PHẦN MỞ ĐẦU. 1 DANH MỤC HÌNH. 2 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN VÀ TRA CỨU .1 Khái niệm về thƣ viện và tra cứu .1 Thƣ viện truyền thống:. Thƣ viện điện tử:.3 Thƣ viện số:.4 Quy tắc xây dựng và phát triển thƣ viện số và thƣ viện điện tử .5 Quá trình hình thành thƣ viện điện tử và thƣ viện số .6 Sự phát triển Thƣ viện điện tử và Thƣ viện số ở nƣớc ta trong những năm hiện nay .4 Thƣ viện ảo .2 Tra cứu trực tuyến OPAC .14 Chƣơng 2: CÁC CHUẨN TRONG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ .1 Chuẩn biên mục và siêu dữ liệu: .1 Khổ mẫu biên mục – MARC .2 Siêu dữ liệu: .3 Ngôn ngữ đánh giá mở rộng XML.4 Khổ mẫu MARCXML .2 Chuẩn trao đổi dữ liệu .3 Chuẩn tra cứu liên thƣ viện Z39.1 Khái niệm về Z39.2 Giải pháp và lợi ích của Z39.3 Tóm lƣợc lịch sử phát triển của Z39.4 Một số tính năng chính của Z39.4 Chuẩn mƣợn liên thƣ viện .36 Chƣơng 3: CHƢƠNG TRÌNH THỬ NGHIỆM .2 Thiết kế chƣơng trình.1 Công cụ lập trình YAZ của IndexData.2 Xây dựng ứng dụng đa luồng với Microsoft.1 Khái niệm về luồng(thread).2 Căn bản về mô hình luồng.
40 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Cấu trúc và Giải thuật .4 Sơ đồ lớp và mã nguồn chính .2 Giao diện và kết quả thử nghiệm .55 PHẦN KẾT LUẬN .59 TÀI LIỆU THAM KHẢO .61 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN VÀ TRA CỨU 1.1 Khái niệm về thƣ viện và tra cứu 1.1 Thƣ viện truyền thống: Ngày nay vẫn còn nhiều ngƣời cho rằng thƣ viện là một nơi yên tĩnh trong đó sách đƣợc cất giữ và ngƣời ta đánh giá thƣ viện theo tiêu chí số lƣợng sách đƣợc cất giữ nhiều hay ít. Đối với những ngƣời quản thủ thƣ viện có chuyên môn thì thƣ viện là một cơ sở có tổ chức để bảo quản tài liệu, sƣu tập và để truy cập đến những thƣ viện khác; không những chỉ sách mà còn có phim ảnh, băng đĩa âm thanh, mẫu vật thực vật, sản phẩm văn hoá, vv… Đối với nhà nghiên cứu, thƣ viện là một mạng lƣới cung cấp việc truy cập đến tri thức nhân loại đƣợc lƣu giữ khắp mọi nơi. Đối với một thƣ viện truyền thống, điều quan trọng là việc bổ sung nguồn tài nguyên ngày càng nhiều trên giá kệ trong kho thƣ viện. Sự thay đổi bộ mặt thƣ viện là kho tri thức của xã hội; có ngƣời còn cho rằng thƣ viện là đền đài của văn hoá và sự uyên thâm.
Đƣợc hình thành trong thời kỳ nông nghiệp thống trị trong tƣ duy của nhân loại, thƣ viện đã trải nghiệm qua một cuộc hồi sinh với việc phát minh ngành in trong thời kỳ Phục hƣng, và thực sự bắt đầu khởi sắc khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng phát với hàng loạt những phát minh cơ giới hoá quy trình in ấn. Lịch sử thƣ viện đã trải qua hơn 25 thế kỷ. Hình ảnh thƣ viện của thời xa xƣa đƣợc hình dung nhƣ là một cơ sở vững chắc trong đó chứa hàng ngàn phiến đá khổng lồ đƣợc khắc chữ - thƣờng đƣợc gọi là "rừng bia" [6]. Qua nhiều năm cùng với sự tiến hoá của nhân loại, con ngƣời càng tiến bộ trong nhận thức và thƣ viện ngày càng đƣợc phát triển.
Giai đoạn Quản lý tƣ liệu đã trải qua một thời gian dài theo sự phát triển đó. Cho đến một lúc, cũng xuất phát từ ý định ban đầu là làm tốt công việc lƣu trữ và bảo quản, thƣ viện đã chú trọng đến việc xem ngƣời sử dụng là trung tâm, với sự nhấn mạnh đến việc trao đổi thông tin. Điều này cũng đồng thời để đáp ứng yêu cầu thông tin ngày càng gia tăng. Thƣ viện cổ đại chỉ hữu ích đối với một thiểu số những ngƣời biết chữ và bị giới hạn trong một tầng lớp, giai cấp theo điều kiện xã hội.
Hoạt động thƣ viện công cộng đƣợc bắt đầu phát triển trong thế kỷ 19. Nhƣng vẫn là những thƣ viện đóng: sách đƣợc xếp theo kích cỡ trong những kho kín trong thƣ viện, độc giả chỉ tiếp cận với thủ thƣ ở quầy để yêu cầu mƣợn sách. Hầu hết những thƣ viện trong lục địa châu Âu đã áp dụng phƣơng thức này trong một thời gian dài. Đến thế kỷ 20 một số quản thủ thƣ viện nhận thức đƣợc tiện ích của việc cho độc giả tiếp cận với kho sách đã đề xuất phƣơng thức phục vụ kho mở với tài liệu đƣợc xếp theo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 môn loại.
Phƣơng thức này đƣợc bắt đầu áp dụng và nhanh chóng phát triển trong những quốc gia nói tiếng Anh hồi đó. Thƣ viện điện tử: Thƣ viện điện tử có thể đƣợc hiểu theo nghĩa tổng quát nhất cho mọi loại hình thƣ viện đã tin học hoá toàn bộ hoặc một số dịch vụ, và các hoạt động của ngành thƣ viện. Thƣ viện điện tử có thể đƣợc coi nhƣ là nơi ngƣời sử dụng có thể tới để thực hiện những công việc mà họ vẫn thƣờng làm với thƣ viện truyền thống nhƣ là mƣợn trả sách hoặc tài liệu, nhƣng đã đƣợc tự động hoá các hoạt động này. Theo tiến sĩ Ching-chih Chen, ngƣời đã có sáng kiến tổ chức một loạt hội nghị quốc tế về công nghệ thông tin mới (NIT) [6] hơn mƣời năm gần đây (từ 1987) thì hiện không có một tiêu chuẩn cố định, chính thức nào cho thƣ viện điện tử.
Ta có thể nhận biết một số đặc điểm của thƣ viện điện tử lý tƣởng nhƣ sau: - Thƣ viện phải có vốn tƣ liệu điện tử .Tƣ liệu điện tử là những tƣ liệu đƣợc lƣu trữ dƣới dạng số sao cho có thể truy nhập đƣợc bằng các thiết bị xử lý dữ liệu. - Phải đƣợc tin học hoá trong thƣ viện. Phải có một hệ quản trị thƣ viện tích hợp nhƣ bổ sung, biên mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lƣu thông tƣ liệu, tổ chức mục lục truy nhập công cộng trực tuyến,.Thƣ viện phải đƣợc kết nối mạng, tối thiểu cũng phải là mạng cục bộ hoặc Internet. - Phải cung cấp và tạo điều kiện cho ngƣời dùng sử dụng các dịch vụ điện tử nhƣ yêu cầu và gia hạn mƣợn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu, truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác,.
Tóm lại, thƣ viện điện tử phải sử dụng các phƣơng tiện điện tử trong thu thập, lƣu trữ, xử lý, tìm kiếm thông tin. Thƣ viện điện tử ra đời là kết quả của sự hợp tác giữa các chuyên gia thƣ viện, nhà xuất bản, các nhà khoa học và công nghệ thông tin hƣớng về mục tiêu tiếp cận tới đầy đủ thông tin, ở mọi nơi và mọi lúc. Thư viện điện tử là cổng vào thông tin Thƣ viện có thể chỉ chọn phƣơng án tạo lập những kết nối với các nguồn lực trên Internet, chứ không tổ chức cung cấp tƣ liệu đọc tại chỗ và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống. Những Thƣ viện nhƣ vậy dồn sức để thực hiện chức năng của một cổng vào thông tin và chỉ giới thiệu thƣ viện nhƣ một kho tƣ liệu ảo.
Xu hƣớng hiện nay là xây dựng các thƣ viện điện tử dƣới hình thức các trang web trên mạng thông tin toàn cầu. Trƣớc khi lập một Website tức là địa chỉ cung cấp tin trên mạng, cần phải xác định loại thông tin và dịch vụ nào cần đƣa lên mạng, liệu thƣ viện có xuất bản các tƣ liệu riêng của mình hay sẽ xây dựng một sƣu tập từ các nguồn lực của nơi khác hoặc kết hợp cả hai, liệu thƣ viện có tạo lập rất nhiều mối liên kết để 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 bao quát một phạm vi chủ đề rộng hay chỉ tập trung vào một số lĩnh vực chuyên ngành hay thậm chí chỉ một chuyên ngành sau đó chia thành những mục hẹp hơn, những vấn đề gì đang đƣợc ngƣời dùng quan tâm và đối tƣợng sử dụng là ai , nguyên tắc nhóm hợp tài liệu nào đối với ngƣời dùng là thích hợp và dễ tìm nhất trong quá trình tra cứu các trang web, thời gian và kinh phí phải mất thêm khi thiết lập và duy trì thƣ viện điện tử. Những dịch vụ có thể đƣa lên mạng là: - Truy nhập các cơ sở dữ liệu do thƣ viện xây dựng hoặc do nơi khác làm, có thu hoặc không thu lệ phí. - Cung cấp tƣ liệu: cách này tiết kiệm đƣợc thời gian biên chế và ngƣời dùng cũng nhƣ cuớc phí bƣu điện.
Hiện nay phổ biến dùng e-mail để chuyển yêu cầu, dùng e-mail hoặc fax để cung cấp tƣ liệu. - Gia hạn mƣợn - Gửi các thông báo của thƣ viện qua e-mail: về sách đặt đã tới lƣợt hoặc đòi sách - Tra cứu điện tử - Dịch vụ trả lời bạn đọc ( trong vòng 24 giờ ) Nhiều thƣ viện đã có dạng điện tử (thƣ viện ảo) trên Internet, có nhiều phƣơng án sử dụng công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của bạn đọc. Có nhiều ý kiến tán thành nhƣng cũng có không ít ý kiến hoài nghi, thậm chí phản bác việc xây dựng thƣ viện số ở các nƣớc đang phát triển. Nhiều vấn đề còn phải cân nhắc và giải quyết trƣớc khi các thƣ viện đó hoạt động nhƣ một bộ phận thông tin ổn định.
Về phƣơng diện kinh tế: Bƣớc đầu tiên và khó khăn nhất trong việc phát triển thƣ viện số là chuyển đổi các xuất bản phẩm truyền thống trên giấy sang dạng số. Vấn đề giá thành / hiệu quả của quá trình số hoá khó thuyết phục do chi phí công nghệ và sự cần thiết phải đầu tƣ liên tục vào công nghệ mới: Số hoá một trang tài liệu giá thành khoảng 0,1 - 0,5 đôla (cách đây 10 năm là 2 đôla). Một thƣ viện lớn có hàng triệu đơn vị tài liệu khó có thể số hoá toàn bộ kho tài liệu. Thiết bị cũng rất tốn kém vì các dự án đòi hỏi những siêu máy tính có trang bị các bộ vi xử lý cực mạnh, bộ nhớ và khối lƣợng lƣu trữ trong ổ cứng cực lớn.
Kể cả trƣờng hợp chuyển đổi số hoá toàn bộ ấn phẩm vào thƣ viện (số) truy nhập toàn cầu, thì chắc chắn phần lớn các tƣ liệu này sẽ lại in ra từ máy để đọc trên giấy. Về phƣơng diện kỹ thuật: Mặc dầu vấn đề chất lƣợng sao lại chính xác dữ liệu trong quá trình số hoá đã từng đặt ra và đến nay hầu nhƣ đã đƣợc giải quyết đƣợc bằng các máy quét hiện đại chất lƣợng cao, nhƣng vấn đề vật liệu lƣu trữ vẫn không thể bền đƣợc bằng các giấy không có axit.