Luận văn thạc sĩ đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước ở việt nam thực trạng và giải pháp

Luận văn đầu tư xây dựng cơ bản nhà nước: Phân tích thực trạng đầu tư, các vấn đề tồn tại. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2006

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn đầu tư xây dựng cơ bản nhà nước Vai trò cốt lõi

Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) của nhà nước là một hoạt động kinh tế mang ý nghĩa chiến lược, đóng vai trò tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho toàn xã hội. Hoạt động này sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển và vốn của doanh nghiệp nhà nước để kiến tạo các tài sản cố định như hạ tầng giao thông, nhà máy, công trình công cộng. Luận văn của tác giả Bùi Mạnh Cường (2006) đã hệ thống hóa vai trò và đặc điểm của lĩnh vực này trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Về bản chất, ĐTXDCB của nhà nước không chỉ tác động đến tổng cung và tổng cầu trong ngắn hạn mà còn là chìa khóa cho sự tăng trưởng dài hạn, quyết định tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khác với đầu tư tư nhân, ĐTXDCB nhà nước thường hướng vào các lĩnh vực mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia, nhằm khắc phục các "thất bại của thị trường" và đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội. Do đó, việc nghiên cứu để nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng từ nguồn vốn công là nhiệm vụ cấp thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của quốc gia.

1.1. Sự cần thiết của hoạt động đầu tư từ ngân sách nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động đầu tư của nhà nước là tất yếu để giải quyết những vấn đề mà khu vực tư nhân không thể đảm đương. Nhà nước phải trực tiếp đầu tư để cung cấp hàng hóa công, như quốc phòng, an ninh, và các công trình hạ tầng trọng điểm. Đây là những lĩnh vực có chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài và không mang lại lợi nhuận trực tiếp, do đó không hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân. Hơn nữa, ĐTXDCB từ ngân sách nhà nước còn có vai trò điều tiết vĩ mô, định hướng phát triển theo vùng miền, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội. Theo luận văn, "ĐTXDCB của nhà nước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội". Nếu không có sự tham gia của nhà nước, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ mất cân đối nghiêm trọng, hạ tầng yếu kém và các vấn đề xã hội không được giải quyết triệt để.

1.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng

Hiệu quả đầu tư xây dựng của nhà nước chịu tác động bởi nhiều yếu tố phức tạp. Yếu tố hàng đầu là công tác quy hoạch. Một quy hoạch sai lầm hoặc dàn trải sẽ dẫn đến các dự án đầu tư xây dựng kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực khổng lồ. Yếu tố thứ hai là hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách đầu tư. Một hành lang pháp lý thiếu đồng bộ, chồng chéo hoặc nhiều kẽ hở sẽ tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng và thất thoát lãng phí trong xây dựng. Yếu tố thứ ba là năng lực của bộ máy quản lý và con người. Năng lực của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, và đội ngũ cán bộ trực tiếp quyết định đến chất lượng từ khâu lập dự án đến thi công, nghiệm thu. Cuối cùng, môi trường cạnh tranh cũng có ảnh hưởng lớn. Trong ĐTXDCB của nhà nước, tính cạnh tranh thường không cao, dễ dẫn đến tình trạng chỉ định thầu, thiếu minh bạch, làm giảm hiệu quả đầu tư xây dựng.

II. Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản Những yếu kém nổi cộm

Giai đoạn từ 1995 đến 2005 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước, chiếm tỷ trọng chủ đạo trong tổng đầu tư toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, hoạt động này cũng bộc lộ nhiều yếu kém nghiêm trọng, trở thành vấn đề nhức nhối. Luận văn đã chỉ ra các vấn đề cốt lõi như đầu tư sai mục tiêu, dàn trải, khép kín, gây lãng phí lớn. Tình trạng thất thoát lãng phí trong xây dựng, tiêu cực và tham nhũng diễn ra ở nhiều khâu của dự án, từ lập chủ trương đầu tư đến quyết toán công trình. Một trong những nguyên nhân chính là hệ thống cơ chế chính sách đầu tư còn nhiều bất cập, thay đổi liên tục, tạo ra những "vòng đời ngắn" cho các văn bản pháp quy và gây khó khăn trong áp dụng. Công tác quản lý dự án xây dựng còn yếu kém, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, dẫn đến tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài. Những yếu kém này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư xây dựng mà còn gây mất niềm tin trong xã hội và tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

2.1. Vấn nạn thất thoát lãng phí trong xây dựng và tham nhũng

Thất thoát lãng phí trong xây dựng là một trong những yếu kém nghiêm trọng nhất được đề cập trong luận văn. Vấn đề này xảy ra ở tất cả các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng, từ khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán đến thi công và nghiệm thu. Nguyên nhân có thể do sai sót kỹ thuật, yếu kém trong quản lý, nhưng phần lớn xuất phát từ các hành vi tiêu cực, tham nhũng. Các biểu hiện phổ biến bao gồm nâng khống khối lượng, sử dụng vật liệu kém chất lượng, thông đồng trong đấu thầu dự án để lựa chọn nhà thầu sân sau. Hậu quả là chất lượng công trình không đảm bảo, chi phí đầu tư bị đội lên cao vô lý, gây thiệt hại nặng nề cho ngân sách nhà nước. Luận văn nhấn mạnh rằng "Lãng phí, thất thoát, tiêu cực, tham nhũng" là những biểu hiện rõ nét cho thấy hiệu quả ĐTXDCB của nhà nước còn thấp. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự vào cuộc quyết liệt của công tác thanh tra xây dựng và xử lý nghiêm minh các vi phạm.

2.2. Bất cập trong cơ chế chính sách đầu tư và khuôn khổ pháp lý

Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ĐTXDCB đã trải qua nhiều lần thay đổi, từ Nghị định 177/CP (1994), 42/CP (1996) đến 52/1999/NĐ-CP và các sửa đổi sau đó. Sự thay đổi nhanh chóng này, dù nhằm bám sát thực tiễn, lại gây ra tình trạng bất cập và chồng chéo. Luận văn chỉ rõ: "một phần do sự chuyển đổi nhanh chóng của cơ chế... một phần do tầm nhìn hạn chế nên các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ĐTXDCB có vòng đời ngắn, phải sửa đổi nhiều". Điều này làm cho việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn, phức tạp. Nhiều kẽ hở trong cơ chế chính sách đầu tưLuật Đầu tư công đã bị lợi dụng để trục lợi. Thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp cũng là một rào cản, làm chậm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và tăng chi phí cho dự án.

III. Phương pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư xây dựng

Để nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước, giải pháp nền tảng và mang tính đột phá nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách. Luận văn đề xuất một nhóm giải pháp tập trung vào việc xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và ổn định. Điều này bao gồm việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới để lấp đầy những khoảng trống hiện có, đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định đã lạc hậu, mâu thuẫn. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là phải làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình đầu tư, từ người phê duyệt chủ trương đầu tư đến đơn vị thi công. Song song đó, việc đổi mới công tác quy hoạch theo hướng chất lượng, công khai và có tầm nhìn dài hạn là yêu cầu bắt buộc. Một quy hoạch tốt sẽ là cơ sở để các dự án đầu tư xây dựng được triển khai đúng hướng, tránh tình trạng đầu tư dàn trải và lãng phí như đã phân tích.

3.1. Rà soát sửa đổi hệ thống văn bản liên quan đến Luật Đầu tư công

Giải pháp cấp bách là cần rà soát toàn diện hệ thống văn bản pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến Luật Đầu tư công và xây dựng. Cần loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật và nghị định. Luận văn đề xuất "Rà soát, bổ sung, sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng hiện nay còn bất cập, mâu thuẫn, lạc hậu". Mục tiêu là xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, dễ áp dụng, giảm thiểu thủ tục hành chính không cần thiết. Các quy định cần được thiết kế theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền nhưng phải đi đôi với cơ chế kiểm soát chặt chẽ và quy định rõ ràng trách nhiệm giải trình của các cấp, các ngành. Việc này sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và tạo môi trường pháp lý ổn định cho các hoạt động đầu tư.

3.2. Đổi mới công tác quy hoạch và phê duyệt chủ trương đầu tư

Công tác quy hoạch phải đi trước một bước và có chất lượng cao. Cần chấm dứt tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch thiếu tầm nhìn. Luận văn đề xuất "Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, lập kế hoạch, xây dựng chiến lược đầu tư". Quy hoạch sau khi được phê duyệt phải được công khai rộng rãi để người dân và doanh nghiệp cùng giám sát. Quy trình thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và dự án cần được siết chặt. Các dự án phải được đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế - xã hội, tác động môi trường và khả năng cân đối vốn, tránh phê duyệt ồ ạt các dự án không khả thi, gây ra gánh nặng nợ đọng xây dựng cơ bản.

IV. Bí quyết tối ưu quản lý dự án đầu tư xây dựng công hiệu quả

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý dự án xây dựng là nhóm giải pháp mang tính thực thi, tác động trực tiếp đến kết quả của từng công trình. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới mô hình quản lý, thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về ĐTXDCB để tránh sự phân tán, chồng chéo. Trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án, đơn vị tư vấn và nhà thầu phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong hợp đồng và được giám sát chặt chẽ. Yếu tố con người được xem là then chốt. Việc đào tạo, bồi dưỡng và quy định trách nhiệm rõ ràng cho đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình đầu tư là yêu cầu sống còn. Đặc biệt, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh. Một cơ chế đấu thầu dự án công khai, minh bạch sẽ giúp lựa chọn được các nhà thầu có đủ năng lực, góp phần chống tiêu cực và nâng cao chất lượng công trình.

4.1. Cải cách mô hình quản lý dự án xây dựng và ban quản lý

Mô hình quản lý dự án hiện tại cần được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp hóa. Luận văn đề xuất "Đổi mới hình thức quản lý thực hiện dự án và hoạt động của các Ban quản lý dự án". Thay vì các ban quản lý kiêm nhiệm, hoạt động thiếu chuyên nghiệp, cần hình thành các tổ chức tư vấn quản lý dự án xây dựng chuyên nghiệp, có đủ năng lực và chịu trách nhiệm hoàn toàn về tiến độ, chất lượng và chi phí của dự án. Cần quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chủ đầu tư, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ đầu tư để đảm bảo tính khách quan, minh bạch. Việc này giúp nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư công và ngăn ngừa các hành vi tiêu cực ngay từ cấp cơ sở.

4.2. Tăng cường thanh tra xây dựng giám sát và xử lý vi phạm

Để ngăn chặn thất thoát lãng phí trong xây dựng, công tác giám sát và kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên, độc lập và thực chất. Luận văn đề xuất "Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư XDCB". Hoạt động thanh tra xây dựng cần được đổi mới, không chỉ thanh tra sau khi sai phạm đã xảy ra mà cần tập trung vào phòng ngừa, cảnh báo sớm. Các kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm phải được công khai để tăng tính răn đe. Cần áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc, đủ sức nặng đối với cả cá nhân và tổ chức vi phạm, bao gồm cả việc cấm tham gia các hoạt động xây dựng có sử dụng vốn nhà nước.

4.3. Nâng cao năng lực nhà thầu thông qua đấu thầu dự án minh bạch

Chất lượng công trình phụ thuộc rất lớn vào năng lực nhà thầu. Để lựa chọn được nhà thầu tốt, giải pháp cốt lõi là phải tổ chức đấu thầu dự án một cách công khai, minh bạch và cạnh tranh. Cần hạn chế tối đa việc chỉ định thầu, trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Hồ sơ mời thầu cần xây dựng các tiêu chí rõ ràng về năng lực tài chính, kinh nghiệm, kỹ thuật. Quá trình chấm thầu phải độc lập, khách quan. Việc áp dụng đấu thầu qua mạng là một giải pháp hiệu quả để tăng tính minh bạch, giảm thiểu tiêu cực và tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, từ đó thúc đẩy việc tái cơ cấu đầu tư công theo hướng hiệu quả hơn.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƢỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƢỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Khái niệm Đầu tƣ là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội (KT-XH ) để mong thu đƣợc lợi ích dƣới các hình thức khác nhau trong tƣơng lai. Đầu tƣ hay hoạt động đầu tƣ là việc huy động các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn.

Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất khác. Biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây đƣợc gọi là vốn đầu tƣ. Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính ( tiền vốn ), tài sản vật chất ( nhà máy, đƣờng sá,.), tài sản trí tuệ ( trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,… ) và nguồn nhân lực. Có nhiều cách phân loại đầu tƣ.

Xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tƣ đem lại ngƣòi ta phân chia ra thành : Đầu tƣ tài chính là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua chứng chỉ có giá để hƣởng lãi suất định trƣớc ( gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành ( mua cổ phiếu, trái phiếu công ty). Đầu tƣ thƣơng mại là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Đầu tƣ tài sản vật chất và nguồn nhân lực là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh, hoạt động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 xã hội khác. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, xây lắp, bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KTXH.

Loại đầu tƣ này đƣợc gọi chung là đầu tƣ phát triển Để phục vụ cho việc lập và thẩm định dự án đầu tƣ ngƣòi ta thƣờng quan tâm đến các loại đầu tƣ sau: Đầu tƣ trực tiếp là đầu tƣ mà ngƣời bỏ vốn và ngƣời quản lý sử dụng vốn là một chủ thể. Đầu tƣ trực tiếp có thể là đầu tƣ trong nƣớc hoặc đầu tƣ của nƣớc ngoài tại Việt Nam. Đầu tƣ gián tiếp là đầu tƣ mà ngƣời bỏ vốn và ngƣời sử dụng vốn không phải là một chủ thể. Trƣờng hợp cần quan tâm nhất là đầu tƣ gián tiếp bằng vốn của nƣớc ngoài.

Đó là loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn của Nhà nƣớc vay của nƣớc ngoài với lãi suất ƣu đãi. Đầu tƣ trong nƣớc là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, ngƣòi Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú lâu dài ở Việt Nam. Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam, hay còn gọi là đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài tại Việt Nam hay gọi tắt là đầu tƣ nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam. Đầu tƣ ra nƣớc ngoài là đầu tƣ của các tổ chức hoặc cá nhân của nƣớc này tại nƣớc khác.

Ở Việt Nam hiện nay còn ít có loại đầu tƣ này. Đầu tƣ mới là đầu tƣ để xây dựng mới các công trình, nhà máy, thành lập mới các công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới. Đặc điểm của đầu tƣ mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Đầu tƣ theo chiều sâu là loại đầu tƣ nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại, đồng bộ hoá, hiện đại hoá, mở rộng các đối tƣợng hiện có.

Đầu tƣ cơ bản là hoạt động đầu tƣ để tạo ra các TSCĐ. Trong hoạt động đầu tƣ, các nhà đầu tƣ phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động. Khác với đối tƣợng lao động ( nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm .) các tƣ liệu lao động ( nhƣ máy móc thiết bị, nhà xƣởng, phƣơng tiên vận tải,.) là những phƣơng tiện vật chất mà con ngƣơì sử dụng để tác động vào đối tƣợng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tƣ liệu lao động là các TSCĐ.

Đó là các tƣ liệu lao động chủ yếu đƣợc sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải, nhà xƣởng, các công trình kiến trúc, TSCĐ vô hình.Thông thƣờng một tƣ liệu lao động đƣợc coi là một TSCĐ phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu và phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này đƣợc quy định riêng đối với từng nƣớc và có thể đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với giá cả của từng thời kỳ. Những tƣ liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn quy định trên đƣợc coi là những công cụ lao động nhỏ, đƣợc mua sắm bằng nguồn vốn lƣu động. TSCĐ đƣợc chia thành hai loại: TSCĐ có hình thái vật chất ( TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật chất ( TSCĐ vô hình).

Để có đƣợc TSCĐ, chủ đầu tƣ có thể thực hiện bằng nhiều cách nhƣ: xây dựng mới, mua sắm, đi thuê,. Hoạt động đầu tƣ cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các TSCĐ đƣợc gọi là ĐTXDCB. XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động ĐTXDCB. XDCB là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ ( nhƣ khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt,.

Vốn của dự án ĐTXDCB nói chung đƣợc cấu thành bởi các nguồn sau : Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nƣớc. Nguồn vốn này bao gồm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 + Ngân sách nhà nƣớc cấp phát. + Vốn của các doanh nghiệp nhà nƣớc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhà xƣởng còn chƣa sử dụng đến,. đƣợc huy động đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh; vốn góp của nhà nƣớc trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế trong nƣớc và nƣớc ngoài.

+ Vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc mà Chính phủ cho vay theo lãi suất ƣu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc nhà nƣớc đi vay để cho vay lại đầu tƣ vào các dự án thuộc lĩnh vực đƣợc ƣu tiên trong kế hoạch nhà nƣớc đối với một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. + Vốn vay nợ, viện trợ từ bên ngoài của Chính phủ thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA). Trên thực tế, một phần vốn này sẽ đƣa vào ngân sách đầu tƣ, còn phần ODA cho các doanh nghiệp vay lại thì đƣa vào nguồn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc. Thứ hai là nguồn vốn đầu tƣ của khu vực tƣ nhân và nguồn vốn đóng góp tự nguyện của dân cƣ vì lợi ích cộng đồng, kể cả đóng góp công lao động, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi.

Thứ ba là nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Nguồn vốn này bao gồm đầu tƣ gián tiếp và đầu tƣ trực tiếp. Đầu tƣ gián tiếp của nƣớc ngoài tại Việt Nam là nguồn vốn do nƣớc ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của Việt Nam, nhƣng không tham gia công việc quản lý trực tiếp. Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ( Foreign Direct Inverstment – FDI) ở Việt Nam là nguồn vốn nƣớc ngoài trực tiếp đầu tƣ vào Việt Nam dƣới hình thức tự đầu tƣ 100% vốn hoặc liên doanh.

Ngoài ra còn có nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ ( Non- Government Organization – NGO). ĐTXDCB của nhà nƣớc là hoạt động đầu tƣ của nhà nƣớc, bao gồm các dự án ĐTXDCB đƣợc hoạch định trong kế hoạch nhà nƣớc và đƣợc cấp phát bằng nguồn vốn ngân sách của nhà nƣớc, đầu tƣ bằng nguồn vốn tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nƣớc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc. Sự cần thiết của hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản của nhà nƣớc 1. Vai trò của đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tƣ nói chung có một vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế, là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trƣởng.

Nếu không có đầu tƣ thì không có phát triển. Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nƣớc, đầu tƣ vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu. Về cầu, đầu tƣ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tƣ thƣờng chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nƣớc trên thế giới.

Đối với tổng cầu, tác động của đầu tƣ là ngắn hạn. Với tổng cung chƣa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tƣ làm cho tổng cầu tăng, đƣờng tổng cầu dịch chuyển sang phải, kéo sản lƣợng và mức giá cân bằng tăng theo. Về cung, khi đầu tƣ đã có thành quả thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, đƣờng tổng cung dịch chuyển xuống dƣới, kéo theo sản lƣợng tiềm năng tăng và do đó mức giá chung giảm. Tăng tiêu dùng tiếp tục kích thích sản xuất tăng hơn nữa.

Đầu tƣ có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ