CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và đứng hàng thứ 4 trong những cây lương thực và thực phẩm quan trọng sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây thể hiện trong Bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003-2007 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2003 83,6 22,80 190,8 2004 91,6 22,43 205,5 2005 92,4 23,18 214,2 2006 94,9 23,43 222,4 2007 94,9 22,78 216,1 (Nguồn: FAO, 2008) [87]. Số liệu ở Bảng 1.1 cho thấy diện tích gieo trồng và sản lượng đậu tương trên thế giới tăng nhanh từ năm 2003 đến năm 2004 và tăng chậm trong giai đoạn năm 2004 đến 2007. Trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2007, diện tích trồng đậu tương trên thế giới đã tăng hơn 11,3 triệu ha.
Năng suất đậu tương trên thế giới trong 5 năm qua tương đối ổn định biến động từ 22-23 tạ/ha. Do diện tích gieo trồng tăng đã làm sản lượng đậu tương trên thế giới, năm 2007 đã tăng thêm gần 26 triệu tấn so với năm 2003. 7 Các nước trồng đậu tương đứng hàng đầu trên thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina, Canada và Trung Quốc (Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương năm 2007 của một số nước sản xuất đậu tương chính trên thế giới Tên nước Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 30,56 23,13 70,70 Braxin 20,63 28,19 58,19 Argentina 16,10 28,26 45,50 Trung Quốc 8,90 17,50 15,60 ( Nguồn: FAO, 2008) [87] Mỹ là nước đứng đầu về diện tích cũng như sản lượng theo thống kê của FAO thì diện tích của Mỹ năm 2007 là 30,56 triệu ha với sản lượng là 70,7 triệu tấn.
Đứng thứ hai sau Mỹ là Braxin với diện tích năm 2007 là 20,63 triệu ha sản lượng đạt 58,19 triệu tấn, và đứng thứ 3 là Argentina và thứ 4 là Trung Quốc. Tuy nhiên năng suất đậu tương của Mỹ chỉ đạt 23,13 tạ/ha đứng thứ 3 sau Argentina và Braxin. Tình hình sản xuất đậu tương trong nước Ở Việt nam. trong những năm gần đây cây đậu tương đã phát triển khá nhanh cả về diện tích và năng suất đáp ứng một tỷ lệ đáng kể cho tiêu dùng nội địa.3 cho thấy trong 5 năm gần đây diện tích gieo trồng đậu tương của nước ta đã tăng khá nhanh, năm 2007 đã đạt 280 nghìn ha tăng 115 nghìn ha so với năm 2003 (tăng 69,7%).
Năng suất đậu tương bình quân của nước ta cũng có sự cải thiện đáng kể song vẫn còn thấp, năm cao nhất 2007 mới đạt 14,64 tạ/ha tương đương khoảng 64% so với năng suất bình quân trên thế giới. Với việc tăng cả diện tích gieo trồng và năng suất nên sản lượng đậu 8 tương năm 2007 đã đạt được 410 nghìn tấn vượt hơn năm 2003 tới 190 nghìn tấn (tăng 86%). Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam từ năm 2003-2007 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2003 165,6 13,27 219,7 2004 183,8 13,38 245,9 2005 204,1 14,34 292,7 2006 185,8 13,90 258,2 2007 280,0 14,64 410,0 (Nguồn: FAO, 2008) [87] Theo Lê Quốc Hưng (2007) [24], nước ta có một tiềm năng rất lớn để mở rộng diện tích trồng đậu tương cả 3 vụ xuân, hè và đông và diện tích có thể đạt 1,5 triệu ha, trong đó phân bố ở các vùng như sau: vùng Đồng bằng Sông Hồng có thể mở rộng diện tích tới 600 nghìn ha đậu tương vụ đông trên đất 2 lúa, miền núi phía Bắc 400 nghìn ha trên các loại đất dốc, Bắc trung bộ 300 nghìn ha và Tây Nguyên là 100 nghìn ha. Quỹ đất đang có này là một lợi thế để nước ta phát triển sản xuất đậu tương đảm bảo nhu cầu trong nước.
Các yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 1. Yêu cầu nhiệt độ Cây đậu tương có nguồn gốc ở Trung Quốc nên đậu tương là cây ưa ấm [14]. Tổng tích ôn của cây đậu tương biến động trung bình trong khoảng 1700-2700oC [47]. Tuy nhiên tổng tích ôn của cây đậu tương thay đổi theo thời gian sinh trưởng và đặc điểm của giống.
Những giống chín sớm (75-80 ngày) có tổng tích ôn chỉ vào khoảng 1700-2200oC, trong khi đó tổng tích ôn cho giống dài ngày (140-160 ngày) là 3200-3800oC [129]. 9 Cây đậu tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 10-40oC, tuy nhiên nhiệt độ tối thiểu và tối đa đảm bảo cho cây đậu tương sinh trưởng thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây. Phạm Văn Thiều (2002) [47] cho rằng nhiệt độ tối thích cho thời kỳ nảy mầm là từ 16-26oC (6- 7 ngày đã mọc mầm), nếu nhiệt độ ở mức 10-12oC quá trình mọc mầm sẽ kéo dài 15-16 ngày, ngược lại nếu nhiệt độ cao hơn 40oC hạt cũng không mọc được. Thời kỳ cây con, từ khi cây ra lá đơn đến khi cây được 3 lá kép cây đậu tương có khả năng chịu rét tốt.
Thời kỳ cây có lá đơn có thể chịu được nhiệt độ dưới 0oC trong thời gian ngắn, tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là 22-27oC [47]. Thời kỳ ra hoa kết quả cây đậu tương cần nhiệt độ từ 28-37oC, nếu gặp nhiệt độ thấp dưới 18oC và cao hơn 38oC sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt kém [128]. Ở nước ta đậu tương xuân có thể chịu ảnh hưởng xấu do nhiệt độ thấp ở thời kỳ mọc mầm, có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm và kéo dài thời gian nảy mầm do đó đã làm giảm mật độ thu hoạch [49]. Yêu cầu về ánh sáng Đậu tương là một loại cây ngày ngắn điển hình, nên ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến sinh trưởng phát triển của cây này.
Trần Đình Long và các cs, (2001) [31] cho thấy ở Việt Nam cả giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn đều phản ứng với chu kỳ chiếu sáng, sự biến động của chu kỳ chiếu sáng có ảnh hưởng tới sinh trưởng sinh thực cả trước và sau hoa nở. Sự tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, lúc này ánh sáng ngày ngắn sẽ làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm giảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài của các lóng [129]. Trong thời kỳ ra hoa và hình thành hạt số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6-12 giờ, thời kỳ này nếu gặp điều kiện chiếu sáng ngày dài, thời gian chiếu sáng trên 18 giờ/ngày thì cây sẽ không ra hoa được [47]. Tính mẫm cảm với chu kỳ 10 của cây đậu tương tùy thuộc vào đặc tính của giống.
Các giống chín sớm thường ít mẫm cảm với chu kỳ chiếu sáng, còn các giống càng dài ngày mẫm cảm mạnh hơn với chu kỳ chiếu sáng [129]. Cường độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây đậu tương. Cường độ ánh sáng yếu sẽ làm cho các lóng vươn dài và quang hợp sẽ bị giảm, ngược lại cường độ bức xạ mặt trời quá mạnh cũng có thể gây bất lợi cho cây đậu tương, nó làm tăng nhiệt độ lá do đó làm tăng cường độ thoát hơi nước ở tốc độ lớn hơn tốc độ của dòng nước hút qua rễ, nên thường làm giảm hiệu suất quang hợp dẫn đến năng suất giảm [14]. Trong điều kiện độ dài ngày thích hợp, chỉ cần 30% cường độ của bức xạ mặt trời là cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển bình thường, vì vậy có thể trồng xen đậu tương với nhiều loại cây trồng khác [47].
Yêu cầu về nước Tuy là cây trồng cạn, nhưng đậu tương lại cần nhiều nước, vì vậy nước luôn là một trong những yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậu tương. Trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ khi gieo đến khi thu hoạch nhu cầu nước của cây đậu tương dao động từ 350 đến 600 mm/vụ [19]. Ở giai đoạn nảy mầm, đất đủ ẩm thì hạt mới có thể nảy mầm nhanh được. Độ ẩm đất 50% là thích hợp, nếu khô quá hạt không mọc được, hạt nằm lâu dưới đất sẽ bị thối, ngược lại ướt quá làm cho đất bí thiếu không khí hạt cũng không mọc được và hạt cũng bị thối [47].
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng của cây phụ thuộc vào cường độ quang hợp, hiệu suất quang hợp thuần và tổng diện tích lá. Tất cả các quá trình này đều bị ảnh hưởng nếu thiếu nước. Khi cây đậu tương bị thiếu nước, tổng sản phẩm quang hợp sẽ giảm do tỷ lệ CO2 hấp thu trên một đơn vị diện tích lá giảm và diện tích quang hợp giảm do sự phát triển của bộ 11 lá kém và chóng tàn [121]. Khi cây đậu tương gặp hạn, thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng sẽ bị rút ngắn, sự hình thành các đốt và lóng bị chậm lại [83].
Sinh trưởng của tế bào và lá nhạy cảm với thiếu nước hơn so với quang hợp [121]. Thực tế tốc độ phát triển lá giảm thường là dấu hiệu đầu tiên của hiện tượng cây thiếu nước. Nếu gặp ngày nhiệt độ cao, gió khô sẽ làm lá cây bị héo, cây có thể bị vàng làm giảm các hoạt động đồng hóa của cây ảnh hưởng đến năng suất. Độ ẩm của đất có tương quan thuận với chiều cao cây, đường kính, số đốt, số hoa và tỷ lệ đậu quả và số hạt [92].
Giai đoạn ra hoa và làm quả là giai đoạn cây đậu tương rất nhạy cảm với thiếu nước. Phần lớn sự biến động về năng suất đậu tương là do biến động về lượng nước cung cấp cho cây trong thời kỳ ra hoa làm quả [14]. Khi bị hạn trong giai đoạn này, thời gian hình thành hoa và làm quả sẽ bị rút ngắn và hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, thời gian chín bị rút ngắn nên quá trình vào chắc của hạt bị cản trở dẫn đến năng suất thấp [83]. Giai đoạn quả vào chắc là giai đoạn cây đậu tương cần nhiều nước nhất, nếu thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm năng suất hạt giảm nhiều hơn các giai đoạn trước.
Brevedan và Egli (2003) [71] cho biết cây đậu tương chỉ cần bị hạn trong thời kỳ quả vào chắc, năng suất hạt có thể giảm tới 39% và kích thước hạt có thể giảm từ 25-33%.