CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG, MÔI TRƯỜNG ĐẶC THÙ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số lý thuyết cơ bản 1. Khái niệm môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thương mại Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Nguyễn Chí Thành (2011) – [Môi trường kinh doanh - NXB Thống Kê]: Môi trường là tập hợp các yếu tố, điều kiện tác động vào sự tồn tại và phát triển vào của một chủ thể.
Chúng có thể là môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội, môi trường sống hay là môi trường làm việc… Nhìn chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng. Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Môi trường kinh doanh được hiểu là tập hợp các yếu tố (kinh tế, tự nhiên, xã hội, chính trị, tổ chức và kĩ thuật…), các điều kiện thiết lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, người ta thường cho rằng môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố, các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau.
Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản với sự phát triển của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. Khái niệm môi trường kinh doanh đặc thù Môi trường kinh doanh đặc thù tác động một cách trực tiếp tạo ra sự khác biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác. Doanh nghiệp cần nắm được môi trường ngành của 11 doanh nghiệp như thế nào, vì môi trường này quyết định và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh đặc thù là môi trường bao gồm các yếu tố trong ngành, và là yếu tố ngoại cảnh đối với tổ chức, doanh nghiệp quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Nó giúp phân biệt giữa các tổ chức và doanh nghiệp khác nhau. Nói cách khác, môi trường kinh doanh đặc thù là môi trường chứa đựng tất cả các tác nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó bao gồm những cá nhân hay tổ chức ở bên ngoài doanh nghiệp mà quyền lợi của họ có liên quan gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trường đặc thù là tập hợp các yếu tố, các mối quan hệ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm 4 yếu tố chính : Khách hàng, nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh và các cơ quan hữu quan. Việc phân tích môi trường kinh doanh đặc thù có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nhận thấy những cơ hội, thách thức… mà doanh nghiệp sẽ gặp phải trong quá trình hoạt động của mình. Một số quan điểm về khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp…có nhu cầu sử dụng ng của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó. Khách hàng là một yếu tố quyết định đầu ra của sản phẩm.
Không có khách hàng các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình. Bởi vậy, bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường thì điều trước tiên là phải có được tập khách hàng hiện hữu, muốn vậy thì doanh nghiệp cần phải đáp ứng thỏa mãn được mong muốn, yêu cầu của khách hàng, vì khách hàng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Khách hàng có vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp đều tìm cách giữ và thu hút thêm khách hàng của mình bằng nhiều hình thức.
Hoạt động chăm sóc khách hàng, là một công cụ rất quan trọng để doanh nghiệp giữ và phát triển khách hàng của mình. 12 Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng càng có vai trò quan trọng. Doanh nghiệp tồn tại nhờ vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên thị trường và họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc cạnh tranh để dành khách hàng, sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng. Khách hàng có vai trò là tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, là người đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Việc quyết định sản suất cái gì? Mẫu mã, chất lượng ra sao? Số lượng, giá cả thế nào? những vẫn đề này không tự doanh nghiệp quyết định được mà phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Từ đó doanh nghiệp mới quyết định đầu tư, xây dựng qui mô sản suất, kinh doanh sao cho phù hợp với khả năng của mình và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một số cách phân loại khách hàng : - Theo phạm vi địa lý: Khách hàng trong nước, khách hàng quốc tế. - Theo mục đích mua: Người tiêu dùng cuối cùng, người bán buôn, người bán lẻ, khách hàng là các tổ chức chính phủ.
- Theo đối tượng hàng giao dịch: Khách hàng mua với số lượng lớn, khách hàng mua với số lượng nhỏ - Theo thành phần kinh tế: Khách hàng là cá nhân, khách hàng là tập thể, khách hàng là doanh nghiệp. - Theo cơ cấu: Khách hàng là cá nhân, khách hàng là tập thể, khách hàng là doanh nghiệp. - Theo mức quan hệ với doanh nghiệp: Khách hàng truyền thống, khách hàng mới, khách hàng tiềm năng. Một số quan điểm về nhà cung ứng Nhà cung ứng là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như: nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm hay dịch vụ và các dịch vụ cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh.
Vấn đề mấu chốt là mối quan hệ và quyền lực thượng lượng giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng. Nếu doanh nghiệp và nhà cung ứng có mối quan hệ tốt, lâu năm hoặc quyền lực thương lượng của doanh nghiệp cao thì doanh nghiệp dễ dàng có được những thuận lợi trong việc đàm phán, ngược lại nếu mối quan hệ đó không thân 13 thiết hoặc quyền lực thương lượng của doanh nghiệp thấp thì doanh nghiệp sẽ chịu những ràng buộc nhất định từ phía nhà cung ứng. Một số quan điểm về đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong cùng ngành nghề kinh doanh với doanh nghiệp và có các sản phẩm giống các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp theo một hoặc một số khía cạnh nào đó. Nhìn chung mọi doanh nghiệp đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau.
Theo quan điểm marketing xem xét cạnh tranh trên ba cấp độ: - Cạnh tranh mong muốn: Đó là sự cạnh tranh giữa mặt hàng của doanh nghiệp với những mặt hàng thay thế trong cơ cấu tiêu dùng của khách hàng. Tức là cùng với một lượng thu nhập người ta có thể dùng với các mục đích khác nhau như thay vì mua đất họ có thể mua nhà. Khi dùng vào mục đích này sẽ hạn chế dùng vào mục đích khác. Cơ cấu chi tiêu đó có thể phản ánh một xu hướng tiêu dùng và do đó tạo ra một cơ hội hay một đe dọa hoạt động marketing của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh mong muốn, điều quan trọng là phải biết được những xu hướng tiêu dùng và cách thức người ta phân bố thu nhập cho tiêu dùng. - Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau để cùng thỏa mãn một mong muốn: Đây là sự cạnh tranh giữa các sản phẩm khác nhau trong cùng một ngành. Ví dụ như mong muốn về du lịch sẽ gây ra sự lựa chọn giữa du lịch trong nước với nước ngoài.Doanh nghiệp cần phải biết thị trường có thái độ như thế nào đối với sản phẩm, dịch vụ khác nhau và quan niệm của họ về giá trị tiêu dùng của mỗi loại. - Cạnh tranh cùng loại sản phẩm: Đây là sự cạnh tranh giữa các sản phẩm chủ yếu là về mặt công dụng Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng ngày càng gay gắt không chỉ về thị phần, doanh thu mà còn là cạnh tranh để có tập khách hàng, khách hàng trung thành.
Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh tốt đòi hỏi doanh nghiệp đó phải am hiểu về thị trường, đặc điểm tâm lý tiêu dùng của khách hàng, đặc điểm của các đối thủ cạnh 14 tranh…từ đó có những chiến lược đúng đắn để phát huy lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp đó mới có thể cạnh tranh tốt với các đối thủ cạnh tranh khác. Các cơ quan hữu quan Các cơ quan hữu quan, cơ quan nhà nước, trung ương và địa phương đều có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế. Mỗi doanh nghiệp đều có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước.
Vai trò của Nhà nước là tạo ra hành lang pháp lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm các cơ quan chính quyền, cơ quan công an, cơ quan bảo vệ môi trường, văn hóa và các vấn đề liên quan đến dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo cho các doanh nghiệp có môi trường cạnh tranh công bằng, ít biến động. Đây là tiền đề quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển. Các cơ quan hữu quan bao gồm: - Cơ quan thông tin đại chúng.