ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ăn quả có múi là loài cây quan trọng của nhiều nƣớc trên thế giới và đƣợc sản xuất với khối lƣợng lớn nhất trong các loại cây ăn quả (khoảng 100 triệu tấn/năm) [16]. Ở Việt Nam cây có múi cũng đƣợc coi là một loại cây ăn quả quan trọng , chủ lực để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa. Diê ̣n tích cây ăn quả có múi nƣớc ta hiện nay (theo Tổng cục thống kê năm 2011) [17]khoảng 138.000 ha với sản lƣơ ̣ng hàng năm khoảng 1.000 tấ n, tâ ̣p trung chủ yế u ở miề n Nam , chiếm 70%, khoảng 91.250 ha và sản lƣợng 1.000 tấn; miền Bắc chỉ có 47.000 ha và sản lƣợng 340.000 ha cây có múi ở miền Bắc, các tỉnh miền núi phía Bắc (gồm Đông Bắc và Tây bắc) chiếm 18.625 ha, trong đó các tỉnh có diện tích lớn là: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái và Lạng Sơn [16]. Việt Nam nằm ở trung tâm phát sinh nhiều cây ăn quả có múi, cùng với sự phân hóa cao địa hình tạo nên những tiểu vùng sinh thái đa dạng có thể phát triển đƣợc nhiều giống cây ăn quả có múi đặc sản.
Cùng với nền kinh tế tăng trƣởng nhanh nhu cầu tiêu dùng quả có múi cung chƣa đủ cầu, hàng năm nƣớc ta phải nhập khẩu một lƣợng hoa quả từ Trung Quốc và một số nƣớc khác[16]. Hiện nay tăng trƣởng về diện tích và sản lƣợng cây ăn quả có múi chƣa bền vững và có chiều hƣớng bấp bênh do bệnh dịch và cơ cấu cây trồng chƣa ổn định, diện tích mới trồng tăng nhanh nhƣng diện tích phá đi cũng không nhỏ[6]. Do vậy việc lựa chọn giống cây ăn quả có múi, sạch bệnh, chất lƣợng cao đặc biệt là dễ dàng thích ứng rộng đối với điều kiện khí hậu của từng vùng từng miền trong cả nƣớc rất quan trọng. Giống cam V2 là giống cam ngọt, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, cho năng suất cao, Hiện 2 giống cam V2 đang đƣợc mở rộng sản xuất ở nhiều địa phƣơng trong nƣớc, đặc biệt ở các vùng cam truyền thống nhƣ Phủ Quỳ, Anh Sơn (Nghệ An), Cao Phong (Hoà Bình).
Thái Nguyên là một tỉnh có lợi thế phát triển cây ăn quả, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng hoa quả có múi cũng không nhỏ so với những thành phố lớn trong cả nƣớc. Hiện nay, giống cam V2 đang đƣợc trồng thí điểm trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên để kiểm chứng tính thích nghi của giống cam này đối với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên. Việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của giống cam V2 đã và đang đƣợc trồng thí điểm tại Thái Nguyên là cơ sở quan trọng cung cấp thông tin về đặc điểm cơ bản của giống cam này khi đƣợc trồng tại địa bàn của tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của giống cam V2 tại Thái Nguyên”.
MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh trƣởng, ra hoa của giống cam V2 đƣợc trồng tại xã Tức Tranh, Huyện Phú Lƣơng, Tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài Cần phải đánh giá đƣợc một số đặc điểm chính về sinh trƣởng, hình thái, ra hoa, đậu quả, và tình hình sâu bệnh hại đối với cam V2 tại xã Tức Tranh, Huyện Phú Lƣơng, Tỉnh Thái Nguyên 1. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa trong khoa học - Sinh viên biết cách lập đề cƣơng chi tiết đề tài tốt nghiệp, biết cách viết một đề tài. - Giúp sinh viên biết phƣơng pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. 3 - Rèn luyện cho sinh viên phong cách làm việc có nguyên tắc và thứ tự ƣu tiên. Có quan điểm và chứng kiến riêng đúng đắn.
Ý nghĩa trong thực tiễn Là cơ sở quan trọng để đánh giá tiềm năng của cam V2 trồng tại địa phƣơng có khả thi hay không, góp phần hạn chế sự lãng phí và những tổn thất không đáng có đối với những ngƣời dự định trồng cam V2 tại địa điểm xã Tức Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ GIỚI THIỆU HỌ CAM QUÝT 2. Cơ sở khoa học Cam đƣợc xếp vào loại cây ăn quảlâu năm, quá trình sinh trƣởng, ra hoa kết quảchịu ảnh hƣởng nhiều của các yếu tốnội tại (di truyền) và các yếu tốngoại cảnh nhƣnhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,.
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳsống một năm, cam thƣờng ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông). Quá trình ra lộc ởcam có liên quan khá nhiều đến hiện tƣợng ra quảcách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộphận dƣới mặt đất và bộphận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽlà tiền đềcho sựra hoa kết quảcủa năm sau[9]. Nếu có các biện pháp kỹthuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽhạn chếhoặc loại bỏhoàn toàn hiện tƣợng ra quả cách năm, bồi dƣỡng cành mẹcủa cành quảnăm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộphận dƣới và trên mặt đất, hạn chếsâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng của cam.Đặc điểm thực vật học của họ cam quýt 2.1 Bộ rễ Họ cam quýt có bộ rễ ăn nông. Ekimop (Nga) thì biểu bì của rễ non của họ cam quýt có nấm cộng sinh.
Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt nhƣ vai trò của lông hút các chất dinh dƣỡng và nƣớc nhƣ những cây trồng khác. Sự phân bố rễ của cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nƣớc ngầm và chế độ canh tác, chăm bón nhƣng nhìn chung rễ cam quýt ăn nông từ 0 - 30 cm. Trần Nhƣ Ý và cs ( 2000) [8]. Thân, cành, lá * Thân cành: Trong 1 năm cam quýt có nhiều đợt cành: + Cành xuân nảy mầm vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa quả, cành thƣờng ngắn, mật độ lá dày thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào vụ thu.
+ Cành hè nảy mầm vào tháng 5, 6, 7 là cành dài nhất, cành có mật độ lá thƣa và to. + Cành thu nảy mầm vào tháng 8, 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành xuân và cành hè cùng năm. + Cành đông nảy mầm vào tháng 11, 12 thƣờng sinh ra trên cành quả vô hiệu, cành đông là cành yếu nhất trên các loại cành. - Cành cam quýt đƣợc phân chia làm 3 loại: + Cành mẹ: Là cành sinh ra cành quả.
Nó có thể là cành xuân, hè, thu năm trƣớc. Qua theo dõi cho thấy tuỳ theo giống, thƣờng cành thu hoặc cành hè làm cành mẹ thì số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cao. + Cành dinh dƣỡng: Cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh có nhiệm vụ chính là quang hợp, thực ra giữa cành mẹ và cành dinh dƣỡng không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dƣỡng, sang năm có thể là cành mẹ. + Cành quả: Tuỳ giống cam quýt mà cành quả có độ dài từ 3 - 25 cm thông thƣờng từ 3 - 9 cm.
Cành quả có lá thƣờng đậu quả tốt hơn cành quả không có lá. * Lá: Cam quýt vốn có lá kép song đến nay dấu vết còn lại là eo lá dƣới gốc lá đơn, lá là một trong những chỉ tiêu để phân loại giữa các giống, tuổi thọ của lá thay đổi tuỳ điều kiện khí hậu và điều kiện dinh dƣỡng của cây. Ở Việt Nam trung bình tuổi thọ của lá từ 15 - 24 tháng, ở vùng á nhiệt đới có thể dài hơn, tuỳ theo giống và mùa lá có thể khác nhau về hình dạng, độ lớn, màu sắc… Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lƣợng, nhất là với trọng lƣợng quả[8]. Hoa, quả, hạt * Hoa: Công thức hoa: K5 C5A(20 - 40)G(8 -15) 6 Là loại hoa đầy đủ, hoa thƣờng ra đồng thời với cành non và thƣờng ra rộ.
Một cây cam có thể nở tới 60.000 hoa nhƣng chỉ cần 1% đậu quả là có thể đạt sản lƣợng 100kg/cây. Vì vậy hoa quả thƣờng rụng nhiều, có giống yêu cầu thụ phấn nhƣng cũng có giống không thụ phấn cũng đậu quả nhƣ cam Navel (tỷ lệ đậu quả của cam là 3 - 11%) [4]. * Quả: Khi quả còn xanh thì chứa nhiều axit, đến khi quả chín thì lƣợng axit giảm, hàm lƣợng đƣờng và chất tan tăng lên. Cấu tạo quả gồm hai phần: Vỏ quả và thịt quả.
+ Vỏ quả: Vỏ ngoài và vỏ giữa. + Thịt quả: Bộ phận chính của thịt quả là các tép, màu của thịt quả phụ thuộc vào sắc tố vàng da đỏ. Trong dịch nƣớc quả còn chứa các hạt dầu thơm quyết định hƣơng vị quả. * Hạt: Tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thƣớc, số lƣợng, màu sắc và phôi hạt.
Các loại quả thuộc cây có múi thuộc hạt đa phôi [4].Yêu cầu sinh thái học của họ cam quýt Nhiệt độ Nhiệt độ phù hợp cho cam quýt phát triển là từ 27 – 320C, một báo cáo khác lại cho rằng nhiệt độ thích hợp nhất với cam quýt là từ 26 – 300C [17]. Nhiệt độ và biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hƣởng khá lớn đến phẩm chất cam quýt, thông thƣờng cam quýt vùng á nhiệt đới lạnh có chất lƣợng, màu quả tốt hơn so với cam quýt vùng nhiệt đới. Nhiệt độ cao ở vùng xứ nóng thƣờng làm vỏ cam quýt vẫn còn xanh khi quả đã chín. Nhiệt độ hạ thấp vào thời kỳ chín giúp quả có màu tƣơi đậm.
Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng ảnh hƣởng khá lớn đến phân hoá chồi hoa, khi nhiệt độ ban ngày và đêm là 20– 15 0C thì tỷ lệ chồi hoa nhiều hơn so với nhiệt độ ngày đêm là 20 – 18 0C hoặc 21 – 17 0 C. Khi nhiệt độ xuống dƣới -3 hoặc -4 0C thì lá bắt đầu bị chết do rét, nếu xuống dƣới -7 0C thì cây bị chết hoàn toàn, tuy nhiên nhiệt độ cao lại thuận lợi cho việc ra lộc [1]. 7 Nước Ẩm độ không khí là một yếu tố khá quan trọng ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của cam quýt, khi ẩm độ không khí cao làm cây ít thoát hơi nƣớc, ít tiêu hao năng lƣợng cho quá trình hút nƣớc. Nếu ẩm độ quá cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh hại phát triển nhƣ bệnh thối gốc, bệnh ghẻ, bệnh rám quả do nấm… ẩm độ quá cao sẽ hấp thu nhiều tia tử ngoại làm màu sắc cam quýt ít tƣơi thắm hơn, nhiệt độ cùng với ẩm độ quá cao làm quả phồng xốp chất lƣợng kém.