn phát triển kinh tế - xã hội. Trong nền KTTT hiện đại, tín dụng không chỉ dựa vào lòng tin, sự tín nhiệm của người cho vay vốn và người đi vay vốn mà còn được pháp luật bảo vệ.
Đó là cơ sở quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh các quan hệ tín dụng, đảm bảo vốn cho phát triển nền kinh tế hiện đại, xây dựng một xã hội văn minh. Nền KTTT càng phát triển, hình thức tín dụng càng phong phú. Song, trên thị trường đang tồn tại và phát triển các hình thức tín dụng cơ bản: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng Nhà nước, tín dụng quốc tế, Trong giới hạn, phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hình thức tín dụng ngân hàng. "Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế" [68, tr.
Như vậy, đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Ngân hàng hoạt động với tư cách là một trung gian tài chính, thực hiện nhiệm vụ đi vay vốn của người có vốn để cho vay những người cần vốn; được hưởng lợi nhuận, theo sự điều tiết của cơ chế thị trường và được pháp luật bảo vệ. il - Khái niệm thị trường tín dụng nông thôn: Theo kinh tế học hiện đại, "Thị trường là một cơ chế trong đó người mua và người bán tương tác với nhau đề xác định giá cả và sản lượng" [52, tr. Xét về bản chất, thị trường chính là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa (hiện vật và phi hiện vật) giữa người mua và người bán; giá cả hàng hóa được xác định trên cơ sở thị trường.
Trong nền KTTT, nhất là nền KTTT hiện đại, nhu cầu vốn đầu tư phát triển SX - KD là rất lớn. Tuy nhiên, năng lực tiết kiệm của từng chủ thể SX - KD là có hạn, không thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, trong khi xã hội luôn tồn tại những chủ thể có khoản thu nhập (tiết kiệm) chưa tiêu dùng, mong muốn được đầu tư để hưởng lợi. Do đó, trên thị trường tất yếu nảy sinh quan hệ cung - cầu vốn nói chung, vốn tín dụng nói riêng, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư. Hay một cách cụ thể hơn, thị trường tín dụng, trong đó có TTTDNT tất yếu phải hình thành, phát triển để giải quyết bài toán tiết kiệm và đầu tư của mọi chủ thể kinh tế trong xã hội.
TTTDNT là nơi diễn ra hoạt động cung - cầu vốn tín dụng giữa các chủ thể cho vay vốn và chủ thể đi vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn. Như vậy, xét về tổng thẻ, trên TTTDNT có hai lực lượng (chủ thể) tham gia hoạt động, làm tiền đề và điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển; đảm bảo cung - cầu vốn phục vụ CNH, HĐH nông thôn cũng như phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn. Lực lượng hay chủ thê cung ứng vốn tín dụng là các trung giai tài chính. Lực lượng hay chủ thể cầu vốn tín dụng là các doanh nghiệp, công ty, tô chức xã hội, cá nhân.
tham gia hoạt động SX-KD ở khu vực nông thôn. Hàng hóa trên TTTDNT chính là "quyền sử dụng vốn tín dụng". Chủ thể cung vốn tín dụng là người bán "quyền sử dụng vốn tín dụng" và chủ thể cầu vốn tín dụng là người mua "quyền sử dụng vốn tín dụng". Giá cả hàng hóa "quyền sử dụng vốn tín dụng" chính là lãi suất cho vay vốn tín dụng, được xác lập trên cơ sở thị trường.
12 Từ sự phân tích nội hàm của khái niệm TTTDNT, có thể mô hình hóa hoạt động cung - cầu vốn tín dụng trên TTTDNT như sau: Sơ đồ 1: Hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn Cho vay vôn Trung gian tài chính Cho vay vốn — trên địa bàn nông thôn — Hoan tra von Hoan tra von Chủ thé Thị trường tín dụng Chủ thể cho vay vốn nông thôn di vay von Cho vay vốn + Cho vay vốn Trung gian tài chính ———————§ tài da bàn nông thôn Hoàn trả vốn Hoàn trả vốn Hoạt động của TTTDNT, xét về bản chất là sự vận động của một loại quỹ tiền tệ, bao gồm hai quá trình: Tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng (huy động vốn và cho vay vốn tín dụng) trên thị trường. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận để phân loại TTTDNT. Dưới góc độ pháp lý, nguồn gốc, nội hàm của khái niệm tín dụng, địa bàn hoạt động của các quỹ tín dụng. có thể phân chia TTTDNT thành ba loại: thị trường tín dụng chính thức, thị trường tín dụng bán chính thức và thị trường tín dụng phi chính thức.
+ Thị trường tín dụng chính thức là nơi diễn ra công khai các hoạt động huy động, cung ứng và giao dịch vốn tín dụng giữa các tổ chức trung gian tài chính với chủ thể cầu vốn, tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Lực lượng tham gia cung vốn trên thị trường này chính là các trung gian tài chính, bao gồm: Hệ thống Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, hệ thống QTDND, hợp tác xã tín dụng, các công ty tài chính. Lực lượng tham gia cầu vốn tín dụng là hộ gia đình, các chủ thể SX - KD ở khu vực nông thôn. + Thị trường tín dụng bán chính thức là nơi diễn ra công khai các hoạt động trợ giúp cung ứng, giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, 13 Hội Thanh niên Việt Nam.