Đặt vấn đề Việt Nam là xứ sở của hoa Lan, là một trong 2 nước xuất xứ của các loài Lan thơm đẹp và quý hiếm của thế giới. Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nước ta có đủ điều kiện để cho hoa Lan phát triển, nhất là các loại hoa Lan bản địa. Ở Việt Nam có khoảng 91 chi và 463 loài Lan. Hoa Lan được coi là loài hoa tinh khiết, Vua của các loài hoa.
Hoa Lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa Lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi. Những năm qua có nhiều khách thăm quan du lịch trong mọi miền đất nước, có nhu cầu thưởng thức các loa ̣i hoa Lan cũng như mua làm quà lưu niệm, do giá bán các loài Lan khá cao, nên những loài Lan bản địa quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng do đó cần phải có biện pháp sưu tập, đánh giá và lưu giữ một cách hệ thống chúng để bảo tồn và phát triển thông qua việc khai thác hợp lý. Mặt khác, trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta phải có những mặt hàng đặc trưng riêng của Định Hóa để cho bạn bè trong nước và quốc tế thưởng thức. Đó không chỉ là những món ăn đặc sản, phong cảnh đẹp mà còn cần đến những loài hoa vương giả chỉ ở Việt Nam mới có mà cha ông chúng ta đã từng thưởng thức và lưu giữ.
Cho đến nay, vẫn chưa có những nghiên cứu một cách có hệ thống về thu thập, đánh giá và lưu giữ, nhất là nhân nhanh để bảo tồn một số loại Lan rừng bản địa để duy trì, phát triển cũng như tuyển chọn và tạo giống mới phục vụ cho việc đa dạng hoá sản phẩm ở nước ta, tạo công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. c 2 Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài Lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ. Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài Lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở Định Hóa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Linh Thông, Lam Vỹ và Bảo Linh huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Sự hiểu biết và sử dụng các loài Lan rừng của người dân tại khu vực nghiên cứu. - Đặc điểm sinh học các loài Lan rừng. - Phân bố của các loài Lan rừng tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài Lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài Lan trong khu vực nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài Lan nói riêng. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.
Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài Lan. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật[15] và Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [10] 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới. * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) [18] nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu.
Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo c 4 tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài. Đặc điểm của nguồn gen các loài Lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều.
Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài Lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên. Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính. Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng. Theo Roche (1975) và Frankel (1975) thì bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tượng có thể phân định được.
Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt được. * Tổng quan về các loài Lan - Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa Lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae). Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa Lan là phong Lan.
Hoa Lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong Lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa Lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch Lan mọc ở các kẽ đá.
Saprophytes: Hoại Lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài Lan (Phong Lan và Địa Lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài Lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong Lan Thạch hộc tía và Lan Kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg Lan Thạch hộc tía.
- Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực.
Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài Lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực: + Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis. + Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus… + Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes… c 6 Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dương: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi - Những nghiên cứu về Lan Cây hoa Lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được nhiều giống mới đem lại giá trị kinh tế cao.