Đặt vấn đề Môi trường và những yếu tố trong nó luôn là một vấn đề nóng bỏng, thu hút được nhiều sự quan tâm của đa số các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển như hiện nay, khi xu hướng toàn cầu hóa, công ngiệp hóa đang trên đà phát triển. Việt Nam ta cũng không nằm ngoài xu thế đó. Là một nước đang phát triển, từng bước chuyển mình sang nền kinh tế công nghiệp lớn, kèm theo đó là đời sống dân cư ngày càng phát triển, đô thị hóa cao… và điều này đã đặt Việt Nam ta đứng trước nguy cơ môi trường bị tàn phá nặng nề. Môi trường bị suy thoái kéo theo các yếu tố trong nó cũng đang giảm sút nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng, trong đó có một thành phần không nhỏ của môi trường là đa dạng sinh học cũng bị ảnh hưởng nặng nề.
Việt Nam là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Theo các nhà khoa học thì Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật (Lê Mộng Chân, 2000) [7], 7.750 loài côn trùng, 162 loài ếch nhái, 286 loài bò sát, 840 loài chim và 310 loài thú (Đặng Huy Huỳnh, 2005) [3]. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên động thực vật rừng Việt Nam còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn chưa khám phá hết, bằng chứng là trong những năm qua chúng ta không ngừng phát hiện thêm những loài mới cho khoa học và cho nước ta. Ngoài ra khu hệ động thực vật nước ta còn chứa đựng nhiều yếu tố độc đáo, mức độ đặc hữu cao, có nhiều loài động thực vật quý hiếm và có giá trị bảo tồn toàn cầu như Tê giác một sừng, Voi, Gà lôi lam Hà Tĩnh, Nghiến, Táu mật, Sâm Ngọc Linh,.
Chính vì vậy, nghiên cứu về động thực vật tại Việt Nam vẫn đang được tiến hành với sự nỗ lực của các nhà khoa học nhằm tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh vật học các loài, hiện trạng và các giải pháp nhằm bảo tồn nguồn gen cũng như phát huy các giá trị của chúng nhằm phục vụ đời sống. 2 Bắc Kạn là một tỉnh nằm sâu trong vùng nội địa phía Đông Bắc, được biết đến là một trong các tỉnh thành có tính đa dạng sinh học cao. Trên địa bàn tỉnh có vườn quốc gia Ba Bể và khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ. Tuy nhiên đa dạng sinh học đang bị suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động khai thác trái phép diễn ra hết sức phức tạp.
Chợ Mới Là huyện có rừng và đất lâm nghiệp với diện tích rộng lớn, địa hình phức tạp, đặc biệt diện tích rừng phòng hộ hiện nay vẫn còn thiếu Ban quản lý, nên việc thu nhận thông tin, bám nắm địa bàn của cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương trong việc tổ chức tuần tra ngăn chặn các hành vi vi phạm còn gặp nhiều khó khăn. Do lợi nhuận thu được từ việc buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép cao nên các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng có những thời điểm diễn biến phức tạp. Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy tầm quan trọng của việc điều tra thống kê đa dạng sinh học, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, và cơ sở thực tập là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chợ Mới, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS. Đỗ Thị Lan, em tiến hành thực hiện đề tài: “ Điều tra, thống kê đa dạng sinh học tại Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” , nhằm góp phần nêu bật được hiện trạng đa dạng sinh học, đóng góp cho việc xây dựng lên bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của huyện Chợ Mới nói riêng và toàn tỉnh Bắc Kạn nói chung.
Mục tiêu, yêu cầu 1.Mục tiêu Mục tiêu chung: Điều tra thống kê và đánh giá được hiện trạng ĐDSH của Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn và góp phần xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về ĐDSH phục vụ cho công tác quản lý và nghiên cứu chung của tỉnh. 3 Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá được điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội có tác động đến ĐDSH tại khu vực nghiên cứu. - Khái quát được những nét đặc trưng về hiện trạng các HST điển hình tại khu vực nghiên cứu. - Điều tra, thống kê về động – thực vật của khu vực nghiên cứu.
- Chỉ ra được nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH; các yếu tố tác động đến công tác bảo tồn ĐDSH của toàn huyện. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế sự suy giảm ĐDSH. Yêu cầu Đề tài có độ chính xác và mang tính thiết thực. Thông tin, số liệu thu thập và kết quả phân tích phải đảm bảo tính chính xác, trung thục và khách quan.
Đề xuất những giải pháp, kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Vận dụng được kiến thức đã học để làm quen với thực tế. Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút ra được nhiều kinh nghiệm để phục vụ cho công tác sau này.
Điều tra có được nguồn tài liệu về ĐDSH hữu ích cho các nghiên cứu sau này. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đưa ra cái nhìn khái quát nhất về hiện trạng ĐDSH tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Từ đó góp phần xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về ĐDSH, phục vụ cho công tác quản lý và nghiên cứu chung của tỉnh. Chỉ ra được nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế sự suy giảm ĐDSH.
4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.Khái niệm đa dạng sinh học - ĐDSH là khái niệm được hiểu khác nhau nếu tiếp cận từ các góc độ khác nhau. Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào thì các định nghĩa về ĐDSH đều được thừa nhận mối liên hệ giữa các giống loài, sự phụ thuộc vào nhau giữa chúng trong quá trình tiến hóa và phát triển. ĐDSH cấu thành nền tảng của cuộc sống trên trái đất, cuộc sống của con người lẫn các thực thể sống.
Công ước quốc tế về ĐDSH (CBD,1992) [22], đã đưa ra định nghĩa sau về ĐDSH: “ĐDSH có nghĩa là tính đa dạng biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và tập hợp sinh thái mà chúng là một phần. Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi loài, giữa các loài và hệ sinh thái”. Các định nghĩa khác về ĐDSH: - Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc - FAO : Tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái [24]. - OTA (1987): Sự đa dạng và tính khác nhau của các sinh vật sống và các phức hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó.
Tính đa dạng có thể định nghĩa là một số lượng xác định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đối của chúng. Đối với đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phức tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng [24]. 5 - McNeely et al (1990): Bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia.
Đây là khái niệm bao trùm cho mức độ phong phú của tự nhiên, bao gồm cả số lượng và tần số xuất hiện của các hệ sinh thái, các loài và các ghen di truyền trong một tổ hợp xác định [24]. - Theo định nghĩa của quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên ( WWF) thì ĐDSH là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống” [16]. Như thế ĐDSH cần được xem xét ở ba mức độ. ĐDSH ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên trái đất bao gồm vi khuẩn, đến các loài động vật, thực vật và nấm.
Ở mức độ nhỏ hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các quần thể cách ly khác nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng sinh sống trong một quần thể. Sự khác biệt của ĐDSH ở ba mức dộ khác nhau. - Thành phần của đa dạng sinh học gồm: Bảng 2.1: Các mức độ đa dạng sinh học (Heywood & Baste 1995) Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái Giới (Kingdoms) Quần thể ( Populations) Sinh đới ( Biomes) Ngành ( Phyla) Cá thể ( Individuals) Vùng sinh học ( Bioregions) Lớp ( Class) Nhiễm sắc thể ( Chromosomes) Cảnh quan ( Landscapes) Bộ ( 0rder) Gene Hệ sinh thái ( Ecosytems) Họ (Families) Nucleotide Nơi ở (Habitats) Giống ( Gennera) Tổ sinh thái (Niches) Loài (Species) Nguồn: Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004 + Đa dạng về gen: Là toàn bộ các gen chưa trong tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật. Các nhiễm sắc thể, các gen và các AND chính là những dạng vật chất di truyền tạo ra những tính chất đặc trưng của từng cá thể trong mỗi loài và từ đó tạo ra sự đa dạng của nguồn gen.
6 + Đa dạng loài: là toàn bộ những sự khác nhau trong một nhóm và giữa các nhóm loài cũng như giũa các loài trong tự nhiên. Sự đa dạng này bao gồm số lượng vô cùng lớn các loài thực vật, động vật và vi sinh vật. Sự đa dạng loài thể hiện trong số lượng khổng lồ các loài thực vật, động vật tồn tại trên trái đất. Theo ước tính của các nhà khoa học thì có khoảng 10 triệu loài khác nhau đang tồn tại, nhưng chỉ có một phần trong số đó hiện đã xác định được.
Tuy nhiên những số liệu khoa học về số giống loài trên trái đất có khác nhau trong các nghiên cứu về sinh học song sự đa dạng về giống loài thực tế không thể phủ nhận. + Đa dạng HST: là sự phong phú về trạng thái và loại hình hệ sinh thái khác nhau.