MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè hoa vàng hay còn gọi là Kim hoa trà có tên khoa học là: Camellia spp.) là một loài thực vật hạt kín trong họ Theaceae. Nó được tìm thấy ở Trung Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) (Trình Kim Thủy và cộng sự ,1994) [16]. Cây Chè hoa vàng trước đây chủ yếu dùng làm cảnh vì sắc màu vàng đượm, lung linh của Chè hoa vàng khiến người chơi cảnh bị mê hoặc.
Nhưng hiện nay, qua các quá trình nghiên cứu và sử dụng, ta đã biết Chè hoa vàng không những chỉ để chơi cảnh mà còn dùng làm trà uống hàng ngày rất ngon và bổ dưỡng. Ngày nay với khoa học hiện đại, Chè hoa vàng trở nên quý giá hơn bao giờ hết bởi công dụng và những lợi ích của Chè hoa vàng mang lại. Những hợp chất trong Chè hoa vàng nhiều và quý. Người ta tìm thấy chè chứa hơn 400 hoạt chất và trong đó quý giá là các saponin Tea polyphenon và các nguyên tố như Selenium (Se), Germannium (Ge), Kalium (K) Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn) và các vitamin B1, B2, C.
Chè hoa vàng được giới y học nghiên cứu rất nhiều và đã được ứng dụng trên nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam. Chè hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Chè hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau (Trần Ninh, 2002) [13]. Trong đó Vườn Quốc gia Tam Đảo có 8 loài.
Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa chè để buôn bán, với giá khoảng trên 1.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20.000đ/kg… Sau đó sẽ được xuất khẩu sang h 2 Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Cùng một số nguyên nhân khác làm cho Chè hoa vàng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Tại Bắc Kạn, cây Chè hoa vàng có ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Mới. Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Chè hoa vàng trong tự nhiên để bán cho các tư thương với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg nụ hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá khoảng 7.
Do vậy nguồn vật liệu này ngày càng có nguy có cạn kiệt, cần có biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý. Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và phát triển các loài Chè hoa vàng này là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên cho tới nay những nghiên cứu về các loài Chè hoa vàng còn rất hạn chế. Để góp phần cho công tác bảo tồn phát triển loại cây Chè hoa vàng và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học.
Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loại cây này phục vụ nhu cầu sử dụng cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương. Xuất phát từ thực trạng nêu trên, để có cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển, nâng cao hiệu quả khai thác cây Chè hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Bắc Kạn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên, huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu, xác định chế phẩm chất kích thích sinh trưởng phù hợp áp dụng trong quá trình nhân giống bằng hom cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên huyện Chợ Đồn góp phần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây Chè hoa vàng tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống Chè hoa vàng.
- Kết quả nhiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu Chè hoa vàng nói chung và Chè hoa vàng nói riêng. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng 2. Sử dụng làm dược liệu Chè hoa vàng có tên khoa học là Camellia chrysantha, là loài thực vật hạt kín trong họ Chè Theaceae, có giá trị dược liệu rất quý.
Ở Trung Quốc, Chè hoa vàng (hay còn gọi là kim hoa trà) được nhiều nhà nghiên cứu hợp chất tự nhiên của Trung Quốc phát hiện có chứa hơn 400 loại nguyên tố hóa học khác nhau, rất có lợi cho sức khỏe con người (Rosmann J. Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) đã chế biến thành công chè túi lọc từ Chè hoa vàng, tinh chè và dịch Chè hoa vàng thành loại nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/chai. Đây là hướng sử dụng Chè hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Chè hoa vàng “có những công dụng y học vô giá”.
Theo chuyên gia này, sử dụng sản phẩm từ Chè hoa vàng có thể làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ sau khoảng 20 ngày. Chè hoa vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp của nó. Sử dụng Chè hoa vàng có thể chữa được rất nhiều bệnh như táo bón, hạ đường huyết đối với người bị tiểu đường. Bên cạnh đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả (Rosmann J.
Tiến sĩ John Welsburger - thành viên cao cấp của Tổ chức Sức khỏe Hoa Kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong Chè có khả năng h 5 làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, trụy tim và ung thư”. Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách Chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn. Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu - nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim. Loại chè đen nhắc đến trên đây là một dạng Chè được chế biến từ Chè hoa vàng (Rosmann J.
Y học cổ truyền Trung Quốc đã tổng kết 9 tác dụng chính của lá Chè hoa vàng: (1) Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (choles - terol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt). (2) Nước sắc lá trà có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và được duy trì trong thời gian tương đối dài. (3) Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu. (4) Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác.
(5) Hưng phấn thần kinh. (6) Lợi tiểu mạnh. (7) Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu. (8) Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn.
(9) Lá trà có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp (Ninh Tr. Từ nhiều năm nay, người cao tuổi ở các xã trong huyện Quế Phong biết về cây Chè hoa vàng dùng để nấu nước uống như Chè xanh. Đây là loài cây mọc tự nhiên trong rừng. Người dân dùng Chè hoa vàng nấu lấy nước uống, người ốm yếu đau nhức cơ thể trở nên khỏe mạnh, hoạt bát còn người khỏe mạnh ăn được nhiều cơm, đêm ngủ ngon giấc.
Lá của Chè hoa vàng còn được dùng như một loại thức ăn được nấu với măng làm canh dùng cho người mới ốm dậy, người suy nhược sức khỏe. Ngoài ra, khi bị các vết thương lở loét, người dân địa phương còn lấy hoa và lá của Chè hoa vàng giã nhỏ đắp lên vết thương, mỗi ngày thay 2 - 3 lần thì sau 2 - 3 ngày, vết thương sẽ khô và liền da (Rosmann J. h 6 Một nghiên cứu khác về công dụng trà cho thấy dùng trà mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da - một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da. Gần đây, các nhà khoa học Nhật Bản vừa phát hiện hoạt chất epigallocatechin gallat (EGCG) trong Chè hoa vàng có tác dụng ngăn HIV bám vào tế bào miễn dịch khoẻ mạnh.
Khám phá mới có thể đưa tới những phương pháp mới chống lại căn bệnh nguy hiểm này (Rosmann J. Trong quá trình điều tra khảo sát về cây Chè hoa vàng, đoàn chúng tôi tìm hiểu, tiếp xúc với một vài thầy lang trong vùng, được biết Chè hoa vàng là vị thuốc nam hết sức có hiệu quả. Ngoài tác dụng của hoa thì lá của Chè hoa vàng còn có tác dụng chống mệt mỏi, giúp tinh thần tỉnh táo, tăng cường chức năng tiêu hóa, lợi tiểu, giải độc rất tốt. Đây là vốn quý cần phát huy, nhất là trong điều trị dự phòng ở cơ sở.1: Trà túi lọc sản Hình 2.2: Trà ô long sản Hình 2.3: Thuốc được phẩm từ Chè hoa vàng phẩm từ Chè hoa vàng điều chế từ Chè hoa vàng 2.
Dùng làm cây cảnh Giá trị lớn nhất và dễ nhận thấy nhất của các loài thuộc chi Camellia là làm cây cảnh. Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài thuộc chi Camellia có hoa đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng, đỏ, vàng và nhiều màu sắc độc đáo, lạ mắt được tạo ra do lai tạo đã thu hút sự quan tâm của những nhà chơi cây cảnh. Trong số đó, các loài Chè hoa vàng rất hiếm chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc. h 7 Cũng như nhiều loài khác trong chi Camellia, giá trị đầu tiên dễ nhận thấy nhất của Chè hoa vàng là làm cảnh.
Màu vàng của Chè hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo được bằng phương pháp lai tạo, nên càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các lai tạo trên thế giới.