Luận văn: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thị xã Đông Triều

Luận văn nghiên cứu thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Đông Triều, Quảng Ninh, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác.

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

125
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của đào tạo nghề cho LĐNT tại Đông Triều Quảng Ninh

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) là nhiệm vụ chiến lược, đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành một trong ba giải pháp đột phá, như đã được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ XI. Đông Triều, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh và dân số trong độ tuổi lao động lên đến hơn 80 nghìn người, đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết về một lực lượng lao động có kỹ năng, tay nghề. Công tác đào tạo nghề cho LĐNT không chỉ nhằm mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn mà còn góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động tại Quảng Ninh, phục vụ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. Luận văn của tác giả Chu Thanh Thủy (2019) đã chỉ ra rằng, dù đã đạt được những kết quả ban đầu, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hiệu quả là vô cùng cần thiết để phát triển nguồn nhân lực Đông Triều một cách bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

1.1. Yêu cầu cấp thiết từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương

Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp, dịch vụ tại Đông Triều và toàn tỉnh Quảng Ninh đặt ra yêu cầu bức thiết về việc chuyển dịch cơ cấu lao động. Lao động nông nghiệp truyền thống cần được trang bị kỹ năng mới để tham gia vào các lĩnh vực phi nông nghiệp. Hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho LĐNT chính là công cụ hữu hiệu để thực hiện quá trình chuyển đổi này. Việc này không chỉ giúp người lao động có việc làm ổn định với thu nhập cao hơn mà còn đáp ứng nhu cầu thị trường lao động đang ngày càng khắt khe. Theo định hướng phát triển của địa phương, việc giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động công nghiệp - dịch vụ là mục tiêu ưu tiên, đòi hỏi một lực lượng lao động qua đào tạo dồi dào và chất lượng.

1.2. Nền tảng pháp lý từ Đề án 1956 và chính sách đào tạo nghề

Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hay còn gọi là Đề án 1956, đã tạo ra một khung pháp lý và chính sách vững chắc cho công tác đào tạo nghề trên cả nước. Đề án này xác định mục tiêu rõ ràng: nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho LĐNT. Tại Đông Triều, các chính sách đào tạo nghề được triển khai dựa trên tinh thần của Đề án 1956, với sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Các chính sách này tập trung vào việc hỗ trợ chi phí học nghề, đa dạng hóa ngành nghề đào tạo và gắn kết quá trình học với thực tiễn sản xuất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

II. Phân tích thực trạng lao động việc làm tại Đông Triều hiện nay

Mặc dù có nhiều nỗ lực, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Đông Triều vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Luận văn của Chu Thanh Thủy đã phân tích sâu sắc thực trạng lao động việc làm Đông Triều, chỉ ra những hạn chế cố hữu. Vấn đề lớn nhất là sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động. Trong khi nhu cầu tuyển dụng lao động có tay nghề của các doanh nghiệp ngày càng tăng, chất lượng LĐNT lại chưa đáp ứng được. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, phần lớn làm việc dựa vào kinh nghiệm, dẫn đến năng suất không cao và thu nhập bấp bênh. Bên cạnh đó, công tác dự báo nhu cầu thị trường lao động chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc tổ chức các lớp học nghề còn mang tính dàn trải, chưa tập trung vào các ngành nghề mà doanh nghiệp thực sự cần. Điều này gây lãng phí nguồn lực và làm giảm niềm tin của người lao động vào hiệu quả của các chương trình đào tạo.

2.1. Thách thức từ chất lượng và cơ cấu lao động nông thôn

Theo số liệu từ luận văn, phần lớn LĐNT tại Đông Triều có trình độ học vấn thấp và chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật một cách bài bản. Đây là rào cản chính trong việc nâng cao chất lượng lao động. Người lao động thường mang tâm lý ngại học, quen với phương thức sản xuất cũ và khó tiếp thu công nghệ mới. Ngoài ra, cơ cấu lao động vẫn còn nặng về nông nghiệp, tính thời vụ cao, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn. Việc khắc phục những hạn chế về nhận thức và kỹ năng của LĐNT là một thách thức lớn, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và kiên trì.

2.2. Bất cập trong liên kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả đào tạo chưa cao là sự thiếu gắn kết chặt chẽ trong liên kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề thay vì xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng học viên sau khi tốt nghiệp không thể làm việc ngay mà doanh nghiệp phải đào tạo lại, gây tốn kém thời gian và chi phí. Việc thiếu một cơ chế phối hợp hiệu quả khiến thông tin giữa hai bên không được thông suốt, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau đào tạo.

III. Phương pháp tối ưu chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Đông Triều

Để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Đông Triều, cần có những giải pháp mang tính chiến lược, tập trung vào việc hoàn thiện chính sách và cơ chế thực thi. Luận văn đã đề xuất một số giải pháp cốt lõi nhằm tháo gỡ các nút thắt hiện nay. Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ công tác thông tin, tuyên truyền để thay đổi nhận thức của người dân về học nghề. Việc học nghề phải được xem là con đường tất yếu để có việc làm tốt và thu nhập ổn định. Tiếp theo, cần xây dựng một cơ chế hoạch định chính sách đào tạo nghề linh hoạt, bám sát thực tiễn. Kế hoạch đào tạo hàng năm phải được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát khoa học về nhu cầu thị trường lao động và nguyện vọng của người học. Thay vì đào tạo theo số lượng, cần chuyển hướng sang đào tạo theo chất lượng, gắn với địa chỉ sử dụng lao động cụ thể.

3.1. Đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp và khảo sát nhu cầu

Công tác tư vấn hướng nghiệp đóng vai trò định hướng quan trọng, giúp LĐNT lựa chọn được ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và xu hướng phát triển của xã hội. Cần thành lập các tổ tư vấn chuyên nghiệp tại các xã, phường, thường xuyên tổ chức các buổi tư vấn, giới thiệu việc làm. Song song với đó, việc điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp phải được tiến hành định kỳ. Kết quả khảo sát là cơ sở dữ liệu quan trọng để các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch, mở các lớp học phù hợp, tránh tình trạng đào tạo sai ngành, thừa thợ, thiếu thầy.

3.2. Đa dạng hóa nguồn lực và hoàn thiện cơ chế tài chính

Nguồn kinh phí cho đào tạo nghề không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà cần được xã hội hóa mạnh mẽ. Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp cho LĐNT thông qua các cơ chế ưu đãi về thuế, đất đai. Huy động thêm nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các cá nhân và cộng đồng để bổ sung cho việc thực hiện đề án. Cơ chế tài chính cần được quản lý minh bạch, hiệu quả, ưu tiên hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ nghèo, và đầu tư vào các mô hình dạy nghề hiệu quả, có cam kết việc làm sau đào tạo.

IV. Bí quyết xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả tại Đông Triều

Xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tại Đông Triều. Thay vì các lớp học lý thuyết tập trung, cần phát triển những mô hình linh hoạt, gắn trực tiếp với thực tiễn sản xuất và nhu cầu của thị trường. Luận văn của Chu Thanh Thủy nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhân rộng các mô hình đã được thí điểm thành công. Các mô hình này thường có đặc điểm chung là "cầm tay chỉ việc", học đi đôi với hành, và có sự tham gia sâu của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo người học sau khi kết thúc khóa đào tạo có thể làm được việc ngay, tự tin tham gia thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững tại địa phương. Hiệu quả của các mô hình này sẽ là động lực để nâng cao chất lượng lao động một cách thực chất.

4.1. Mô hình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp và vùng sản xuất

Đây là mô hình được đánh giá cao nhất về tính hiệu quả. Việc tổ chức các lớp học ngay tại doanh nghiệp hoặc các vùng chuyên canh, làng nghề giúp người học tiếp cận trực tiếp với máy móc, công nghệ và quy trình sản xuất hiện đại. Doanh nghiệp đóng vai trò vừa là "khách hàng" đặt hàng đào tạo, vừa là "giảng viên" hướng dẫn thực hành và là "nhà tuyển dụng" sau khi khóa học kết thúc. Mô hình liên kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo này đảm bảo 100% đầu ra cho chương trình, giúp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn một cách triệt để và bền vững.

4.2. Phát triển đội ngũ giáo viên và đổi mới chương trình đào tạo

Chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định thành công của mọi mô hình đào tạo. Cần thu hút những người giỏi, có kinh nghiệm thực tế từ các doanh nghiệp, các nghệ nhân tại làng nghề tham gia giảng dạy. Song song đó, phải thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên cơ hữu. Chương trình, giáo trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng mở, linh hoạt, tăng thời lượng thực hành (trên 70%) và giảm lý thuyết. Nội dung phải bám sát yêu cầu của từng vị trí công việc cụ thể, giúp người lao động qua đào tạo có thể đáp ứng ngay nhu cầu thị trường lao động.

V. Đánh giá tác động của đào tạo nghề đến việc làm và thu nhập

Hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại Đông Triều phải được đo lường bằng những kết quả cụ thể về việc làm, thu nhập và sự thay đổi trong đời sống của người lao động. Theo mục tiêu của Đề án 1956, tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề phải đạt tối thiểu 70-80%. Các chương trình đào tạo thành công không chỉ giúp người dân có một nghề nghiệp ổn định mà còn là đòn bẩy quan trọng để xóa đói giảm nghèo bền vững. Khi người lao động có tay nghề, năng suất lao động tăng lên, thu nhập được cải thiện, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới, thể hiện sự phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội tại các địa phương.

5.1. Tỷ lệ lao động có việc làm và tự tạo việc làm sau đào tạo

Một trong những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá là tỷ lệ lao động tìm được việc làm đúng ngành nghề đào tạo hoặc tự khởi nghiệp thành công. Việc theo dõi, thống kê và phân tích số liệu này sau mỗi khóa học là nhiệm vụ bắt buộc. Các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý cần có trách nhiệm hỗ trợ giới thiệu việc làm, kết nối với doanh nghiệp và tư vấn các chính sách vay vốn ưu đãi để người học tự tạo việc làm. Việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn không chỉ dừng lại ở việc cấp chứng chỉ mà phải đi đến cùng, đảm bảo người học có "cần câu" và biết cách "câu cá".

5.2. Sự cải thiện thu nhập và đóng góp vào xây dựng nông thôn mới

Sự thay đổi về thu nhập là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả của đào tạo nghề. Khảo sát mức thu nhập của người lao động trước và sau khi tham gia các khóa học sẽ cho thấy tác động trực tiếp của chương trình. Thu nhập tăng giúp các hộ gia đình thoát nghèo, có điều kiện tái đầu tư sản xuất và chăm lo cho con cái học hành. Một lực lượng lao động có kỹ năng, có thu nhập tốt chính là nền tảng vững chắc cho chương trình xây dựng nông thôn mới. Họ là những chủ thể tích cực trong việc hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển các ngành nghề dịch vụ tại địa phương, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Đông Triều.

12/10/2025
Luận văn thạc sĩ đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thị xã đông triều tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động Cơ sở vật chất của bất kỳ xã hội nào đều được tạo nên bởi sức lao động của con người. Tất cả mọi phát minh vĩ đại nhất, toàn bộ quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật của xã hội loài người đều là kết quả của hoạt động lao động của nhiều thế hệ.

Như vậy có thể khẳng định rằng lao động chính là hoạt động có định hướng, được hoạt động thông qua hoạt động thể lực và trí óc của con người để nhận được những lợi ích vật chất và tinh thần-đó là sản phẩm của lao động, sản xuất.[13, Tr 10] Theo khái niệm của Liên hợp quốc thì: “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội. Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì: “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”. Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người. Đặc điểm của hoạt động lao động: Hoạt động lao động phải có mục đích của con người; Hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người; hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người (Nguyễn Tiệp, 2007) [3].

Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Tựu chung lại lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. 8 Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Việc làm Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới nói chung và con người nói riêng.

Tuy nhiên đối với con người, kiếm sống không chỉ là hoạt động sinh vật đơn thuần mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người thành sinh vật xã hội có ý thức, tham gia quan hệ xã hội, hình thành xã hội. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm. Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân. Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định.

Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các ty liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của mình để tiến hành các đoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình. Do vậy người có việc làm là khái niệm dùng để chỉ những người hiện đang tham gia các hoạt động nói trên. Như vậy xét về phương diện kinh tế-xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận Xét về góc độ pháp lý, ILO cũng coi việc khuyến nghị và xúc tiến việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng trong tôn chỉ hoạt động của mình. Theo ILO người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.

Từ những cơ sở trên chúng ta có thể kết luận: người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động và đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội. việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn 9 cấm có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho những người trong cùng một hộ gia đình. Việc làm bao gồm ba dạng: Thứ nhất là việc làm nhằm nhận tiền công, tiền lương dưới dạng tiền hoặc hiện vật, thứ hai là những công việc nhằm thu lại lợi nhuận, thứ ba là những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả công. Tuy nhiên việc làm là vấn đề rộng, đa dạng và phong phú người ta có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau và kết hợp giữa các tiêu thức để tính hiệu quả toàn diện về xã hội, kinh tế để đánh giá phân loại chính xác việc làm, như việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, việc làm tự do.

Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc làm. ỞViệt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể. Do đó trong xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, dư thừa lao động.

Quan niệm đó xuất phát từ luận điểm: Mọi công dân đều có quyền việc làm, có nghĩa vụ phải làm việc và Nhà nước sẽ đảm bảo đầy đủ chỗ làm việc cho người lao động. Tuy nhiên chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm có những thay đổi cơ bản. Theo Điều 9, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [8]. Như vậy việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Là hoạt động lao động; Tạo ra thu nhập; Hoạt động đó phải hợp pháp.

Lao động nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thường bao quanh các đô thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của người 10 dân thấp. Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong phú. Như vậy, nông thôn có những đặc trưng sau: Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. Sản xuất chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên.

Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp hơn đô thị. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng thấp hơn. Nguồn LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và ở làm việc nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.

Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.TS Nguyễn Tiệp: “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những người có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng tham gia lao động nhưng chưa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn”.[3, tr215] Tuy nhiên, trong nội dung của luận văn, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm LĐNT dựa trên một số đặc điểm cơ bản đặc điểm sau: Số lượng lớn: theo Báo cáo các điều tra lao động việc làm quý 4 năm 2018 của Tổng cục thống kê, lao dộng nông thôn có khoảng 37 triệu người 11 LĐNT chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, không được đào tạo cơ bản. Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp: bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật,… Mang tính thời vụ: lao đông nông nghiệp, nông thôn làm việc có tính mùa vụ do đặc thù của nghề nông. GDP/đầu người thấp: Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt động hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu. LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.

LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, dân tộc, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm trên 70% LĐNT, do đó đặc điểm LĐNT cũng tương đồng với đặc điểm của lao động trong sản xuất nông nghiệp, do vậy LĐNT có những đặc điểm sau: - Đặc điểm thứ nhất của LĐNT mang tính thời vụ cao và không thể xoá bỏ được. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (đất, khí hậu,…).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ