Luận văn nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây chè hoa vàng tại xã đông viên huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn

Chuyên khảo phân tích Luận văn nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

57
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng

2.1.1. Sử dụng làm dược liệu

2.1.2. Dùng làm cây cảnh

2.2. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1. Nguốc gốc, phân loại Chè hoa vàng

2.2.2. Đặc điểm hình thái và phân bố chi Camellia L.

2.2.2.1. Đặc điểm phân bố chi Camellia L.

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tình hình khai thác và nhân giống Chè hoa vàng tại xã Đông Viên

4.1.1. Tình hình khai thác Chè hoa vàng

4.1.2. Tình hình nhân giống cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên

4.1.3. Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ hom sống

4.1.4. Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ hom tái sinh chồi của hom giâm

4.1.5. Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng chồi của hom giâm

4.1.6. Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả tái sinh rễ của hom giâm

4.1.7. Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích ra rễ đến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Chất kích thích sinh trưởng

Nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng để tăng hiệu quả nhân giống cây chè hoa vàng tại Đông Viên, Bắc Kạn. Các chế phẩm như IBA (Indol Butyric Acid) được thử nghiệm để kích thích ra rễ và tăng tỷ lệ sống của hom giâm. Kết quả cho thấy, việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng phù hợp giúp tăng tỷ lệ hom sống lên đến 80%, đồng thời cải thiện khả năng tái sinh chồi và rễ. Điều này mở ra hướng ứng dụng hiệu quả trong kỹ thuật nhân giống cây chè hoa vàng, góp phần bảo tồn và phát triển loài cây quý này.

1.1. Ứng dụng chất kích thích sinh trưởng

Các chế phẩm chất kích thích sinh trưởng được thử nghiệm bao gồm IBA và NAA (Naphthalene Acetic Acid). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, IBA ở nồng độ 2000 ppm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc kích thích ra rễ và tăng tỷ lệ sống của hom giâm. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của chất kích thích sinh trưởng trong nhân giống cây chè, đặc biệt là chè hoa vàng.

II. Nhân giống cây chè hoa vàng

Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhân giống cây chè hoa vàng bằng phương pháp giâm cành. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, và chất lượng hom giâm được kiểm soát chặt chẽ. Kết quả cho thấy, hom giâm từ cành bánh tẻ có tỷ lệ sống cao hơn so với cành già hoặc non. Điều này cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống hiệu quả cho chè hoa vàng tại Đông Viên, Bắc Kạn.

2.1. Kỹ thuật giâm cành

Phương pháp giâm cành được áp dụng với các bước cụ thể: chọn cành bánh tẻ, xử lý hom bằng chất kích thích sinh trưởng, và duy trì độ ẩm ổn định trong vườn ươm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ hom sống đạt 75-80% sau 6 tháng, đồng thời cây con đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Đây là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình nhân giống cây chè hoa vàng tại địa phương.

III. Chè hoa vàng tại Đông Viên Bắc Kạn

Chè hoa vàng là loài cây quý hiếm, có giá trị kinh tế và dược liệu cao. Tại Đông Viên, Bắc Kạn, loài cây này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức. Nghiên cứu đã đánh giá tình hình khai thác và nhân giống chè hoa vàng tại địa phương, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của chè hoa vàng, đồng thời tạo hướng phát triển kinh tế từ loài cây này.

3.1. Giá trị kinh tế và dược liệu

Chè hoa vàng chứa hơn 400 hoạt chất có lợi cho sức khỏe, được sử dụng trong y học cổ truyền và hiện đại. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sản phẩm từ chè hoa vàng có khả năng hỗ trợ điều trị các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, và ung thư. Điều này mở ra tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm từ chè hoa vàng, góp phần tăng thu nhập cho người dân Đông Viên, Bắc Kạn.

IV. Nghiên cứu cây chè hoa vàng

Nghiên cứu đã tổng hợp các tài liệu về nghiên cứu cây chè hoa vàng trên thế giới và Việt Nam. Kết quả cho thấy, chè hoa vàng được quan tâm đặc biệt ở Trung Quốc và Nhật Bản do giá trị dược liệu và cảnh quan. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chè hoa vàng còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực nhân giống và bảo tồn. Nghiên cứu này góp phần bổ sung dữ liệu khoa học về chè hoa vàng, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

4.1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chè hoa vàng được phát hiện ở nhiều khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, và Bắc Kạn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài cây này còn ít và chưa hệ thống. Nghiên cứu này là một trong những công trình đầu tiên tập trung vào nhân giống và bảo tồn chè hoa vàng tại Đông Viên, Bắc Kạn, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè hoa vàng hay còn gọi là Kim hoa trà có tên khoa học là: Camellia spp.) là một loài thực vật hạt kín trong họ Theaceae. Nó được tìm thấy ở Trung Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) (Trình Kim Thủy và cộng sự ,1994) [16]. Cây Chè hoa vàng trước đây chủ yếu dùng làm cảnh vì sắc màu vàng đượm, lung linh của Chè hoa vàng khiến người chơi cảnh bị mê hoặc.

Nhưng hiện nay, qua các quá trình nghiên cứu và sử dụng, ta đã biết Chè hoa vàng không những chỉ để chơi cảnh mà còn dùng làm trà uống hàng ngày rất ngon và bổ dưỡng. Ngày nay với khoa học hiện đại, Chè hoa vàng trở nên quý giá hơn bao giờ hết bởi công dụng và những lợi ích của Chè hoa vàng mang lại. Những hợp chất trong Chè hoa vàng nhiều và quý. Người ta tìm thấy chè chứa hơn 400 hoạt chất và trong đó quý giá là các saponin Tea polyphenon và các nguyên tố như Selenium (Se), Germannium (Ge), Kalium (K) Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn) và các vitamin B1, B2, C.

Chè hoa vàng được giới y học nghiên cứu rất nhiều và đã được ứng dụng trên nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam. Chè hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Chè hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau (Trần Ninh, 2002) [13]. Trong đó Vườn Quốc gia Tam Đảo có 8 loài.

Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa chè để buôn bán, với giá khoảng trên 1.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20.000đ/kg… Sau đó sẽ được xuất khẩu sang h 2 Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Cùng một số nguyên nhân khác làm cho Chè hoa vàng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Tại Bắc Kạn, cây Chè hoa vàng có ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Mới. Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Chè hoa vàng trong tự nhiên để bán cho các tư thương với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg nụ hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá khoảng 7.

Do vậy nguồn vật liệu này ngày càng có nguy có cạn kiệt, cần có biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý. Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và phát triển các loài Chè hoa vàng này là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên cho tới nay những nghiên cứu về các loài Chè hoa vàng còn rất hạn chế. Để góp phần cho công tác bảo tồn phát triển loại cây Chè hoa vàng và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học.

Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loại cây này phục vụ nhu cầu sử dụng cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương. Xuất phát từ thực trạng nêu trên, để có cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển, nâng cao hiệu quả khai thác cây Chè hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Bắc Kạn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên, huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu, xác định chế phẩm chất kích thích sinh trưởng phù hợp áp dụng trong quá trình nhân giống bằng hom cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên huyện Chợ Đồn góp phần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây Chè hoa vàng tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống Chè hoa vàng.

- Kết quả nhiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu Chè hoa vàng nói chung và Chè hoa vàng nói riêng. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng 2. Sử dụng làm dược liệu Chè hoa vàng có tên khoa học là Camellia chrysantha, là loài thực vật hạt kín trong họ Chè Theaceae, có giá trị dược liệu rất quý.

Ở Trung Quốc, Chè hoa vàng (hay còn gọi là kim hoa trà) được nhiều nhà nghiên cứu hợp chất tự nhiên của Trung Quốc phát hiện có chứa hơn 400 loại nguyên tố hóa học khác nhau, rất có lợi cho sức khỏe con người (Rosmann J. Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) đã chế biến thành công chè túi lọc từ Chè hoa vàng, tinh chè và dịch Chè hoa vàng thành loại nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/chai. Đây là hướng sử dụng Chè hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Chè hoa vàng “có những công dụng y học vô giá”.

Theo chuyên gia này, sử dụng sản phẩm từ Chè hoa vàng có thể làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ sau khoảng 20 ngày. Chè hoa vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp của nó. Sử dụng Chè hoa vàng có thể chữa được rất nhiều bệnh như táo bón, hạ đường huyết đối với người bị tiểu đường. Bên cạnh đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả (Rosmann J.

Tiến sĩ John Welsburger - thành viên cao cấp của Tổ chức Sức khỏe Hoa Kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong Chè có khả năng h 5 làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, trụy tim và ung thư”. Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách Chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn. Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu - nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim. Loại chè đen nhắc đến trên đây là một dạng Chè được chế biến từ Chè hoa vàng (Rosmann J.

Y học cổ truyền Trung Quốc đã tổng kết 9 tác dụng chính của lá Chè hoa vàng: (1) Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (choles - terol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt). (2) Nước sắc lá trà có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và được duy trì trong thời gian tương đối dài. (3) Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu. (4) Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác.

(5) Hưng phấn thần kinh. (6) Lợi tiểu mạnh. (7) Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu. (8) Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn.

(9) Lá trà có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp (Ninh Tr. Từ nhiều năm nay, người cao tuổi ở các xã trong huyện Quế Phong biết về cây Chè hoa vàng dùng để nấu nước uống như Chè xanh. Đây là loài cây mọc tự nhiên trong rừng. Người dân dùng Chè hoa vàng nấu lấy nước uống, người ốm yếu đau nhức cơ thể trở nên khỏe mạnh, hoạt bát còn người khỏe mạnh ăn được nhiều cơm, đêm ngủ ngon giấc.

Lá của Chè hoa vàng còn được dùng như một loại thức ăn được nấu với măng làm canh dùng cho người mới ốm dậy, người suy nhược sức khỏe. Ngoài ra, khi bị các vết thương lở loét, người dân địa phương còn lấy hoa và lá của Chè hoa vàng giã nhỏ đắp lên vết thương, mỗi ngày thay 2 - 3 lần thì sau 2 - 3 ngày, vết thương sẽ khô và liền da (Rosmann J. h 6 Một nghiên cứu khác về công dụng trà cho thấy dùng trà mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da - một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da. Gần đây, các nhà khoa học Nhật Bản vừa phát hiện hoạt chất epigallocatechin gallat (EGCG) trong Chè hoa vàng có tác dụng ngăn HIV bám vào tế bào miễn dịch khoẻ mạnh.

Khám phá mới có thể đưa tới những phương pháp mới chống lại căn bệnh nguy hiểm này (Rosmann J. Trong quá trình điều tra khảo sát về cây Chè hoa vàng, đoàn chúng tôi tìm hiểu, tiếp xúc với một vài thầy lang trong vùng, được biết Chè hoa vàng là vị thuốc nam hết sức có hiệu quả. Ngoài tác dụng của hoa thì lá của Chè hoa vàng còn có tác dụng chống mệt mỏi, giúp tinh thần tỉnh táo, tăng cường chức năng tiêu hóa, lợi tiểu, giải độc rất tốt. Đây là vốn quý cần phát huy, nhất là trong điều trị dự phòng ở cơ sở.1: Trà túi lọc sản Hình 2.2: Trà ô long sản Hình 2.3: Thuốc được phẩm từ Chè hoa vàng phẩm từ Chè hoa vàng điều chế từ Chè hoa vàng 2.

Dùng làm cây cảnh Giá trị lớn nhất và dễ nhận thấy nhất của các loài thuộc chi Camellia là làm cây cảnh. Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài thuộc chi Camellia có hoa đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng, đỏ, vàng và nhiều màu sắc độc đáo, lạ mắt được tạo ra do lai tạo đã thu hút sự quan tâm của những nhà chơi cây cảnh. Trong số đó, các loài Chè hoa vàng rất hiếm chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc. h 7 Cũng như nhiều loài khác trong chi Camellia, giá trị đầu tiên dễ nhận thấy nhất của Chè hoa vàng là làm cảnh.

Màu vàng của Chè hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo được bằng phương pháp lai tạo, nên càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các lai tạo trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sử dụng chất kích thích sinh trưởng nhân giống cây chè hoa vàng tại Đông Viên, Bắc Kạn là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng các chất kích thích sinh trưởng để nâng cao hiệu quả nhân giống cây chè hoa vàng, một loại cây có giá trị kinh tế và dược liệu cao. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp các phương pháp kỹ thuật tiên tiến mà còn đưa ra những kết quả thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa quy trình nhân giống, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những người quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân trên giống chè kim tuyên tại tỉnh phú thọ, một nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật canh tác chè. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng phát triển của giống cam không hạt ld06 tại lục yên yên bái cung cấp thêm góc nhìn về tác động của kỹ thuật ghép cây đối với sự phát triển của cây trồng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống xoài đài loan trồng tại yên châu sơn la là một tài liệu tham khảo tuyệt vời để hiểu rõ hơn về các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho cây ăn quả.