Đặt vấn đề Từ thời xa xƣa đến nay, hoa lan luôn đƣợc con ngƣời ngƣỡng mộ nhờ có vẻ đẹp rực rỡ, quý phái hƣơng thơm kín đáo nhƣng lại rất tao nhã và thanh cao.Trƣớc đây hoa lan đƣợc coi là loài quý hiếm,nên thú chơi lan thƣờng chỉ dành cho vua chúa hoặc giới thƣợng lƣu. Ngày nay, chơi lan còn đƣợc nâng lên thành nghệ thuật và nghề trồng lan phát triển thành nghành công nghiệp có lợi nhuận cao. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, nhu cầu sử dụng hoa nói chung và hoa lan nói riêng ở Việt Nam cũng tăng nhanh. Hoa không chỉ đƣợc sử dụng trong dịp lễ tết mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thƣờng ngày của ngƣời dân cũng rất lớn.Bên cạnh nhu cầu về số lƣợng thì chất lƣợng hoa đòi hỏi ngày càng cao.
Hoa lan trên thị trƣờng Việt Nam hiện nay chủ yêu là nhập khẩu từ Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan…Điều đó cho thấy, sản xuất hoa lan ở Việt Nam chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng. Cụ thể là: Chủng loại hoa chƣa đƣợc đa dạng, kỹ thuật trồng hoa còn hạn chế nên năng suất và chất lƣợng chƣa cao. Lan Hồ điệp (Phalaenopsi) thuộc họ phong lan (Orchidaceae);bộ lan (Orchidales)(Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007 )[19] là một trong những loài lan đƣợc trồng phổ biến trên thế giới. Hồ điệp mệnh danh là hoàng hậu của các loài phong lan.
Đây là loài hoa to, thời gian ra hoa kéo dài từ 2- 3 tháng hình dáng đẹp, màu sắc phong phú, hoa rất bền, ra hoa quanh năm. Những năm gần đây, thị trƣờng hoa lan Hồ điệp có sức tiêu thụ cực kỳ mạnh và đƣợc bán vơi giá cao. Đặc biệt là vào dịp tết Nguyên Đán, giá một chậu lan thƣờng dao động từ 150-200 ngàn đồng/ cây nhƣng cũng không đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng. c 2 Trong thiên nhiên, lan Hồ điệp chỉ sống ở nơi có nhiệt độ nóng ẩm,nhiệt độ ban ngày yêu cầu từ 25°C-28°C, ban đêm yêu cầu từ 18°C-20°C, đặc biệt trong thời kỳ phân hóa mầm hoa cần có sự chênh lệch nhiệt độ ngày/đêm, nhiệt độ ban ngày thích hợp nhất là 25°C, ban đêm 18°C-20°C thì thuận lợi cho cây phân hóa mầm hoa (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007 ) [19].
Với yêu cầu đó, ở Việt Nam chỉ có khu vực Bảo Lộc, Lâm Đồng là nơi có khí hậu ôn hòa mát mẻ đáp ứng đƣợc nhu cầu của lan Hồ điệp để nuôi trồng tự nhiên, còn các khu vực khác, lan đƣợc nuôi trồng trong nhà kính hoặc nhà lƣới với các hệ thống lƣới che, quạt gió để có thể chủ động điều tiết ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm…cho hoa. Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của các tỉnh miền núi trung du phía bắc, tập trung nhiều khu công nghiệp, trƣờng học, hệ thống giao thông thuận tiện cho phát triển kinh tế. Ngoài ra, nơi đây còn có khí hậu ôn hòa, mát mẻ, rất thích hợp cho sự sinh trƣởng và phát triển của của hoa lan Hồ điệp. Tuy đã có một số nơi trồng lan với quy mô công nghiệp nhƣng mô hình sản xuất vẫn còn mang tính nhỏ lẻ với số lƣợng rất ít trong các gia đình, đối với những cây lan này thƣờng đƣợc nuôi trồng tự nhiên nên dễ chết và khó điểu khiển ra hoa theo ý muốn, chƣa lựa chọn đƣợc giống hoa tốt phù hợp vơi điều kiện khí hậu của địa phƣơng.
Ngƣời trồng ngoài sự yêu nghề yêu hoa còn cần phải có kiến thức cơ bản về kỹ thuật chăm sóc lan Hồ điệp. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lan Hồ điệp tại Thái Nguyên” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định đƣợc giống hoa lan Hồ điệp phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên.
Yêu cầu - Mô tả đặc điểm hình thái của các giống hoa lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm - Khả năng sinh trƣởng và phát triển của hoa lan Hồ điệp - Đánh giá năng suất và chất lƣợng của hoa lan Hồ điệp - Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 1. Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến thức lý thuyết đã học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa lan Hồ điệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn Sự phù hợp của các giống hoa lan Hồ điệp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại hoa của tỉnh Thái Nguyên, từ đó nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất hoa.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống hoa lan Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất. Hoa lan đƣợc coi là loài hoa tinh khiết, hoa vƣơng giả cao sang, vua của các loài hoa. Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đƣờng nét của cánh hoa tao nhã đến những dạng hình lá, cành duyên dáng, ít có loài hoa nào sánh nổi (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga, 2007)[19].Ngoài việc phục vụ các nhu cầu giải trí, thƣởng thức cái đẹp của con ngƣời, phong lan đồng thời cung đã tạo ra đƣợc một nguồn lợi kinh tế quan trọng. Theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho ngƣời dân, nghề trồng lan đã phát triển thành nghành công nghiệp có lợi nhuận cao.Ở nƣớc ta, hoa lan đƣợc trồng ở những vùng có khí hậu lạnh nhƣ Sapa, Đà Lạt và các tỉnh Bắc Bộ.
Tuy nhiên, sản xuất hoa lan ở nƣớc ta vẫn còn hạn chế về năng suất, chất lƣợng, sản lƣợng, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng, hoa nở không đúng dịp lễ tết…Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là các giống hoa lan chƣa đƣợc nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trƣớc khi trồng. Do đó, nghiên cứu giống sẽ giúp chúng ta nắm bắt đƣợc đặc điểm sinh trƣởng, phát triển, khả năng thích nghi của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn đƣợc những giống hoa phù hợp với điều kiện của địa phƣơng khi đƣa vào sản xuất.2 Giới thiệu chung về hoa lan 2.1 Nguồn gốc Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa của các loài cây có hoa. Hoa lan đƣợc con ngƣời biết đến rất sớm. Ở châu Á, từ xa xƣa danh từ lan đã xuất hiện trong Tứ thƣ, ngũ kinh và cả trong kinh dịch của c 5 Bách Gia Chƣ Tử (Trung Quốc 551-479 trƣớc công nguyên )(Nguyễn Tiến Bân, 1997)[2].
Khổng Tử ví Lan với đức cao quý cho nên theo thời gian lan cũng đồng nghĩa với ngƣời quân tử. Từ thời đó, hoa lan đã đƣợc dùng để trang trí, làm thuốc chữa bệnh nhƣ trong quyển “Dƣợc thảo và phƣơng pháp dƣỡng sinh” của Mao Siang ở đời nhà Tống, Trung Quốc (960-1279) đã trình bày bày về công dụng của nhiều loài lan nhƣ: Dendrobium nobilevà Dendrobium crumenatum. Vào đời nhà Minh (1368-1644) hoa lan đã đƣợc họa sỹ nổi tiếng của Trung Quốc họa thành tranh nghệ thuật quý để trang trí nội thất thời bấy giờ) (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2]. Ở phƣơng tây, tuy cây lan đƣợc biết đến sau nhƣng lại đƣợc chú ý đến bởi công dụng về dƣợc liệu của nó và sau đó mới đến vẻ đẹp của hoa.
Phrastus - đƣợc coi là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan đã dùng chữ Hy Lạp là Orkis để chỉ những cây lan đƣợc tìm thấy ở Địa Trung Hải. Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Dioscorides đã dung chữ Orkis để mô tả hai loài địa lan trong quyển sách về dƣợc liệu của ông và sau này đƣợc Linnaeus ghi lại trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species Plantarum) vào năm 1753. Sau đó đƣợc John Lindley sử dụng đầu tiên để đặt cho họ lan là: Orchidaceae từ năm 1836 và tên phân loại đó đƣợc tồn tại cho đến ngày nay.Teo (1979), Orchids for Tropical Gardens, FEP International Pte. Ở Việt Nam, dấu tích của những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm.
Những khảo sát ban đầu về lan ở Việt Nam là của Joanis Loureiro, một nhà truyền giáo ngƣời Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora Cochinchinensis” trong một cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam và đã đƣợc Bentham và Hoocker ghi lại trong “Enera Plantarum” (1862 – 1883) (Fitch, Charles Marden, 1883) (Ficth, Charles Marden ,1883)[21]. Chỉ sau khi ngƣời Pháp đến Việt Nam mới có những công c 6 trình đƣợc công bố, đáng kể là của: F.Guillaumin mô tả 101 giống gồm 750 loài lan cho cả ba nƣớc Đông Dƣơng trong bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” do H.Lecomte chủ biên ở quyển 6 xuât bản từ năm 1932-1934 (Joseph Arditti ,1982)[23]. Một số tác giả khác cũng đề cập đến lan Việt Nam nhƣ Schmid, Tixer và Gunna Seidenfaden (1975). Bên cạnh đó một số ngƣời ở Việt Nam cũng bƣớc đầu nghiên cứu về lan nhƣ ông Trƣơng Đấu… đáng kể nhất là quyển ΙΙ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của giáo sƣ Phạm Hoàng Hộ với 289 loài lan đƣợc mô tả và vẽ hìn.
Mới đây ông cũng đã bổ sung them 264 loài lan trong quyển III tập 2 của bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản năm 1993 nâng tổng số lan có ở Việt Nam là 653 loài (Nguyễn Thiện Tịch và CS, 2004)[17]. Lan đƣợc ngƣời chơi chia làm hai dòng chính là Địa Lan và Phong lan. Trong đó, phong lan lại có hai nhánh là lan bản địa (lan Việt Nam) và Catlan (phiên âm qua tiếng Hán của lan Cattleya) đƣợc du nhập vào Việt Nam. Catlan có nguồn gốc từ những cánh rừng nhiệt đới vùng Amazon Nam Mỹ, đƣợc những nhà thám hiểm Châu Âu đƣa về cựu lục địa.
Sau này, nó theo chân những ngƣời Pháp đến Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.Catlan tuy hơn hẳn lan bản địa vì nhiều màu sắc nhƣng thực sự không thể so sánh đƣợc về mùi hƣơng. Bởi lan bản địalà lan vừa có hƣơng vừa có sắc, hƣơng thì ngọt ngào quyến rũ, sắc thanh tao ấn tƣợng. Trên khắp thế giới, hầu nhƣ nơi nào có thực vật là nơi đó có lan. Nhƣng số lƣợng nhiều hay ít liên quan mật thiết đến nhiệt độ cao.