Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu Mô hình và Giao thức Thư viện Điện tử

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu mô hình và giao thức thư viện điện tử. Tìm hiểu sâu về các giải pháp, kiến trúc trong xây dựng thư viện số hiện đại, hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

63
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN VÀ TRA CỨU

1.1. Khái niệm về thƣ viện và tra cứu

1.2. Thƣ viện truyền thống:

1.3. Thƣ viện điện tử:

1.4. Thƣ viện số:

1.5. Quy tắc xây dựng và phát triển thƣ viện số và thƣ viện điện tử

1.6. Quá trình hình thành thƣ viện điện tử và thƣ viện số

1.7. Sự phát triển Thƣ viện điện tử và Thƣ viện số ở nƣớc ta trong những năm hiện nay

1.8. Thƣ viện ảo

1.9. Tra cứu trực tuyến OPAC

2. Chƣơng 2: CÁC CHUẨN TRONG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

2.1. Chuẩn biên mục và siêu dữ liệu:

2.2. Khổ mẫu biên mục – MARC

2.3. Siêu dữ liệu:

2.4. Ngôn ngữ đánh giá mở rộng XML

2.5. Khổ mẫu MARCXML

2.6. Chuẩn trao đổi dữ liệu

2.7. Chuẩn tra cứu liên thƣ viện Z39

2.8. Khái niệm về Z39

2.9. Giải pháp và lợi ích của Z39

2.10. Tóm lƣợc lịch sử phát triển của Z39

2.11. Một số tính năng chính của Z39

2.12. Chuẩn mƣợn liên thƣ viện

3. Chƣơng 3: CHƢƠNG TRÌNH THỬ NGHIỆM

3.1. Thiết kế chƣơng trình

3.2. Công cụ lập trình YAZ của IndexData

3.3. Xây dựng ứng dụng đa luồng với Microsoft

3.4. Khái niệm về luồng(thread)

3.5. Căn bản về mô hình luồng

3.6. Cấu trúc và Giải thuật

3.7. Sơ đồ lớp và mã nguồn chính

3.8. Giao diện và kết quả thử nghiệm

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Thư Viện Điện Tử Hiện Nay

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến ngành thư viện. Thư viện điện tử trở thành xu hướng tất yếu, hiện đại hóa các hoạt động nghiệp vụ truyền thống. Ứng dụng công nghệ thông tin tự động hóa các hoạt động, tăng năng suất, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng. Tại Việt Nam, một số hệ thống thư viện điện tử đã được đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, máy móc, đào tạo chuyên gia và người dùng. Luận văn này tập trung nghiên cứu một số mô hìnhgiao thức thư viện điện tử, bao gồm khái quát về thư viện và tra cứu, các chuẩn trong thư viện điện tử và chương trình thử nghiệm. Trong giai đoạn Quản lý tư liệu đã trải qua một thời gian dài theo sự phát triển đó. Cho đến một lúc, cũng xuất phát từ ý định ban đầu là làm tốt công việc lưu trữ và bảo quản, thư viện đã chú trọng đến việc xem người sử dụng là trung tâm, với sự nhấn mạnh đến việc trao đổi thông tin. Điều này cũng đồng thời để đáp ứng yêu cầu thông tin ngày càng gia tăng. Thư viện cổ đại chỉ hữu ích đối với một thiểu số những người biết chữ và bị giới hạn trong một tầng lớp, giai cấp theo điều kiện xã hội. Hoạt động thư viện công cộng được bắt đầu phát triển trong thế kỷ 19. Nhưng vẫn là những thư viện đóng: sách được xếp theo kích cỡ trong những kho kín trong thư viện, độc giả chỉ tiếp cận với thủ thư ở quầy để yêu cầu mượn sách. Hầu hết những thư viện trong lục địa châu Âu đã áp dụng phương thức này trong một thời gian dài. Đến thế kỷ 20 một số quản thủ thư viện nhận thức được tiện ích của việc cho độc giả tiếp cận với kho sách đã đề xuất phương thức phục vụ kho mở với tài liệu được xếp theo môn loại. Phương thức này được bắt đầu áp dụng và nhanh chóng phát triển trong những quốc gia nói tiếng Anh hồi đó.

1.1. Phân Biệt Các Loại Hình Thư Viện Số Hiện Đại

Cần phân biệt rõ giữa thư viện truyền thống, thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảothư viện lai. Thư viện điện tử tin học hóa một phần hoặc toàn bộ dịch vụ. Thư viện số số hóa hầu hết tư liệu, đặc biệt là tư liệu đồ họa và đa phương tiện. Thư viện ảo không phụ thuộc vào địa điểm cố định, cho phép truy nhập từ xa. Thư viện lai kết hợp các nguồn tin truyền thống và hiện đại. Theo tiến sĩ Ching-chih Chen, ngƣời đã có sáng kiến tổ chức một loạt hội nghị quốc tế về công nghệ thông tin mới (NIT) [6] hơn mƣời năm gần đây (từ 1987) thì hiện không có một tiêu chuẩn cố định, chính thức nào cho thư viện điện tử. Ta có thể nhận biết một số đặc điểm của thư viện điện tử lý tƣởng nhƣ sau: - Thƣ viện phải có vốn tƣ liệu điện tử .Tƣ liệu điện tử là những tƣ liệu đƣợc lƣu trữ dƣới dạng số sao cho có thể truy nhập đƣợc bằng các thiết bị xử lý dữ liệu. - Phải đƣợc tin học hoá trong thƣ viện. Phải có một hệ quản trị thƣ viện tích hợp nhƣ bổ sung, biên mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lƣu thông tƣ liệu, tổ chức mục lục truy nhập công cộng trực tuyến,.Thƣ viện phải đƣợc kết nối mạng, tối thiểu cũng phải là mạng cục bộ hoặc Internet.

1.2. Thư Viện Số Việt Nam Thực Trạng và Triển Vọng Phát Triển

Khái niệm thư viện điện tửthư viện số còn mới mẻ ở Việt Nam. Nhu cầu nghiên cứu bắt đầu từ chiến lược phát triển thông tin - thư viện đến năm 2010, 2020. Vấn đề không gian lưu trữ tư liệu truyền thống trở nên cấp bách. Mục tiêu chính là chia sẻ nguồn lực, tăng khả năng truy nhập, sử dụng hợp lý kinh phí mua sách báo, khắc phục tình trạng trùng lặp. Việc xây dựng thư viện điện tửthư viện số theo đúng nghĩa còn gặp khó khăn về kinh tế. Xu hướng sẽ xuất hiện nhiều thư viện điện tử như kết quả của quá trình tin học hóa, cổng vào thông tin và bộ phận của các thư viện lớn truyền thống. Trong chừng mực nào đó, có thể nói chúng ta đã đang tiến trên con đƣờng xây dựng thư viện điện tử hoặc ở trong giai đoạn quá độ xây dựng thư viện điện tử. Mặc dầu vậy, có lẽ tốt hơn hết là đừng quá vội sử dụng các thuật ngữ nói trên (thư viện điện tử, thư viện sốthư viện ảo) trong lúc khái niệm và thuật ngữ còn chƣa thống nhất và ổn định, để gọi tên một thƣ viện. Tạo nên sự chuyển biến về chất trong vốn tƣ liệu, dịch vụ và ngƣời sử dụng là điều quan trọng hơn để minh chứng cho việc đặt tên. Bao giờ lƣợng đổi thành chất trong quá trình số hoá vốn tƣ liệu, điện tử hoá dịch vụ và chuyển đổi phƣơng cách sử dụng thƣ viện sẽ là lúc chúng ta có thể nói về một thư viện điện tử thực thụ.

II. Các Vấn Đề Cốt Lõi Về Chuẩn Hóa Thư Viện Số Hiện Đại

Việc xây dựng và duy trì thư viện số đối mặt với nhiều thách thức. Về kinh tế, chi phí số hóa tài liệu truyền thống cao, khó thuyết phục về hiệu quả do chi phí công nghệ và đầu tư liên tục. Số hóa một trang tài liệu tốn kém. Về kỹ thuật, vật liệu lưu trữ không bền bằng giấy không axit. Vấn đề bản quyền cũng là một trở ngại, do thư viện số bị ràng buộc bởi luật bản quyền. Thư viện phải dung hòa giữa quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi công chúng. Khó tìm do thiếu công cụ hoặc do bộ máy tìm kiếm tổ chức kém. - Thiếu các tham chiếu qua lại và mối liên kết với các tƣ liệu khác. - Quá nhiều đƣờng liên kết không hợp lý hoặc dẫn tới các thông tin vô dụng. - Thƣờng xuyên nâng cấp khiến ngƣời dùng nhiều khi phải phán đoán mò mẫm nơi có các thông tin đã đƣợc định vị trƣớc đây. - Thiếu sự nhất quán trong khi trình bày những thông tin tƣơng tự. - Thông tin lạc hậu, không cập nhật, sai ngữ pháp và chính tả. - Khổ mẫu không thống nhất nên gặp rắc rối khi tham chiếu trực tuyến và in ra.

2.1. Vai Trò Của Metadata Thư Viện Điện Tử Trong Tìm Kiếm

Mục đích đầu tiên và cốt yếu nhất của siêu dữ liệu là góp phần mô tả và tìm lại các tài liệu nguyên điện tử. - Hỗ trợ cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên. Một khi tài nguyên đƣợc tìm trong môi trƣờng điện tử, siêu dữ liệu cung cấp cho ngƣời sử dụng những thông tin về kỹ thuật, về khuôn khổ kinh doanh (bản quyền, quyền truy cập,…) - Đảm bảo sự liên tác (interoperability) giữa các hệ thống. Những sơ đồ siêu dữ liệu đƣợc thống nhất sẽ giúp cho các hệ thống có thể nhận dạng đúng các yếu tố, có thể chuyển đổi dữ liệu dễ dàng, đảm bảo hoạt động trên mạng hiệu quả hơn. Một trong những sơ đồ yếu tố siêu dữ liệu phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời biết đến là Yếu tố siêu dữ liệu cốt lõi Dublin Core (Dublin Core Metadata Ele mnet Inuttiative). Tại cuộc Hội thảo về siêu dữ liệu do Trung tâm Thƣ viện máy tính hoá OCLC ( Ohio Cumputer Libray Center) và Trung tâm Quốc gia về ứng dụng siêu máy tính NCSA (National Center for Suppẻcomputing Application) phối hợp tài trợ, tổ chức tại Dublin, Ohio, Mỹ, vào tháng 03/1995, các chuên gia đã đè xuất bộ yếu tố siêu dữ liệu cốt lõi Dublin Core.

2.2. Khám Phá Khổ Mẫu Biên Mục MARC21 Trong Thư Viện Số

Khổ mẫu biên mục (BDF – Biliographic): đƣợc thiết kế chứa dữ liệu liên quan đến thông tin hình thức (tác giả, nhan đề, thông tin xuất bản) và nội dung của tài liệu (chỉ số phân loại, chủ đề, từ khoá,…) Khổ mẫu nhất quán –ADF: đƣợc thiết kế để mang thông tin có liên quan đến những hình thức chuẩn của tên và chủ đề đƣợc dùng nhƣ là điểm truy nhập trong các bản ghi MARC, các hình thức tên, chủ đề và phụ đề này đƣợc dùng nhƣ những tham chiếu tới các hình thức chuẩn và các mối quan hệ qua lại giữa những hình thức này. Một tên có thể đƣợc dùng nhƣ là một tiêu đề (điểm truy nhập) chính, bổ sung, tiêu đề bổ sung theo chủ đề, tiêu đề bổ sung theo tùng thƣ. Khổ mẫu phân loại – CDF: đƣợc thiết kế phản ánh thông tin về các số phân loại và các định danh liên quan đƣợc tạo lập theo một khung phân loại chuẩn. Khổ mẫu lƣ trữ dự liệu – HDF đƣợc thiết kế nhằm: - Nhận dạng các yếu tố dữ liệu trong các thông báo về tƣ liệu của từng thƣ viện - Giao diện với các hệ thống điều khiển tự động nhƣ: mục lục liên hợp và mƣợn liên thƣ viện, nập các xuất bản phảm nhiều kỳ (bổ sung) - Dùng cho các chuyên gia thông tin – thƣ viện tham gia tạo lập và duy trì thông tin về vốn tƣ liệu theo MARC21. Khổ mẫu cộng đồng – CMDF: đƣợc thiết kế để mang các yếu tố mô tả các loại nguồn lực không phải là thƣ mục. Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng.

III. Ứng Dụng Giao Thức Z39

Z39.50 là một chuẩn tìm kiếm và khai thác thông tin giữa các cơ quan thông tin – thư viện. Z39.50 là một chuẩn quốc gia của Mỹ về khai thác thông tin. Tuy nhiên hiện nay, Z39.50 được cả thế giới công nhận như là một chuẩn chung về khai thác thông tin thay cho chuẩn tìm kiếm và khai thác thông tin. Là một chuẩn ứng dụng mạng, vì vậy Z39.50 là một chuẩn mở nên nó cho phép trao đổi thông tin giữa các hệ thống chạy trên phần mềm và các phần cứng khác. Z39.50 được phát triển nhằm khắc phục những vấn đề liên quan đến việc tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu ví dụ như phải biết hệ thống menu, ngôn ngữ tìm tin,…của mỗi hệ thống khác nhau. Z39.50 làm cho đơn giản hoá quá trình tìm kiếm bằng việc sử dụng giao diện tìm kiếm quen thuộc của hệ thống đó để tìm kiếm vốn tài liệu ở chính cơ quan thông tin – thư viện đó cũng như ở các cơ quan thông tin – thư viện mà ứng dụng chuẩn này.

3.1. Lợi Ích Của Giao Thức Z39.50 Trong Môi Trường Số

Z39.50 ban đầu đƣợc thiết kế để trợ giúp tìm kiếm với cơ sở dữ liệu rất lớn nhƣ các mục lục của OCLC và Thƣ viện Quốc Hội Mỹ. Z39.50 đƣợc sử dụng cho một phạm vi rộng lớn các chức năng của thƣ viện bao gồm tìm kiếm cơ sở dữ liệu, từ biên mục tới mƣợn liên thƣ viện tới tham chiếu. Với sự phát triển nhanh chóng của Internet, tiêu chuẩn Z39.50 đã trở nên đƣợc chấp nhận rộng rãi nhƣ là một giải pháp cho các thách thức trong việc thu thập thông tin đa phƣơng tiện bao gồm cả văn bản, hình ảnh, và tài liệu số hóa. Z39.50 đƣợc sử dụng để truy cập tới các nguồn thông tin đa dạng ví dụ nhƣ dữ liệu bảo tàng, thông tin chính phủ, và các dữ liệu không gian địa lý. Truy cập liền mạch Khả năng truy cập liền mạch tới nhiều các cở sở dữ liệu đa dạng thông qua một giao diện là lợi ích to lớn nhất của Z39.50. Thêm khả năng hoạt động theo tiêu chuẩn Z39.50 vào một hệ thống thông tin cho phép hệ thống thông tin duy trì tính duy nhất của họ trong khi cung cấp một giao diện thống nhất cho ngƣời tìm thông tin.

3.2. Hướng Dẫn Tra Cứu Và Nhập Dữ Liệu Biên Mục Qua Z39.50

Để tra cứu đƣợc dữ liệu thông qua Z39.50, cần biết ba yếu tố sau: Tên máy chủ, Cổng truy cập, Tên cơ sở dữ liệu. Sử dụng các chƣơng trình xuất nhập dữ liệu để lấy dữ liệu từ Internet thông qua giao thức Z39.50. Cán bộ làm công tác biên mục có thể sử dụng chuẩn này để tra cứu trực tiếp vào các cơ sở dữ liệu trực tiếp trên mạng để tải về các bản ghi thƣ mục đã đƣợc xử lý để tái sử dụng lại. Công việc duy nhất còn lại là bổ sung thêm chỉ số xếp giá hoặc đăng ký cá biệt cho bản ghi thƣ mục này. Tại Việt Nam, cán bộ biên mục khi xử lý tài liệu có thể tải bản ghi thƣ mục tại hai địa chỉ sau: nếu là tài liệu nƣớc ngoài thì có thể tải dữ liệu thƣ mục từ Thƣ viện Quốc hội Mỹ, nếu là tài liệu tiếng Việt thì có thể tải dữ liệu thƣ mục từ Thƣ viện Quốc gia Việt Nam.

IV. Mô Hình Giao Dịch Mượn Liên Thư Viện Tiêu Chuẩn ISO

Giao dịch Mượn liên thư viện trong hoạt động thông tin – thư viện hiện đại về thực chất là một dạng giao dịch điện tử. Do vậy, cần có một số quy định về chuẩn trong quá trình trao đổi để đảm bảo thông tin trong quá trình trao đổi được chính xác và có sự kiểm soát. Tiêu chuẩn ISO10160, 10161, Mô hình dịch vụ, Vai trò (Roles), thực hiện ba vai trò: thư viện yêu cầu (Requestor), thư viện trả lời (Responder) và thư viện trung chuyển (Intermediary). Loại hình giao dịch. Điều khiển giao dịch sử dụng mô hình trạng thái giao dịch, thông qua cơ chế máy trạng thái (state machine). sử dụng mô hình máy trạng thái để điều khiển hoạt động giao dịch bằng cách: Kiểm soát các dịch vụ hợp lệ được thực hiện của trạng thái. Chuyển trạng thái giao dịch khi đã thực hiện dịch vụ.

4.1. Các Dịch Vụ Theo Tiêu Chuẩn ISO 10160 10161 Trong Thư Viện Điện Tử

Các dịch vụ theo ISO 10160, 10161, Các yêu cầu mượn (ILL request), báo gửi (Shipped), trả lời (ILL answers), hủy (cancel), báo nhận (received), đòi (recall), trả (return), nhập (check-in), quá hạn (renewall), lost (báo mất), báo hỏng (damage), thông báo (message), truy vấn trạng thái (status query), trả lời thạng thái (status-or-error report), hết hiệu lực (expiry), Thông điệp bí mật (lost message), thông điệp ngoài dòng (out-of-sequence message). Các thông điệp ILL (ILL message): với mỗi loại dịch vụ ở trên Ilib cho phép gửi các thông điệp ILL tƣơng ứng đúng chuẩn ISO 10160, !)!61.

4.2. Tổng Quan Về IPIG Trong Giao Thức Mượn Liên Thư Viện

IPIG là Interlibrary Loan Protocol Implementors Group, tổ chức đặc tả ứng dụng liên thư viện nổi tiếng trên thế giới, mọi phần mềm liên thư viện nổi tiếng trên thế giới đều tuân thủ bảng đặc tả do IPIG đưa ra, các nhà sản xuất phần mềm mượn liên thư viện đều tuân thủ bảng đặc tả của IPIG. IPIG làm đơn giản hoá các giao dịch và mượn liên thư viện, chú trọng đến việc triển khai các dịch vụ mượn liên thư viện vào thực tế.

V. Chương Trình Thử Nghiệm Mô Hình Thư Viện Điện Tử Liên Hợp

Chương trình thử nghiệm của luận văn này là một nỗ lực nhằm xây dựng cổng tìm kiếm liên hợp theo giao thức Z39.50 với giao diện Web. Sự thành công của hệ thống này cho phép các thư viện, trung tâm thông tin tích hợp vào cổng thông tin của mình và cung cấp cho người dùng sự tiện lợi trong việc tìm kiếm thông tin tư liệu trong và ngoài tổ chức. UI – User Interface (giao diện ngƣời dùng) là các trang web hiển thị giao diện tìm kiếm, kết quả và các thông tin khác. Từ giao diện này ngƣời dùng chọn lựa danh sách cơ sở dữ liệu cần tìm, đƣa vào câu truy vấn và gửi tới ZetMonitor – Bộ quản lý các luồng Z39. UI cũng nhận kết quả trả về và các thông tin khác để hiển thị cho ngƣời dùng.

5.1. Giới Thiệu Công Cụ Lập Trình YAZ Của IndexData Trong Thiết Kế

YAZ là một bộ công cụ lập trình hỗ trợ phát triển Z39.50/SRW/SRU phía khách và chủ do IndexData phát triển. YAZ đã đƣợc rộng rãi công nhận là bộ công cụ hàng đầu để xây dựng các hệ thống khách và chủ hỗ trợ Z39.50 kể từ bản phát hành đầu tiên vào năm 1995. Trong suốt một thập kỷ của dịch vụ đang hoạt động, bộ công cụ YAZ trở nên thiện chiến trong mọi loại hình ứng dụng, và lớn lên trong sự hỗ trợ cho ngay cả những khía cạnh bí truyền của các giao thức Z39.

5.2. Xây Dựng Ứng Dụng Đa Luồng Với Microsoft.Net Tối Ưu Hóa

Đa luồng là một công cụ mạnh mẽ để tạo các ứng dụng hiệu suất cao, đặc biệt là các ứng dụng có yêu cầu tƣơng tác với ngƣời dùng hoặc làm việc với các dịch vụ và tài nguyên phân tán. NET đã phá vỡ những rào cản đó từng tồn tại trong việc tạo ra các ứng dụng đa luồng.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU. 1 DANH MỤC HÌNH. 2 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN VÀ TRA CỨU .1 Khái niệm về thƣ viện và tra cứu .1 Thƣ viện truyền thống:. Thƣ viện điện tử:.3 Thƣ viện số:.4 Quy tắc xây dựng và phát triển thƣ viện số và thƣ viện điện tử .5 Quá trình hình thành thƣ viện điện tử và thƣ viện số .6 Sự phát triển Thƣ viện điện tử và Thƣ viện số ở nƣớc ta trong những năm hiện nay .4 Thƣ viện ảo .2 Tra cứu trực tuyến OPAC .14 Chƣơng 2: CÁC CHUẨN TRONG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ .1 Chuẩn biên mục và siêu dữ liệu: .1 Khổ mẫu biên mục – MARC .2 Siêu dữ liệu: .3 Ngôn ngữ đánh giá mở rộng XML.4 Khổ mẫu MARCXML .2 Chuẩn trao đổi dữ liệu .3 Chuẩn tra cứu liên thƣ viện Z39.1 Khái niệm về Z39.2 Giải pháp và lợi ích của Z39.3 Tóm lƣợc lịch sử phát triển của Z39.4 Một số tính năng chính của Z39.4 Chuẩn mƣợn liên thƣ viện .36 Chƣơng 3: CHƢƠNG TRÌNH THỬ NGHIỆM .2 Thiết kế chƣơng trình.1 Công cụ lập trình YAZ của IndexData.2 Xây dựng ứng dụng đa luồng với Microsoft.1 Khái niệm về luồng(thread).2 Căn bản về mô hình luồng.

40 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Cấu trúc và Giải thuật .4 Sơ đồ lớp và mã nguồn chính .2 Giao diện và kết quả thử nghiệm .55 PHẦN KẾT LUẬN .59 TÀI LIỆU THAM KHẢO .61 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN VÀ TRA CỨU 1.1 Khái niệm về thƣ viện và tra cứu 1.1 Thƣ viện truyền thống: Ngày nay vẫn còn nhiều ngƣời cho rằng thƣ viện là một nơi yên tĩnh trong đó sách đƣợc cất giữ và ngƣời ta đánh giá thƣ viện theo tiêu chí số lƣợng sách đƣợc cất giữ nhiều hay ít. Đối với những ngƣời quản thủ thƣ viện có chuyên môn thì thƣ viện là một cơ sở có tổ chức để bảo quản tài liệu, sƣu tập và để truy cập đến những thƣ viện khác; không những chỉ sách mà còn có phim ảnh, băng đĩa âm thanh, mẫu vật thực vật, sản phẩm văn hoá, vv… Đối với nhà nghiên cứu, thƣ viện là một mạng lƣới cung cấp việc truy cập đến tri thức nhân loại đƣợc lƣu giữ khắp mọi nơi. Đối với một thƣ viện truyền thống, điều quan trọng là việc bổ sung nguồn tài nguyên ngày càng nhiều trên giá kệ trong kho thƣ viện. Sự thay đổi bộ mặt thƣ viện là kho tri thức của xã hội; có ngƣời còn cho rằng thƣ viện là đền đài của văn hoá và sự uyên thâm.

Đƣợc hình thành trong thời kỳ nông nghiệp thống trị trong tƣ duy của nhân loại, thƣ viện đã trải nghiệm qua một cuộc hồi sinh với việc phát minh ngành in trong thời kỳ Phục hƣng, và thực sự bắt đầu khởi sắc khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng phát với hàng loạt những phát minh cơ giới hoá quy trình in ấn. Lịch sử thƣ viện đã trải qua hơn 25 thế kỷ. Hình ảnh thƣ viện của thời xa xƣa đƣợc hình dung nhƣ là một cơ sở vững chắc trong đó chứa hàng ngàn phiến đá khổng lồ đƣợc khắc chữ - thƣờng đƣợc gọi là "rừng bia" [6]. Qua nhiều năm cùng với sự tiến hoá của nhân loại, con ngƣời càng tiến bộ trong nhận thức và thƣ viện ngày càng đƣợc phát triển.

Giai đoạn Quản lý tƣ liệu đã trải qua một thời gian dài theo sự phát triển đó. Cho đến một lúc, cũng xuất phát từ ý định ban đầu là làm tốt công việc lƣu trữ và bảo quản, thƣ viện đã chú trọng đến việc xem ngƣời sử dụng là trung tâm, với sự nhấn mạnh đến việc trao đổi thông tin. Điều này cũng đồng thời để đáp ứng yêu cầu thông tin ngày càng gia tăng. Thƣ viện cổ đại chỉ hữu ích đối với một thiểu số những ngƣời biết chữ và bị giới hạn trong một tầng lớp, giai cấp theo điều kiện xã hội.

Hoạt động thƣ viện công cộng đƣợc bắt đầu phát triển trong thế kỷ 19. Nhƣng vẫn là những thƣ viện đóng: sách đƣợc xếp theo kích cỡ trong những kho kín trong thƣ viện, độc giả chỉ tiếp cận với thủ thƣ ở quầy để yêu cầu mƣợn sách. Hầu hết những thƣ viện trong lục địa châu Âu đã áp dụng phƣơng thức này trong một thời gian dài. Đến thế kỷ 20 một số quản thủ thƣ viện nhận thức đƣợc tiện ích của việc cho độc giả tiếp cận với kho sách đã đề xuất phƣơng thức phục vụ kho mở với tài liệu đƣợc xếp theo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 môn loại.

Phƣơng thức này đƣợc bắt đầu áp dụng và nhanh chóng phát triển trong những quốc gia nói tiếng Anh hồi đó. Thƣ viện điện tử: Thƣ viện điện tử có thể đƣợc hiểu theo nghĩa tổng quát nhất cho mọi loại hình thƣ viện đã tin học hoá toàn bộ hoặc một số dịch vụ, và các hoạt động của ngành thƣ viện. Thƣ viện điện tử có thể đƣợc coi nhƣ là nơi ngƣời sử dụng có thể tới để thực hiện những công việc mà họ vẫn thƣờng làm với thƣ viện truyền thống nhƣ là mƣợn trả sách hoặc tài liệu, nhƣng đã đƣợc tự động hoá các hoạt động này. Theo tiến sĩ Ching-chih Chen, ngƣời đã có sáng kiến tổ chức một loạt hội nghị quốc tế về công nghệ thông tin mới (NIT) [6] hơn mƣời năm gần đây (từ 1987) thì hiện không có một tiêu chuẩn cố định, chính thức nào cho thƣ viện điện tử.

Ta có thể nhận biết một số đặc điểm của thƣ viện điện tử lý tƣởng nhƣ sau: - Thƣ viện phải có vốn tƣ liệu điện tử .Tƣ liệu điện tử là những tƣ liệu đƣợc lƣu trữ dƣới dạng số sao cho có thể truy nhập đƣợc bằng các thiết bị xử lý dữ liệu. - Phải đƣợc tin học hoá trong thƣ viện. Phải có một hệ quản trị thƣ viện tích hợp nhƣ bổ sung, biên mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lƣu thông tƣ liệu, tổ chức mục lục truy nhập công cộng trực tuyến,.Thƣ viện phải đƣợc kết nối mạng, tối thiểu cũng phải là mạng cục bộ hoặc Internet. - Phải cung cấp và tạo điều kiện cho ngƣời dùng sử dụng các dịch vụ điện tử nhƣ yêu cầu và gia hạn mƣợn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu, truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác,.

Tóm lại, thƣ viện điện tử phải sử dụng các phƣơng tiện điện tử trong thu thập, lƣu trữ, xử lý, tìm kiếm thông tin. Thƣ viện điện tử ra đời là kết quả của sự hợp tác giữa các chuyên gia thƣ viện, nhà xuất bản, các nhà khoa học và công nghệ thông tin hƣớng về mục tiêu tiếp cận tới đầy đủ thông tin, ở mọi nơi và mọi lúc. Thư viện điện tử là cổng vào thông tin Thƣ viện có thể chỉ chọn phƣơng án tạo lập những kết nối với các nguồn lực trên Internet, chứ không tổ chức cung cấp tƣ liệu đọc tại chỗ và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống. Những Thƣ viện nhƣ vậy dồn sức để thực hiện chức năng của một cổng vào thông tin và chỉ giới thiệu thƣ viện nhƣ một kho tƣ liệu ảo.

Xu hƣớng hiện nay là xây dựng các thƣ viện điện tử dƣới hình thức các trang web trên mạng thông tin toàn cầu. Trƣớc khi lập một Website tức là địa chỉ cung cấp tin trên mạng, cần phải xác định loại thông tin và dịch vụ nào cần đƣa lên mạng, liệu thƣ viện có xuất bản các tƣ liệu riêng của mình hay sẽ xây dựng một sƣu tập từ các nguồn lực của nơi khác hoặc kết hợp cả hai, liệu thƣ viện có tạo lập rất nhiều mối liên kết để 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 bao quát một phạm vi chủ đề rộng hay chỉ tập trung vào một số lĩnh vực chuyên ngành hay thậm chí chỉ một chuyên ngành sau đó chia thành những mục hẹp hơn, những vấn đề gì đang đƣợc ngƣời dùng quan tâm và đối tƣợng sử dụng là ai , nguyên tắc nhóm hợp tài liệu nào đối với ngƣời dùng là thích hợp và dễ tìm nhất trong quá trình tra cứu các trang web, thời gian và kinh phí phải mất thêm khi thiết lập và duy trì thƣ viện điện tử. Những dịch vụ có thể đƣa lên mạng là: - Truy nhập các cơ sở dữ liệu do thƣ viện xây dựng hoặc do nơi khác làm, có thu hoặc không thu lệ phí. - Cung cấp tƣ liệu: cách này tiết kiệm đƣợc thời gian biên chế và ngƣời dùng cũng nhƣ cuớc phí bƣu điện.

Hiện nay phổ biến dùng e-mail để chuyển yêu cầu, dùng e-mail hoặc fax để cung cấp tƣ liệu. - Gia hạn mƣợn - Gửi các thông báo của thƣ viện qua e-mail: về sách đặt đã tới lƣợt hoặc đòi sách - Tra cứu điện tử - Dịch vụ trả lời bạn đọc ( trong vòng 24 giờ ) Nhiều thƣ viện đã có dạng điện tử (thƣ viện ảo) trên Internet, có nhiều phƣơng án sử dụng công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của bạn đọc. Có nhiều ý kiến tán thành nhƣng cũng có không ít ý kiến hoài nghi, thậm chí phản bác việc xây dựng thƣ viện số ở các nƣớc đang phát triển. Nhiều vấn đề còn phải cân nhắc và giải quyết trƣớc khi các thƣ viện đó hoạt động nhƣ một bộ phận thông tin ổn định.

Về phƣơng diện kinh tế: Bƣớc đầu tiên và khó khăn nhất trong việc phát triển thƣ viện số là chuyển đổi các xuất bản phẩm truyền thống trên giấy sang dạng số. Vấn đề giá thành / hiệu quả của quá trình số hoá khó thuyết phục do chi phí công nghệ và sự cần thiết phải đầu tƣ liên tục vào công nghệ mới: Số hoá một trang tài liệu giá thành khoảng 0,1 - 0,5 đôla (cách đây 10 năm là 2 đôla). Một thƣ viện lớn có hàng triệu đơn vị tài liệu khó có thể số hoá toàn bộ kho tài liệu. Thiết bị cũng rất tốn kém vì các dự án đòi hỏi những siêu máy tính có trang bị các bộ vi xử lý cực mạnh, bộ nhớ và khối lƣợng lƣu trữ trong ổ cứng cực lớn.

Kể cả trƣờng hợp chuyển đổi số hoá toàn bộ ấn phẩm vào thƣ viện (số) truy nhập toàn cầu, thì chắc chắn phần lớn các tƣ liệu này sẽ lại in ra từ máy để đọc trên giấy. Về phƣơng diện kỹ thuật: Mặc dầu vấn đề chất lƣợng sao lại chính xác dữ liệu trong quá trình số hoá đã từng đặt ra và đến nay hầu nhƣ đã đƣợc giải quyết đƣợc bằng các máy quét hiện đại chất lƣợng cao, nhƣng vấn đề vật liệu lƣu trữ vẫn không thể bền đƣợc bằng các giấy không có axit.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ