Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc nói chung Cây dong riềng: là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào nhiều vùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Bột dong có ít chất đạm hơn so với lúa và các cây có củ khác tuy nhiên hàm lượng chất béo và chất đường bột lại cao hơn hẳn.
Các phần trên cây dong được tận dụng gần như triệt để: thân, cuống lá cung cấp một phần lớn nguyên liệu cho công nghiệp sợi, lá để làm thức ăn gia súc và củ dùng để chế biến thực phẩm Trung bình mỗi vụ, cây dong riềng cho năng suất đạt 50-70 tấn củ/ha. Nếu lượng củ này đem chế biến thành tinh bột thì với mỗi ha dong riềng sẽ cho thu nhập gấp 4-5 lần so với trồng lúa. Dong riềng được trồng chủ yếu phục vụ cho sản xuất tinh bột và làm miến với quy mô mang tính công nghiệp. Tại các vùng trồng dong riềng đều có các nhà máy, cơ sở sản xuất và các làng nghề chế biến tinh bột dong, việc chuyên chở củ dong đi xa là không thực tế do cước vận chuyển cao làm tăng giá thành sản xuất tinh bột.
Ở tỉnh Hà Giang dong riềng được trồng nhiều ở huyện Hoàng Su Phì. Năm 2010, toàn huyện đã trồng được 130 ha cây dong riềng cao sản tại 6 xã: Pố Lồ, Thàng Tín, Chiến Phố, Tụ Nhân, Đản Vân và Thán Chu Phìn với năng suất đạt 50 -55 tấn/ha, sản lượng đạt 6. Lúc đó, giá thu mua dong 5 riềng tại các xã là 800 đồng/kg, vận chuyển đến trung tâm huyện là 1000 đồng/kg, như vậy 1 ha dong riềng cho thu nhập khoảng 50 triệu đồng. Năm 2012, huyện Hoàng Su Phì đã mở rộng vùng trồng dong riềng cao sản lên 1100 ha, trong đó quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá 800 ha tại xã Pố Lồ, Chiến Phố, Thàng Tín, Tụ Nhân, Thán Chu Phìn, Đản Vân, Sán Sả Hồ và Pờ Ly Ngài.
Bên cạnh đó, huyện đó kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bột dong riềng tư nhân để bao tiêu toàn bộ sản phẩm củ dong do người dân các vùng bán ra. Việc triển khai áp dụng tiến bộ khoa học trong việc đưa những giống cây trồng mới cho năng suất, hiệu quả cao như cây dong riềng lần đầu tiên được trồng tại huyện vùng cao Hoàng Su Phì đã thành công, mở ra hướng làm ăn mới, giúp cho bà con các dân tộc có thu nhập cao, ổn định và bền vững. Nhận thấy cây dong riềng dễ trồng và ít tốn công chăm sóc hơn so với trồng sắn, ngô, lại có giá trị kinh tế cao, những năm 2000, người dân một số bản vùng cao ở xã Mường Phăng (huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên) như: bản Noọng Luông, Noọng Nghịu, bản Khỏ, Na Háy, bản Cang.bắt đầu trồng để làm lương thực dự trữ thay cho ngô, sắn. Một vài năm gần đây, các xưởng chế biến tinh bột dong riềng được xây dựng ngay tại chỗ, thu mua sản phẩm cho người dân nên diện tích cây dong riềng được mở rộng.
Được sự hướng dẫn của cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên), nông dân ở Mường Phăng đã đầu tư giống, phân bón trồng loại cây này. Theo một số hộ dân, dong riềng là loại cây dễ trồng, tốn ít công chăm sóc, ít bị sâu bệnh. không đòi hỏi mức đầu tư lớn, cho năng suất và thu nhập cao hơn trồng ngô, sắn. Nhờ trồng cây dong riềng nên nhiều gia đình ở Mường Phăng đã thoát nghèo và có tích lũy.
Trung bình mỗi héc ta dong riềng cho năng suất khoảng 65 tấn/ha. Với mức giá bình quân tại địa phương từ 1.500đ/kg thì mỗi héc ta sẽ đem lại khoảng 80 triệu đồng cho người trồng dong riềng. Xác định cây dong riềng là thế mạnh trên 6 đất Mường Phăng nên ngay từ năm 2007, Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Điện Biên Đông đã hỗ trợ mỗi hộ chế biến tinh bột dong riềng 4 triệu đồng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải tránh gây ô nhiễm môi trường cho người dân xung quanh khu vực và cũng là tạo điều kiện để các hộ chế biến thu mua kịp thời sản phẩm cho nông dân. Không chỉ ở các huyện sản xuất dong riềng truyền thống như Điện Biên, TP.Điện Biên Phủ, mà giờ đây cây trồng này còn phát triển mạnh ở những huyện khác như Điện Biên Đông, Mường Chà, Nậm Pồ… với diện tích hàng ngàn ha.
Mặc dù năm 2013, giá sản phẩm này có xuống thấp nhất so với mấy năm trước thì thu nhập vẫn ở mức khá hơn cây ngô. Hàng chục cơ sở thu mua, chế biến củ dong cũng đã ra đời, tạo nhiều việc làm cho bà con dân tộc thiểu số. Từ đó đã khuyến khích được người dân phát triển loại cây này. Việc sản xuất, chế biến tinh bột dong và làm miến dong đó cải thiện đáng kể cho cuộc sống của người dân, giải quyết nhu cầu việc làm cho đại bộ phận lao động nhàn rỗi.
Tuy nhiên sự phát triển này cũng kéo theo các hệ lụy về môi trường. Tại xã Mường Phăng, mỗi ngày có hàng trăm tấn củ dong được nghiền xát thành bột thải xuống suối hàng nghìn khối nước không qua xử lý, tạo ra một dòng nước đen bốc mùi thối gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nguồn nước thải chảy qua một số bản sau đó đổ dồn về đầu nguồn hồ Pa Khoang khiến nhiều cá bị chết. Nguy cơ nước hồ Pa Khoang bị ô nhiễm trên phạm vi rộng là đáng lo ngại.
Ở tỉnh Tuyên Quang dong riềng trồng tập trung ở Yên Sơn, Chiêm Hóa, Lâm Bình. Năm 2012 diện tích dong riềng của tỉnh lên tới 950 ha, riêng ở Yên Sơn đã trồng 600 ha, năng suất củ 66 tấn/ha. Năm 2013 diện tích dong riềng của tỉnh Tuyên Quang là gần 1.100 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Yên Sơn 650 ha, Chiêm Hóa 350 ha, Lâm Bình 70 ha….,một số cơ sở làng nghề chế biến tinh bột dong và làm miến đang đối mặt với ô nhiễm môi trường vì gặp nhiều khó khăn trong xử lý chất thải. 7 Một số địa phương của tỉnh Cao Bằng như Nguyên Bình, Hòa An… cũng là những khu vực trồng và chế biến tinh bột dong riềng làm miến dong rất nổi tiếng.
Năm 2012, ở 2 vùng này diện tích dong riềng ước đạt 1.200 ha, năng suất 60 tấn/ha, sản lượng 60.000 tấn củ tươi, nếu chế biến hết sẽ thải ra môi trường tới 45 -50.000 tấn bã thải, là một nguồn thức ăn phụ phẩm rất có ý nghĩa để phát triển chăn nuôi tại chỗ, hoặc là nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ngoài ra các tỉnh như Sơn La, Hòa bình cũng có diện tích dong riềng tăng nhanh trong mấy năm vừa qua. Các cơ sở chế biến tinh bột dong riềng có nhu cầu cao về nguyên liệu củ tươi nhưng cũng thải rất nhiều bã thải còn chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng quý mà vật nuôi có thể sử dụng nhưng trong thực tế nguồn bã thải này còn ít được dùng để chăn nuôi do những hạn chế của bã thải là độ ẩm quá cao và dễ phân hủy nên không thể dự trữ. Tại làng nghề ở Dương Liễu - Hoài Đức – Hà Nội, trung bình mỗi ngày, các hộ làm nghề thải ra từ 300- 500 tấn bã, hơn 15.000 m3 nước thải, hàng trăm tấn thải rắn, chứa các chất tẩy rửa hóa học, mang tính axít, kiềm, qua quá trình phân hủy tạo ra những mùi hôi thối nồng nặc.
Toàn bộ nguồn nước mặt tại các kênh mương bị ô nhiễm nặng. Nước thải không qua xử lý, xả trực tiếp vào hệ thống mương tiêu thoát, đổ thẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy Sự phân hủy bã dong riềng đang và tiếp tục làm nghiêm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chế biến trong đó có các làng nghề trong khi hoạt động chăn nuôi ở khu vực này lại thiếu thức ăn. Việc nghiên cứu sử dụng các loại bã trên làm thức ăn vật nuôi là một mũi tên bắn trúng 2 đích: tận dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm. Tình hình sản xuất, chế biến dong riềng tại Bắc Kạn năm 2013 Tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được chọn là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả.
Từ chỗ cây dong riềng chỉ được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xã Côn Minh (huyện Na Rì), thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây dong riềng vào canh tác. Năm 2013, diện tích trồng dong riềng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là 2. Trong đó, huyện Na Rì đạt diện tích lớn nhất là 1.113,30 ha, tiếp theo là huyện Ba Bể với 770,06 ha diện tích đất trồng, huyện Bạch Thông là 260,00 ha, Chợ Đồn 256,90 ha, Pác Nặm 219,50 ha đứng cuối cùng là những huyện: Ngân Sơn với 95,00 ha diện tích đất trồng, thị xã Bắc Kạn 87,00 ha, Chợ Mới 76,90 ha. Với diện tích dong riềng trồng được như vậy thì cả năm 2013 toàn tỉnh đạt 187.394 tấn dong củ.
Nếu như số lượng củ này được đưa vào chế biến thành tinh bột và miến dong thì lượng bã thải ra môi trường là rất lớn vì bình quân cứ 1kg miến dong sản xuất được lại thải ra 9 – 10kg bã dong tươi. Và theo báo cáo của Sở Công thương (2013) [16] cho thấy cứ 100kg củ dong tươi đưa vào chế biến thì thải ra 72 kg bã tươi. Điều này có nghĩa là sản lượng bã tươi thải ra ước tính được là 134.933 tấn nếu như đưa 187.394 tấn dong củ vào chế biến. Mà theo như kết quả phân tích thành phần hóa học bã dong riềng chúng tôi thu được thì trong 1kg bã dong tươi thải ra có chứa 5,79% tinh bột.
Như vậy, sản lượng tinh bột ước tính có trong 134.933 tấn bã thải ra mà ta có thể thu được là 7. Hàm lượng tinh bột này tương đương với 26.000 tấn sắn tươi hoặc hơn 16. Nếu như số bã thải này được đưa vào chăn nuôi khoảng 30 – 40% thôi thì cũng góp phần tạo ra sản lượng 9 thịt hơi hàng ngàn tấn cho địa phương. Đồng thời với đó là giảm thiểu đáng kể vẫn đề ô nhiễm môi trường xung quanh cơ sở chế biến dong riềng.