Nghiên Cứu Biện Pháp Kỹ Thuật Trồng Đậu Tương Xuân Trên Đất Dốc Ở Tỉnh Bắc Kạn

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2010

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

PHỤ LỤC

DANH MỤC ẢNH

DANH MỤC VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và trong nước

1.2. Các yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

1.3. Cơ sở khoa học của việc tăng năng suất cây đậu tương

1.4. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương

1.5. Điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh Bắc Kạn

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Phân tích và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả điều tra tình hình sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn

3.2. Một số sâu bệnh hại chính trên cây đậu tương xuân trên đất dốc

3.3. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn

3.4. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn

3.5. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng mô hình thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG CÁC THÍ NGHIỆM

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kỹ Thuật Trồng Đậu Tương Xuân Tại Bắc Kạn

Đậu tương (Glycine max L. Merrill), hay còn gọi là đậu nành, là cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Hạt đậu tương được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu công nghiệp và là mặt hàng xuất khẩu giá trị. Hạt đậu tương giàu dinh dưỡng, với hàm lượng protein trung bình 38-40%, lipit 15-20%, hydrat cacbon 15-16%, cùng nhiều vitamin và khoáng chất quan trọng. Protein đậu tương có chất lượng tốt nhất trong các protein thực vật, được chế biến thành nhiều món ăn dinh dưỡng như đậu phụ, giá đỗ, tương, xì dầu và thịt nhân tạo. Kỹ thuật trồng đậu tương đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng.

1.1. Vai Trò Của Đậu Tương Trong Nông Nghiệp Bắc Kạn

Tại tỉnh Bắc Kạn, đậu tương là cây trồng ngắn ngày quan trọng thứ ba sau lúa và ngô. Đây là cây trồng truyền thống, tuy nhiên, người dân chủ yếu trồng vụ hè với diện tích 2,3-2,5 nghìn ha. Năng suất đậu tương còn thấp so với tiềm năng và so với các vùng khác. Việc áp dụng kỹ thuật canh tác đậu tương trên đất dốc phù hợp là yếu tố then chốt để cải thiện tình hình.

1.2. Tiềm Năng Phát Triển Đậu Tương Xuân Trên Đất Dốc

Bắc Kạn có diện tích đất dốc lớn, thích hợp cho việc mở rộng diện tích trồng đậu tương. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa đậu tương vào vụ xuân có thể tăng thu nhập cho người dân và cải tạo đất. Nghiên cứu và ứng dụng quy trình trồng đậu tương hiệu quả trên đất dốc là cần thiết để khai thác tiềm năng này.

II. Thách Thức Trong Trồng Đậu Tương Xuân Trên Đất Dốc

Việc trồng đậu tương xuân trên đất dốc ở Bắc Kạn đối mặt với nhiều thách thức. Đất dốc dễ bị xói mòn, bạc màu, giữ nước kém. Thời tiết vụ xuân thường có mưa phùn, ẩm ướt, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển. Năng suất đậu tương còn thấp do giống chưa phù hợp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, và thiếu đầu tư. Cần có giải pháp tổng thể để vượt qua những khó khăn này.

2.1. Xói Mòn Đất Và Quản Lý Độ Ẩm Cho Đậu Tương

Xói mòn là vấn đề nghiêm trọng trên đất dốc, làm mất đi lớp đất màu mỡ và dinh dưỡng. Kỹ thuật làm đất trồng đậu tương cần chú trọng đến việc bảo vệ đất, hạn chế xói mòn. Quản lý độ ẩm cũng rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn cây con và ra hoa, kết trái. Các biện pháp giữ ẩm, tưới tiêu hợp lý là cần thiết.

2.2. Sâu Bệnh Hại Đậu Tương Và Biện Pháp Phòng Trừ

Vụ xuân là thời điểm sâu bệnh phát triển mạnh, gây hại cho cây đậu tương. Các loại sâu bệnh thường gặp như sâu ăn lá, rệp, bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá. Cần có biện pháp phòng trừ tổng hợp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, và chọn giống đậu tương kháng bệnh để giảm thiểu thiệt hại.

2.3. Giống Đậu Tương Địa Phương Và Năng Suất

Các giống đậu tương địa phương thường có năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém. Cần có nghiên cứu, khảo nghiệm để chọn ra các giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của Bắc Kạn. Đồng thời, cần có biện pháp cải tạo giống địa phương để nâng cao năng suất.

III. Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Đậu Tương Xuân Năng Suất Cao

Để đạt năng suất cao, cần áp dụng kỹ thuật trồng đậu tương tiên tiến, bao gồm chọn giống, thời vụ, mật độ, phân bón, và phòng trừ sâu bệnh. Cần tuân thủ quy trình kỹ thuật, kết hợp kinh nghiệm thực tiễn, và điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

3.1. Chọn Giống Đậu Tương Phù Hợp Với Đất Dốc Bắc Kạn

Chọn giống là yếu tố quan trọng hàng đầu. Nên chọn các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, và thích hợp với điều kiện đất dốc. Các giống đậu tương ĐT22, DT84 có thể được xem xét. Cần tìm hiểu kỹ đặc tính của từng giống để lựa chọn phù hợp.

3.2. Xác Định Thời Vụ Gieo Trồng Đậu Tương Xuân Tối Ưu

Thời vụ gieo trồng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương. Nên gieo trồng vào thời điểm thời tiết ấm áp, đủ ẩm, và tránh các đợt rét đậm, rét hại. Theo nghiên cứu, thời vụ gieo thích hợp cho trồng đậu tương xuân ở Bắc Kạn là từ tháng 2 đến tháng 3.

3.3. Mật Độ Gieo Trồng Và Khoảng Cách Trồng Đậu Tương

Mật độ gieo trồng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng, và độ thông thoáng của ruộng đậu. Nên gieo với mật độ vừa phải, đảm bảo đủ ánh sáng cho cây phát triển, và hạn chế sâu bệnh. Khoảng cách trồng thích hợp là 40-50cm giữa các hàng, và 10-15cm giữa các cây.

IV. Bí Quyết Bón Phân Cho Đậu Tương Xuân Trên Đất Dốc

Bón phân đầy đủ và cân đối là yếu tố quan trọng để tăng năng suất đậu tương. Cần bón lót và bón thúc, sử dụng phân hữu cơ và phân vô cơ. Tỷ lệ phân bón cần được điều chỉnh phù hợp với loại đất, giống đậu, và giai đoạn sinh trưởng của cây. Bón phân đúng cách sẽ giúp cây phát triển khỏe mạnh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, và cho năng suất cao.

4.1. Sử Dụng Phân Hữu Cơ Cải Tạo Đất Trồng Đậu Tương

Phân hữu cơ cho đậu tương có vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu, và cung cấp dinh dưỡng cho cây. Nên sử dụng phân chuồng ủ hoai, phân xanh, hoặc phân hữu cơ vi sinh. Bón lót phân hữu cơ trước khi gieo trồng sẽ giúp cây con phát triển tốt.

4.2. Bón Phân Vô Cơ Cân Đối Cho Đậu Tương Xuân

Phân vô cơ cung cấp nhanh chóng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây đậu tương. Nên bón cân đối NPK, và bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng như Bo, Mo. Tỷ lệ phân bón NPK thích hợp là 30-60kg N/ha, 60-90kg P2O5/ha, và 30-60kg K2O/ha.

4.3. Bón Thúc Đậu Tương Theo Từng Giai Đoạn Sinh Trưởng

Bón thúc giúp cây đậu tương phát triển tốt trong từng giai đoạn sinh trưởng. Bón thúc lần 1 khi cây có 3-5 lá thật, bón thúc lần 2 khi cây bắt đầu ra hoa. Sử dụng phân đạm và kali để bón thúc, giúp cây phát triển thân lá và ra hoa, kết trái.

V. Ứng Dụng Thực Tế Mô Hình Trồng Đậu Tương Xuân Hiệu Quả

Nghiên cứu đã xây dựng thành công nhiều mô hình thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các mô hình này áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, từ chọn giống, thời vụ, mật độ, phân bón, đến phòng trừ sâu bệnh và quản lý đất đai. Kết quả cho thấy, năng suất đậu tương có thể tăng lên 20-30% so với phương pháp truyền thống.

5.1. Quy Trình Kỹ Thuật Thâm Canh Đậu Tương Xuân Đề Xuất

Quy trình kỹ thuật thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc bao gồm các bước sau: Chọn giống năng suất cao, gieo trồng đúng thời vụ, bón phân cân đối, tưới tiêu hợp lý, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, và thu hoạch đúng thời điểm. Cần tuân thủ quy trình này để đạt năng suất cao nhất.

5.2. Hiệu Quả Kinh Tế Của Mô Hình Trồng Đậu Tương Cải Tiến

Các mô hình trồng đậu tương cải tiến cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt. Năng suất tăng, chi phí giảm, và lợi nhuận tăng lên đáng kể. Điều này giúp cải thiện đời sống của người dân, và khuyến khích họ áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến.

VI. Kết Luận Và Triển Vọng Phát Triển Đậu Tương Tại Bắc Kạn

Nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ thuật trồng đậu tương trên đất dốc tại Bắc Kạn. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp kỹ thuật phù hợp, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của cây đậu tương. Cần tiếp tục nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, và hỗ trợ người dân để phát triển bền vững cây đậu tương.

6.1. Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cây Đậu Tương

Để phát triển bền vững cây đậu tương, cần có chính sách hỗ trợ về giống, phân bón, kỹ thuật, và thị trường. Cần khuyến khích người dân áp dụng các biện pháp canh tác bền vững, bảo vệ môi trường, và nâng cao chất lượng sản phẩm.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Đậu Tương Trên Đất Dốc

Cần tiếp tục nghiên cứu về giống đậu tương chịu hạn, kháng bệnh, và thích hợp với điều kiện đất dốc. Cần nghiên cứu về các biện pháp canh tác bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Cần nghiên cứu về thị trường tiêu thụ đậu tương, và xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và đứng hàng thứ 4 trong những cây lương thực và thực phẩm quan trọng sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á.

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây thể hiện trong Bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003-2007 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2003 83,6 22,80 190,8 2004 91,6 22,43 205,5 2005 92,4 23,18 214,2 2006 94,9 23,43 222,4 2007 94,9 22,78 216,1 (Nguồn: FAO, 2008) [87]. Số liệu ở Bảng 1.1 cho thấy diện tích gieo trồng và sản lượng đậu tương trên thế giới tăng nhanh từ năm 2003 đến năm 2004 và tăng chậm trong giai đoạn năm 2004 đến 2007. Trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2007, diện tích trồng đậu tương trên thế giới đã tăng hơn 11,3 triệu ha.

Năng suất đậu tương trên thế giới trong 5 năm qua tương đối ổn định biến động từ 22-23 tạ/ha. Do diện tích gieo trồng tăng đã làm sản lượng đậu tương trên thế giới, năm 2007 đã tăng thêm gần 26 triệu tấn so với năm 2003. 7 Các nước trồng đậu tương đứng hàng đầu trên thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina, Canada và Trung Quốc (Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương năm 2007 của một số nước sản xuất đậu tương chính trên thế giới Tên nước Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 30,56 23,13 70,70 Braxin 20,63 28,19 58,19 Argentina 16,10 28,26 45,50 Trung Quốc 8,90 17,50 15,60 ( Nguồn: FAO, 2008) [87] Mỹ là nước đứng đầu về diện tích cũng như sản lượng theo thống kê của FAO thì diện tích của Mỹ năm 2007 là 30,56 triệu ha với sản lượng là 70,7 triệu tấn.

Đứng thứ hai sau Mỹ là Braxin với diện tích năm 2007 là 20,63 triệu ha sản lượng đạt 58,19 triệu tấn, và đứng thứ 3 là Argentina và thứ 4 là Trung Quốc. Tuy nhiên năng suất đậu tương của Mỹ chỉ đạt 23,13 tạ/ha đứng thứ 3 sau Argentina và Braxin. Tình hình sản xuất đậu tương trong nước Ở Việt nam. trong những năm gần đây cây đậu tương đã phát triển khá nhanh cả về diện tích và năng suất đáp ứng một tỷ lệ đáng kể cho tiêu dùng nội địa.3 cho thấy trong 5 năm gần đây diện tích gieo trồng đậu tương của nước ta đã tăng khá nhanh, năm 2007 đã đạt 280 nghìn ha tăng 115 nghìn ha so với năm 2003 (tăng 69,7%).

Năng suất đậu tương bình quân của nước ta cũng có sự cải thiện đáng kể song vẫn còn thấp, năm cao nhất 2007 mới đạt 14,64 tạ/ha tương đương khoảng 64% so với năng suất bình quân trên thế giới. Với việc tăng cả diện tích gieo trồng và năng suất nên sản lượng đậu 8 tương năm 2007 đã đạt được 410 nghìn tấn vượt hơn năm 2003 tới 190 nghìn tấn (tăng 86%). Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam từ năm 2003-2007 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2003 165,6 13,27 219,7 2004 183,8 13,38 245,9 2005 204,1 14,34 292,7 2006 185,8 13,90 258,2 2007 280,0 14,64 410,0 (Nguồn: FAO, 2008) [87] Theo Lê Quốc Hưng (2007) [24], nước ta có một tiềm năng rất lớn để mở rộng diện tích trồng đậu tương cả 3 vụ xuân, hè và đông và diện tích có thể đạt 1,5 triệu ha, trong đó phân bố ở các vùng như sau: vùng Đồng bằng Sông Hồng có thể mở rộng diện tích tới 600 nghìn ha đậu tương vụ đông trên đất 2 lúa, miền núi phía Bắc 400 nghìn ha trên các loại đất dốc, Bắc trung bộ 300 nghìn ha và Tây Nguyên là 100 nghìn ha. Quỹ đất đang có này là một lợi thế để nước ta phát triển sản xuất đậu tương đảm bảo nhu cầu trong nước.

Các yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 1. Yêu cầu nhiệt độ Cây đậu tương có nguồn gốc ở Trung Quốc nên đậu tương là cây ưa ấm [14]. Tổng tích ôn của cây đậu tương biến động trung bình trong khoảng 1700-2700oC [47]. Tuy nhiên tổng tích ôn của cây đậu tương thay đổi theo thời gian sinh trưởng và đặc điểm của giống.

Những giống chín sớm (75-80 ngày) có tổng tích ôn chỉ vào khoảng 1700-2200oC, trong khi đó tổng tích ôn cho giống dài ngày (140-160 ngày) là 3200-3800oC [129]. 9 Cây đậu tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 10-40oC, tuy nhiên nhiệt độ tối thiểu và tối đa đảm bảo cho cây đậu tương sinh trưởng thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây. Phạm Văn Thiều (2002) [47] cho rằng nhiệt độ tối thích cho thời kỳ nảy mầm là từ 16-26oC (6- 7 ngày đã mọc mầm), nếu nhiệt độ ở mức 10-12oC quá trình mọc mầm sẽ kéo dài 15-16 ngày, ngược lại nếu nhiệt độ cao hơn 40oC hạt cũng không mọc được. Thời kỳ cây con, từ khi cây ra lá đơn đến khi cây được 3 lá kép cây đậu tương có khả năng chịu rét tốt.

Thời kỳ cây có lá đơn có thể chịu được nhiệt độ dưới 0oC trong thời gian ngắn, tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là 22-27oC [47]. Thời kỳ ra hoa kết quả cây đậu tương cần nhiệt độ từ 28-37oC, nếu gặp nhiệt độ thấp dưới 18oC và cao hơn 38oC sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt kém [128]. Ở nước ta đậu tương xuân có thể chịu ảnh hưởng xấu do nhiệt độ thấp ở thời kỳ mọc mầm, có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm và kéo dài thời gian nảy mầm do đó đã làm giảm mật độ thu hoạch [49]. Yêu cầu về ánh sáng Đậu tương là một loại cây ngày ngắn điển hình, nên ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến sinh trưởng phát triển của cây này.

Trần Đình Long và các cs, (2001) [31] cho thấy ở Việt Nam cả giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn đều phản ứng với chu kỳ chiếu sáng, sự biến động của chu kỳ chiếu sáng có ảnh hưởng tới sinh trưởng sinh thực cả trước và sau hoa nở. Sự tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, lúc này ánh sáng ngày ngắn sẽ làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm giảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài của các lóng [129]. Trong thời kỳ ra hoa và hình thành hạt số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6-12 giờ, thời kỳ này nếu gặp điều kiện chiếu sáng ngày dài, thời gian chiếu sáng trên 18 giờ/ngày thì cây sẽ không ra hoa được [47]. Tính mẫm cảm với chu kỳ 10 của cây đậu tương tùy thuộc vào đặc tính của giống.

Các giống chín sớm thường ít mẫm cảm với chu kỳ chiếu sáng, còn các giống càng dài ngày mẫm cảm mạnh hơn với chu kỳ chiếu sáng [129]. Cường độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây đậu tương. Cường độ ánh sáng yếu sẽ làm cho các lóng vươn dài và quang hợp sẽ bị giảm, ngược lại cường độ bức xạ mặt trời quá mạnh cũng có thể gây bất lợi cho cây đậu tương, nó làm tăng nhiệt độ lá do đó làm tăng cường độ thoát hơi nước ở tốc độ lớn hơn tốc độ của dòng nước hút qua rễ, nên thường làm giảm hiệu suất quang hợp dẫn đến năng suất giảm [14]. Trong điều kiện độ dài ngày thích hợp, chỉ cần 30% cường độ của bức xạ mặt trời là cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển bình thường, vì vậy có thể trồng xen đậu tương với nhiều loại cây trồng khác [47].

Yêu cầu về nước Tuy là cây trồng cạn, nhưng đậu tương lại cần nhiều nước, vì vậy nước luôn là một trong những yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậu tương. Trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ khi gieo đến khi thu hoạch nhu cầu nước của cây đậu tương dao động từ 350 đến 600 mm/vụ [19]. Ở giai đoạn nảy mầm, đất đủ ẩm thì hạt mới có thể nảy mầm nhanh được. Độ ẩm đất 50% là thích hợp, nếu khô quá hạt không mọc được, hạt nằm lâu dưới đất sẽ bị thối, ngược lại ướt quá làm cho đất bí thiếu không khí hạt cũng không mọc được và hạt cũng bị thối [47].

Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng của cây phụ thuộc vào cường độ quang hợp, hiệu suất quang hợp thuần và tổng diện tích lá. Tất cả các quá trình này đều bị ảnh hưởng nếu thiếu nước. Khi cây đậu tương bị thiếu nước, tổng sản phẩm quang hợp sẽ giảm do tỷ lệ CO2 hấp thu trên một đơn vị diện tích lá giảm và diện tích quang hợp giảm do sự phát triển của bộ 11 lá kém và chóng tàn [121]. Khi cây đậu tương gặp hạn, thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng sẽ bị rút ngắn, sự hình thành các đốt và lóng bị chậm lại [83].

Sinh trưởng của tế bào và lá nhạy cảm với thiếu nước hơn so với quang hợp [121]. Thực tế tốc độ phát triển lá giảm thường là dấu hiệu đầu tiên của hiện tượng cây thiếu nước. Nếu gặp ngày nhiệt độ cao, gió khô sẽ làm lá cây bị héo, cây có thể bị vàng làm giảm các hoạt động đồng hóa của cây ảnh hưởng đến năng suất. Độ ẩm của đất có tương quan thuận với chiều cao cây, đường kính, số đốt, số hoa và tỷ lệ đậu quả và số hạt [92].

Giai đoạn ra hoa và làm quả là giai đoạn cây đậu tương rất nhạy cảm với thiếu nước. Phần lớn sự biến động về năng suất đậu tương là do biến động về lượng nước cung cấp cho cây trong thời kỳ ra hoa làm quả [14]. Khi bị hạn trong giai đoạn này, thời gian hình thành hoa và làm quả sẽ bị rút ngắn và hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, thời gian chín bị rút ngắn nên quá trình vào chắc của hạt bị cản trở dẫn đến năng suất thấp [83]. Giai đoạn quả vào chắc là giai đoạn cây đậu tương cần nhiều nước nhất, nếu thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm năng suất hạt giảm nhiều hơn các giai đoạn trước.

Brevedan và Egli (2003) [71] cho biết cây đậu tương chỉ cần bị hạn trong thời kỳ quả vào chắc, năng suất hạt có thể giảm tới 39% và kích thước hạt có thể giảm từ 25-33%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về một số nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực y tế và công nghệ, với những điểm nổi bật về sự phát triển và cải tiến trong các phương pháp điều trị và nghiên cứu. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ hiện đại trong y học, từ việc khảo sát hình ảnh y tế đến việc phát triển các vật liệu xúc tác mới.

Để mở rộng kiến thức của bạn, hãy khám phá thêm về Khảo sát dạng khí hóa và thể tích xoang trán trên ct scan mũi xoang tại bệnh viện tai mũi họng thành phố hồ chí minh từ tháng 11, nơi bạn có thể tìm hiểu về các phương pháp chẩn đoán hình ảnh tiên tiến. Bên cạnh đó, tài liệu Điều chế và đánh giá hoạt tính quang xúc tác của vật liệu cấu trúc nano perovskite kép la2mntio6 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vật liệu mới trong nghiên cứu xúc tác. Cuối cùng, tài liệu Kết quả phẫu thuật u buồng trứng ở phụ nữ có thai tại bệnh viện phụ sản hà nội cung cấp thông tin quý giá về các ca phẫu thuật trong bối cảnh y tế hiện đại.

Mỗi liên kết trên là một cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, mở rộng hiểu biết và cập nhật những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực này.