Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch" do sinh viên Vũ Thị Thúy Phương (lớp 14STH, Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của T.S Đàm Văn Thọ vào tháng 04 năm 2018.

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Giáo dục thẩm mĩ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện (đức, trí, thể, mĩ, lao động) cho học sinh tiểu học. Tuy nhiên, việc giảng dạy Mĩ thuật truyền thống tại Việt Nam lâu nay chủ yếu phân chia thành các phân môn độc lập (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh, thường thức mĩ thuật, tập nặn tạo dáng) với sự liên kết lỏng lẻo giữa các bài học, giới hạn đồ dùng học tập trong vở tập vẽ, bút chì, hộp màu và đất nặn. Hình thức này khiến tiết học dễ trở nên gò bó, hạn chế khả năng liên tưởng, tư duy tích hợp và hứng thú sáng tạo của học sinh. Nhằm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Dự án "Hỗ trợ giáo dục Mĩ thuật cấp Tiểu học" (SAEPS) do Chính phủ Đan Mạch tài trợ, chỉ đạo thử nghiệm và nhân rộng từ các năm học 2014-2015 và 2015-2016. Dù mang lại nhiều chuyển biến tích cực, giáo viên tiểu học trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn về hình thức tổ chức lớp học, quy trình sáng tạo, đồ dùng học tập và thiết kế bài giảng phù hợp cho học sinh cuối cấp tiểu học (lớp 5).

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nội dung dạy và học phân môn Mĩ thuật ở lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch, tìm hiểu các vấn đề cơ bản, tình huống thực tế, ưu điểm và hạn chế; từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Mĩ thuật cho học sinh lớp 5.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):

    1. Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến dạy – học bộ môn Mĩ thuật ở Tiểu học theo phương pháp Đan Mạch.
    2. Nghiên cứu các phương pháp, hình thức tổ chức trong môn Mĩ thuật lớp 5 theo Phương pháp Đan Mạch.
    3. Nghiên cứu thực trạng dạy – học bộ môn Mĩ thuật lớp 5 tại trường Tiểu học.
    4. Tìm hiểu một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch.
    5. Thực nghiệm sư phạm.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Chủ thể nghiên cứu: Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch.
    • Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối lớp 5 và giáo viên chuyên trách môn Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng.
    • Phạm vi không gian và thời gian: Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng; thời gian hoàn thành khóa luận là tháng 04 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý:

    • Văn bản pháp lý và chương trình: Điều 24.2 Luật Giáo dục (về yêu cầu phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh); Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai Dự án Hỗ trợ giáo dục Mĩ thuật cấp Tiểu học (SAEPS) của Chính phủ Đan Mạch.
    • Khung lý thuyết giáo dục: Mô hình Hình tháp học tập (Learning Pyramid) từ Viện Nghiên cứu Đào tạo Quốc gia (Bethel, Maine, Hoa Kỳ) chỉ ra rằng học sinh tiếp thu và lưu giữ tri thức cao nhất khi trực tiếp thực hành (75%) và dạy lại/ứng dụng kiến thức ngay lập tức (90%); Thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner; Lý thuyết về các phong cách học tập của Rita Dunn và Kenneth Dunn; Các đặc điểm tâm lý nhận thức (tri giác, chú ý, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy) và nhân cách lứa tuổi tiểu học.
    • Khung năng lực Mĩ thuật Đan Mạch: Hệ thống 5 năng lực cá nhân cốt lõi cần phát triển ở học sinh gồm: Năng lực trải nghiệm; Năng lực kĩ năng và kĩ thuật (đặc thù môn học); Năng lực biểu đạt; Năng lực phân tích và diễn giải; Năng lực giao tiếp và đánh giá.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp đọc tài liệu và xử lí tài liệu: Phân tích sách giáo trình, tài liệu dự án SAEPS, các khóa luận và công trình khoa học liên quan.
    • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi (anket) và phỏng vấn trực tiếp giáo viên giảng dạy Mĩ thuật cùng học sinh khối 5.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ tiết dạy thực tế theo phương pháp Đan Mạch để ghi nhận thái độ, diễn biến hoạt động học tập của học sinh.
    • Phương pháp thống kê tính toán: Xử lý số liệu khảo sát định lượng từ phiếu điều tra bằng công cụ toán học thống kê.
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đánh giá nguyên nhân thực trạng và đúc kết hiệu quả giải pháp.
    • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn & Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm trên lớp thực nghiệm và so sánh với lớp đối chứng.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ cuộc khảo sát 228 học sinh khối lớp 5 và 2 giáo viên chuyên trách môn Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng, kết hợp với các quan sát thực nghiệm và hồ sơ tài liệu của Dự án SAEPS.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và các nền tảng lý luận về dạy học Mĩ thuật tiểu học:

  • Lịch sử nghiên cứu: Tổng hợp một số tài liệu tiêu biểu như Giáo trình Mĩ thuật và Phương pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở Tiểu học và tài liệu Dạy Mĩ thuật cho trẻ tiểu học theo dự án SAEPS Việt Nam – Đan Mạch (Lê Tống Ngọc Anh, 2014), qua đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về các biện pháp thực thi cụ thể cho lớp 5.
  • Cơ sở giáo dục học môn Mĩ thuật: Khái niệm mĩ thuật, vị trí, mục đích và nhiệm vụ môn học ở bậc tiểu học; Kế hoạch phân phối thời lượng toàn cấp là 35 tiết/năm (1 tiết/tuần, 175 tiết toàn cấp tiểu học); Nội dung chương trình lớp 5 truyền thống gồm 5 phân môn độc lập: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Thường thức Mĩ thuật, Tập nặn tạo dáng.
  • Các phương pháp dạy học cụ thể: Trực quan, quan sát, vấn đáp, giải thích minh họa, thực hành luyện tập, trò chơi và hợp tác nhóm.
  • Định hướng đổi mới theo phương pháp Đan Mạch (SAEPS): Coi học sinh là người "đồng sáng tạo", chuyển từ việc dạy từng bài riêng lẻ sang dạy học theo các chủ đề tích hợp linh hoạt kéo dài từ 2 đến 5 tiết. Giới thiệu các quy trình mĩ thuật trọng tâm: Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu cảm/biểu đạt, Tạo hình 3D từ các vật tìm được, Xây dựng cốt truyện.
  • Đặc điểm tâm lý và năng lực học sinh: Phân tích sâu 5 năng lực hình thành qua môn Mĩ thuật (trải nghiệm, kỹ năng - kỹ thuật, biểu đạt, phân tích - diễn giải, giao tiếp - đánh giá) kết hợp với các đặc điểm nhận thức đặc thù của lứa tuổi tiểu học.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 trình bày chi tiết kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (Đà Nẵng) trên 2 giáo viên Mĩ thuật và 228 học sinh lớp 5:

1. Khảo sát đối với giáo viên (N = 2):

  • Nhận thức về phương pháp Đan Mạch: 50% cho rằng "Rất cần thiết" và 50% chọn "Cần thiết" (Bảng 2.1).
  • Đánh giá sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh: 50% đánh giá ở mức Khá, 50% đánh giá mức Trung bình, không có mức Giỏi hoặc Yếu (Bảng 2.2).
  • Lỗi học sinh thường mắc khi vẽ tranh theo nhạc: 100% giáo viên ghi nhận học sinh chưa liên tưởng được lời bài hát để sáng tạo tranh và 100% chưa tưởng tượng được tranh để xây dựng cốt truyện; 50% chưa hiểu vẽ tranh theo nhạc là gì; 50% chưa tưởng tượng được đường nét tạo hình (Bảng 2.3).
  • Hình thức và phương pháp giảng dạy: 100% giáo viên dùng hình thức dạy học cả lớp và dạy học theo nhóm, 50% dạy học cá nhân (Bảng 2.4). Về tần suất phương pháp: Phương pháp giải thích minh họa được dùng thường xuyên 100%; Phương pháp trực quan và hợp tác nhóm được dùng thường xuyên 60% (thỉnh thoảng 40%); Phương pháp trò chơi không bao giờ được dùng thường xuyên (0%), thỉnh thoảng 40% và không bao giờ dùng chiếm 60% (Bảng 2.5 & 2.6).
  • Nguyên nhân khó khăn khi xây dựng cốt truyện: 100% do đặc điểm tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng và 100% do hạn chế về sử dụng ngôn ngữ diễn tả (Bảng 2.7).
  • Đánh giá hiệu quả phương pháp Đan Mạch: 25% Rất hiệu quả, 50% Hiệu quả, 25% Không hiệu quả (Bảng 2.8).
  • Tần suất thiết kế bài giảng chi tiết: Thường xuyên 0%, Thỉnh thoảng 50%, Không bao giờ 50% (Bảng 2.9).

2. Khảo sát đối với học sinh (N = 228):

  • Mức độ hứng thú với môn Mĩ thuật: Thích chiếm 58% (139 HS), Bình thường chiếm 29% (71 HS), Không thích chiếm 13% (16 HS) (Bảng 2.10).
  • Mức độ được nghe kể chuyện trong tiết học: Thường xuyên 11% (29 HS), Thỉnh thoảng 68% (145 HS), Hiếm khi 21% (54 HS) (Bảng 2.11).
  • Hoạt động yêu thích nhất: Thực hành chiếm 53,33% (125 HS), Thảo luận chiếm 40,56% (91 HS), Quan sát chiếm 6,45% (12 HS) (Bảng 2.12).
  • Trưng bày sản phẩm trước lớp: Thường xuyên 48,75% (112 HS), Một vài lần 36,12% (85 HS), Không bao giờ 15,13% (31 HS) (Bảng 2.13).
  • Ý thức quan sát hướng dẫn của giáo viên: 83,23% (185 HS) theo dõi cả hình vẽ minh họa lẫn giáo viên vẽ trực tiếp lên bảng (Bảng 2.14).
  • Tự giác tập vẽ ở nhà: Thường xuyên 40,34% (94 HS), Thỉnh thoảng 38,21% (83 HS), Không bao giờ 21,45% (51 HS) (Bảng 2.15).
  • Thực hành vẽ tranh theo nhạc: Thường xuyên 49,89% (126 HS), Thỉnh thoảng 26,32% (57 HS), Không bao giờ 23,79% (45 HS) (Bảng 2.17).
Chỉ số khảo sát thực trạng Đối tượng khảo sát Tỉ lệ ghi nhận tiêu biểu
Đánh giá tính cần thiết của PP Đan Mạch Giáo viên (N=2) 50% Rất cần thiết; 50% Cần thiết
Đánh giá hiệu quả áp dụng thực tế Giáo viên (N=2) 25% Rất hiệu quả; 50% Hiệu quả; 25% Không hiệu quả
Thói quen soạn kế hoạch bài giảng chi tiết Giáo viên (N=2) 0% Thường xuyên; 50% Thỉnh thoảng; 50% Không bao giờ
Mức độ hứng thú với môn Mĩ thuật Học sinh (N=228) 58% Thích; 29% Bình thường; 13% Không thích
Hoạt động học tập yêu thích nhất Học sinh (N=228) 53,33% Thực hành; 40,56% Thảo luận; 6,45% Quan sát
Thói quen tự giác vẽ ở nhà Học sinh (N=228) 40,34% Thường xuyên; 38,21% Thỉnh thoảng; 21,45% Không bao giờ

Chương 3: Một số biện pháp dạy và học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch

Dựa trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, tác giả đề xuất 5 nhóm biện pháp sư phạm:

  1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS:

    • Dự kiến chuỗi hoạt động dạy học diễn ra theo trình tự hợp lý, nối tiếp nhịp nhàng giữa các tiết trong một chủ đề.
    • Thiết kế các hình thức giới thiệu bài đa dạng, sinh động nhằm lôi cuốn học sinh ngay từ đầu giờ.
    • Xây dựng nội dung giúp học sinh có cơ hội trải nghiệm thực tế; tổ chức các hình thức học tập theo quy trình tối ưu nhất và soạn thảo giáo án minh họa cụ thể cho từng chủ đề.
  2. Biện pháp 2: Xây dựng các chủ đề học tập có nội dung gần gũi, quen thuộc và phù hợp với khả năng nhận thức của các em:

    • Lựa chọn các đề tài quen thuộc từ đời sống sinh hoạt, gia đình, bạn bè, thiên nhiên, trường lớp để học sinh dễ liên tưởng, khơi gợi cảm xúc cá nhân và chuyển hóa thành ngôn ngữ tạo hình.
  3. Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường:

    • Kết hợp nhịp nhàng các quy trình mĩ thuật của SAEPS (vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau, xây dựng cốt truyện, tạo hình 3D...) tương thích với không gian lớp học và nguồn học liệu sẵn có, khắc phục hạn chế thiếu phòng chức năng chuyên dụng.
  4. Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi:

    • Tạo môi trường cởi mở, không áp lực để học sinh không còn tâm lý sợ vẽ sai hoặc sợ không có năng khiếu.
    • Tăng cường lồng ghép các trò chơi học tập ngắn (2–3 phút) ở phần khởi động hoặc củng cố bài để kích thích tính đồng đội và sự chủ động.
  5. Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh:

    • Đổi mới khâu nhận xét, đánh giá theo hướng động viên, khích lệ; rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự đánh giá và đánh giá chéo sản phẩm của bạn thông qua việc thuyết trình, chia sẻ ý tưởng tạo hình.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 trình bày tiến trình và kết quả thực nghiệm sư phạm:

  • Mục đích thực nghiệm: Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của 5 biện pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch đã đề xuất ở Chương 3.
  • Tổ chức thực nghiệm: Xác định đối tượng học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, chuẩn bị kế hoạch bài dạy thực nghiệm, tiến hành các hoạt động giảng dạy theo các chủ đề tích hợp.
  • Kết quả thực nghiệm: Phân tích, xử lý số liệu kiểm tra sau thực nghiệm; so sánh mức độ phát triển các năng lực mĩ thuật, tính tự giác, khả năng sáng tạo và hứng thú học tập giữa lớp thực nghiệm với lớp đối chứng nhằm khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:

    • Khảo sát làm rõ bức tranh thực tế tại cơ sở giáo dục tiểu học: Đa số học sinh (58%) yêu thích môn Mĩ thuật và hứng thú nhất với hoạt động thực hành (53,33%) cùng thảo luận nhóm (40,56%). Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp Đan Mạch còn gặp rào cản do 100% giáo viên nhận định học sinh gặp khó khăn trong việc liên tưởng lời bài hát và xây dựng cốt truyện cho tranh; 50% giáo viên chưa duy trì thói quen soạn kế hoạch bài dạy chi tiết.
    • Xây dựng thành công hệ thống 5 biện pháp dạy học sư phạm mang tính hệ thống từ khâu thiết kế kế hoạch bài dạy, chọn chủ đề, tích hợp quy trình tạo hình, tổ chức không khí lớp học đến đổi mới phương thức đánh giá.
    • Chứng minh thông qua thực nghiệm sư phạm rằng việc vận dụng linh hoạt các biện pháp này giúp nâng cao rõ rệt tính tích cực, sự tự tin và năng lực thẩm mĩ của học sinh lớp 5.
  • Đóng góp của khóa luận:

    • Về mặt lí luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục mĩ thuật tiểu học gắn liền với lý thuyết hình tháp học tập, thuyết đa trí tuệ và khung 5 năng lực tiếp nhận thẩm mĩ của Dự án SAEPS.
    • Về mặt thực tiễn: Khóa luận giải quyết các khó khăn cụ thể của giáo viên tiểu học khi áp dụng phương pháp Đan Mạch cho học sinh khối 5; cung cấp hệ thống biện pháp thực thi thực tế cùng giáo án minh họa, khắc phục hạn chế của các tài liệu trước đây vốn chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết chung hoặc hướng dẫn dự án tổng thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Do điều kiện thời gian và nguồn lực nghiên cứu có hạn, phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm mới chỉ được tiến hành trên quy mô một trường tiểu học (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, TP. Đà Nẵng) với mẫu khảo sát giáo viên còn hẹp (2 giáo viên Mĩ thuật).
    • Đề tài chỉ tập trung chuyên sâu vào đối tượng học sinh khối lớp 5, chưa bao quát toàn bộ các khối lớp khác trong bậc tiểu học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập:

    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch sang các khối lớp 1, 2, 3 và 4.
    • Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn việc cải tiến cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học tự làm và hoàn thiện tiêu chí đánh giá năng lực đặc thù môn Mĩ thuật cho học sinh tiểu học ở các vùng miền khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Mĩ thuật: Tham khảo phương pháp nghiên cứu thực trạng sư phạm, cấu trúc khóa luận tốt nghiệp và cách thức thiết kế kế hoạch bài dạy Mĩ thuật tích hợp theo chủ đề.
  • Giáo viên Mĩ thuật tại các trường tiểu học: Vận dụng trực tiếp 5 biện pháp sư phạm tại Chương 3 (đặc biệt là quy trình vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau và phương pháp tổ chức trò chơi lồng ghép) để giải quyết các khó khăn trong tiết dạy thực tế.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn cấp tiểu học: Tham khảo số liệu thực trạng triển khai Dự án SAEPS để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phù hợp cho giáo viên bộ môn.

Câu hỏi thường gặp

1. Dự án SAEPS là gì và được Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo thực hiện vào thời gian nào?
Dự án SAEPS (Hỗ trợ giáo dục Mĩ thuật Cấp Tiểu học) là dự án hợp tác giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam và Chính phủ Đan Mạch. Dự án được triển khai thí điểm và đến năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT chỉ đạo áp dụng phương pháp dạy học mới của SAEPS tại tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc, tiếp tục chỉ đạo thử nghiệm trong năm học 2015-2016.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa chương trình Mĩ thuật tiểu học truyền thống và phương pháp Đan Mạch là gì?
Chương trình truyền thống phân phối 35 tiết/năm theo 5 phân môn độc lập, rời rạc (Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Thường thức mĩ thuật, Tập nặn tạo dáng). Phương pháp Đan Mạch tích hợp 5 phân môn này vào các chủ đề học tập linh hoạt (kéo dài từ 2 đến 5 tiết hoặc hơn), lấy học sinh làm trung tâm và phát triển toàn diện 5 năng lực cá nhân thông qua các quy trình mĩ thuật tương tác.

3. Khảo sát thực trạng chỉ ra học sinh lớp 5 thường gặp những lỗi nào nhất khi vẽ tranh theo nhạc?
Theo kết quả khảo sát giáo viên (Bảng 2.3), 100% giáo viên ghi nhận học sinh chưa liên tưởng được lời bài hát để sáng tạo tranh vẽ và 100% chưa tưởng tượng được tranh để xây dựng cốt truyện; bên cạnh đó 50% học sinh chưa hiểu bản chất của hoạt động vẽ theo nhạc và 50% chưa tưởng tượng được các đường nét tạo hình.

4. Khóa luận đề xuất bao nhiêu biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Mĩ thuật lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch?
Khóa luận đề xuất 5 biện pháp chính: (1) Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học đúng tinh thần SAEPS; (2) Xây dựng chủ đề học tập gần gũi, phù hợp nhận thức học sinh; (3) Vận dụng linh hoạt 7 quy trình mĩ thuật mới phù hợp với cơ sở vật chất nhà trường; (4) Xây dựng không khí lớp học thân thiện qua thi đua và trò chơi; (5) Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh.

5. Khảo sát học sinh tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi cho thấy hoạt động nào được yêu thích nhất?
Kết quả khảo sát 228 học sinh (Bảng 2.12) cho thấy hoạt động Thực hành được yêu thích nhất với tỉ lệ 53,33% (125 học sinh), tiếp theo là hoạt động Thảo luận chiếm 40,56% (91 học sinh), và hoạt động Quan sát chiếm tỉ lệ thấp nhất là 6,45% (12 học sinh).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Thúy Phương đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật theo Dự án Đan Mạch (SAEPS) cho học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, TP. Đà Nẵng. Trên cơ sở chỉ ra những bất cập về thói quen thiết kế bài giảng của giáo viên và khó khăn về tư duy tạo hình của học sinh, tác giả đã đề xuất 5 biện pháp sư phạm đồng bộ mang tính khả thi cao. Kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định các biện pháp đề xuất có tác dụng nâng cao rõ rệt sự hứng thú, tính chủ động và năng lực thẩm mĩ của học sinh, đóng góp tư liệu thực tiễn giá trị cho việc đổi mới phương pháp giáo dục mĩ thuật ở bậc tiểu học.