CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Khái niệm về hộ Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan điểm của các nhà khoa học về hộ: + Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ:“Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà.
Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. + Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. Khái niệm về hộ nông dân Theo Frank Ellis:“Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân Theo “Kinh tế hộ nông dân” xuất bản năm 2000 của TS.
Đỗ Văn Viện và Th.S Đặng Văn Tiến thì: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế 5 cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển”. Khái niệm về kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán). Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế.
Kinh tế hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủyếu dựa vào lao động gia đình và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Ngoài ra có thể tiến hành trao đổi, bán cho người khác khi sản phẩm đó đối với họ là không cần thiết. Khái niệm về phát triển nông thôn Theo Ngân hàng thế giới (WB):“Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện điều kiện kinh tế xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo trong số những người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn”.
Vai trò của kinh tế nông hộ Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. 6 Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó trước tiên giúp nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất.
Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn Huân, 1993)[7]. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. - Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
- Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức kinh doanh nào có được. - Về tài sản và tư liệu sản xuất: 7 Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo quản cao nhất.
Bởi vì chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình (Chu Cao Vũ,1995)[4]. Phân loại hộ nông dân Trong sản xuất nông hộ kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được phát triển từ thấp đến cao, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Vì vậy nếu căn cứ vào mức độ phát triển kinh tế nông hộ ta có thể chia ra các nhóm sau: - Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp của kinh tế nông hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít vốn, công cụ sản xuất thì thô sơ, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và họ tiến hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
- Nhóm kinh tế hộ tự túc: Nhóm này sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho nhu cầu hàng ngày, sản xuất còn manh mún, lạc hậu không chịu tìm tòi, học hỏi, luôn bằng lòng với bản thân nên hiệu quả trong sản xuất của nhóm hộ này rất thấp. - Nhóm hộ sản xuất nhỏ: Trong quá trình sản xuất có một bộ phận nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần sản xuất để cung cấp cho bản thân gia đình còn có phần dư thừa để bán ra ngoài thị trường. Đây là nhóm họ phần nào biết làm ăn, chịu khó học hỏi nhưng vẫn chưa thực sự mạnh dạn đầu tư, thuê vốn để làm ăn. - Nhóm kinh tế hộ sản xuất hàng hóa lớn: Đây chính là những loại hộ sản xuất hàng hóa, nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư phát triển loại hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động, hộ nông dân được chia thành các loại: 8 + Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường: Loại này có mục tiêu tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong chính gia đình họ. Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào: khả năng mở rộng diện tích đất đai; có thị trường lao động để họ tự bán sức lao động để có thu nhập; có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi; có thị trường sản phẩm để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. + Hộ bắt đầu có phản ứng với thị trường: Loại hộ này gọi là “nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh ghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vẫn quyết định cách thức sản xuất của hộ. Ở đây hộ có phản ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp.
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu: Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động. Căn cứ theo tính chất ngành sản xuất, hộ nông dân được chia thành: + Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp. + Nông hộ kiêm: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp. + Nông hộ chuyên: là loại nông hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
+ Nông hộ buôn bán: có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ hoặc các nơi đông dân cư. Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép. Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm: + Hộ giàu 9 + Hộ khá + Hộ trung bình + Hộ nghèo + Hộ đói Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của từng địa phương. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế nông hộ 1.
Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tư nhiên a. Vị trí địa lý và đất đai Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.