CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HĐLĐ 1.1 Khái quát về đơn phương chấm dứt HĐLĐ 1.1 Khái niệm HĐLĐ là chế định trung tâm và quan trọng nhất của BLLĐ bởi nó điều chỉnh quan hệ lao động – mối quan hệ chủ yếu nhất thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ. Hơn nữa trong mối quan hệ với các chế định khác, HĐLĐ luôn giữ vai trò là cơ sở phát sinh các chế định này. Có HĐLĐ, có quan hệ lao động mới phát sinh các quan hệ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, thời gian làm việc và nghỉ ngơi… Vậy HĐLĐ là gì. Theo quy định tại Điều 15 BLLĐ 2012 thì: “HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” HĐLĐ là hình thức biểu hiện của quan hệ lao động.
Mọi sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một HĐLĐ đều kéo theo việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật lao động theo hợp đồng. Quan hệ lao động thông thường là loại quan hệ mang tính chất lâu dài nhưng không phải là quan hệ “vĩnh cửu” nên có thể được chấm dứt bởi những căn cứ khác nhau. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trong những căn cứ căn cứ đó. So với các căn cứ khác làm chấm dứt quan hệ lao động (ví dụ: thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, hết hạn hợp đồng,.) thì đơn phương chấm dứt hợp đồng là vấn đề phức tạp bởi nó là hành vi có chủ ý của một bên không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
Trong các vụ tranh chấp lao động đã xảy ra chiếm tỉ lệ nhiều hơn cả là tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lí trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan hệ lao động với bên kia. Ý chí này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết phải được chủ thể đó chấp nhận. Như vậy, đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng là một trường hợp chấm dứt HĐLĐ .Về nguyên tắc, hình thức đó biểu hiện ý chí chỉ có thể bằng văn bản hay bằng lời nói (miệng).
Nếu không bằng hình thức văn bản, băn bản đó phải được biểu hiện rõ ràng, cụ thể để người nhận nó là chủ thể đối tác có thể hiểu được. Nếu bằng hình thức miệng (lời nói) bên bị đơn phương chấm dứt chấm dứt hợp đồng phải được truyền đạt, thông báo cụ thể từ phía bên có quyền và có thể hiểu được chính xác nội dung của thông báo đó 1.2 Đặc điểm Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trường hợp chấm dứt HĐLĐ đặc biệt. Do đó có chung các đặc trưng của chấm dứt HĐLĐ nói chung, ngoài ra có các đặc điểm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau đây: Thứ nhất, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quyền của một chủ thể trong quan hệ HĐLĐ. Khác với khi tạo lập hợp đồng, đòi hỏi phải có sự thương lượng, thỏa hiệp của cả hai chủ thể là NLĐ và NSDLĐ, đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ xảy ra bởi ý chí của một chủ thể nhưng được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước.
Pháp luật quy định đây là quyền, nên một bên trong quan hệ HĐLĐ có thể không tiếp tục thực hiện HĐLĐ theo ý chí của mình. Cũng bởi vì đây là quyền nên khi chủ thể sử dụng thường chỉ quan tâm bảo vệ lợi ích của mình mà không có sự dung hòa quyền lợi giữa các bên. Việc chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này có thể xảy ra theo hai chiều hướng khác nhau, đó là đơn phương chấm dứt HĐLĐ một cách đúng pháp luật hoặc trái pháp luật. Do không được sự đồng thuận của bên kia nên việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ có nguy cơ làm phát sinh tranh chấp từ phía chủ thể còn lại, gây thiệt hại không chỉ các bên của quan hệ HĐLĐ mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến các mối QHLĐ và thị trường lao động.
Với nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu trong quan hệ HĐLĐ, cho nên, bên cạnh việc ghi nhận đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quyền chủ thể của NSDLĐ thì pháp luật cũng có khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định đối với quyền này do họ có nhiều lợi thế hơn, có thể tự chủ động trong tuyển dụng, sử dụng hay điều hành lao động theo nhu cầu của mình. Sự kiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ là kết quả được hình thành bởi ý chí chủ quan của một bên trong quan hệ HĐLĐ. Ý chí đó được biểu hiện ra bên ngoài bằng những hành vi khách quan rất đa dạng, có thể bằng văn bản hoặc không (bằng lời nói, thông báo miệng. Ý chí chấm dứt QHLĐ phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để chủ thể bên kia có thể hiểu được.
Nói cách khác, quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một bên trong QHLĐ phải được truyền đạt cho bên còn lại thì mới có giá trị pháp lý. Hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của chủ thể là một hành vi pháp lý. Bởi việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một bên trong quan hệ HĐLĐ là xử sự của một bên trong QHLĐ được pháp luật gắn với việc làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động. Ý chí đơn phương cũng là đặc trưng cơ bản của việc đơn phương chấm dứt HDLĐ.
Do vậy, đơn phương chấm dứt HĐLĐ khác với chấm dứt HĐLĐ do ý chí của hai bên, hoặc chấm dứt HĐLĐ do ý chí của người thứ ba. Như vậy, trong đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ cần một chủ thể sử dụng quyền để chấm dứt QHLĐ, ý chí này được biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định để cho phía bên kia được biết mà không cần thiết phải nhận được sự chấp thuận của bên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thứ hai, hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ dẫn đến việc HĐLĐ chấm dứt hiệu lực pháp lý trước thời hạn hoặc trước khi công việc theo hợp đồng được hoàn thành. Thông thường, khi các bên giao kết HĐLĐ có nghĩa là họ đã xác định trước thời hạn của hợp đồng và các bên đều tự nguyện cam kết thực hiện hợp đồng cho đến khi kết thúc thời hạn của hợp đồng đã giao kết.
Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng là khoảng thời gian mà các bên thỏa thuận ấn định trong hợp đồng. Và khi hết khoảng thời gian đó thì quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đã cam kết trong hợp đồng sẽ kết thúc và hợp đồng sẽ đương nhiên chấm dứt. Như vậy, về nguyên tắc, các bên chủ thể trong HĐLĐ không được tự do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Đặc điểm này giúp phân biệt đơn phương chấm dứt HĐLĐ với trường hợp chấm dứt HĐLĐ do hết thời hạn hoặc do công việc đã hoàn thành: Đối với HĐLĐ hết hạn theo thời gian ký kết thì dù công việc trong hợp đồng chưa xong, các bên vẫn có quyền (đương nhiên) chấm dứt; Đối với HĐLĐ lúc giao kết chỉ xác định nội dung, kết quả công việc phải làm mà không xác định được thời hạn cụ thể hoàn thành thì khi công việc đã thực hiện xong mà không còn công việc khác để giao kết thì HĐLĐ đã ký cũng đương nhiên chấm dứt.
Ngược lại, đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ xảy ra khi HĐLĐ chưa hết hạn (hợp đồng vẫn đang trong thời gian thực hiện) hoặc công việc được giao chưa hoàn thành mà một chủ thể có ý chí quyết định đơn phương chấm dứt quan hệ theo hợp đồng và thông báo cho chủ thể kia biết. Thứ ba, đơn phương chấm dứt HĐLĐ tạo ra những hệ quả pháp lý đa dạng. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp cụ thể sẽ làm phát sinh những hệ quả pháp lý nhất định. Hệ quả pháp lý trong các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ rất đa dạng.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía NLĐ sẽ có hệ quả pháp lý khác với đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía NSDLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ có hệ quả pháp lý khác với trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Ngay cả trong trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật cũng có sự khác nhau về hệ quả pháp lý. Ví dụ như, việc NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ không hoàn thành nhiệm vụ sẽ có hậu quả pháp lý khác với trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do sa thải NLĐ.
Có thể nói các trường hợp chấm dứt hợp đồng đều mang lại những hệ quả pháp lý nhất định đối với các chủ thể trong QHLĐ. Đặc biệt khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, bên cạnh việc mang lại hậu quả pháp lý cho chủ thể trong quan hệ là NLĐ và NSDLĐ, còn ảnh hưởng đến gia đình NLĐ, sự xáo trộn lao động trong đơn vị sử dụng lao động và có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội. Thứ tư, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ giải phóng cho chủ thể khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong HĐLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ giúp chủ thể có ý chí đơn phương chấm dứt HĐLĐ được giải phóng khỏi quyền và nghĩa vụ đã bị ràng buộc trong HĐLĐ trước đó.
Điều này khác hẳn với việc thay đổi hay tạm hoãn hợp đồng. Thay đổi HĐLĐ là việc tăng hay giảm một hoặc một số các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên; thay đổi một số nội dung trong HĐLĐ trước đó. Tạm hoãn thực hiện HĐLĐ chỉ là sự dừng lại tạm thời việc thực hiện HĐLĐ theo các căn cứ luật định. Sau một thời gian các bên tiếp tục thực hiện những quyền và nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng và đương nhiên hợp đồng vẫn có đầy đủ giá trị pháp lý, không bị hủy bỏ hay mất hiệu lực.
Thế nhưng, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ làm cho QHLĐ được thiết lập theo HĐLĐ trước đó bị chấm dứt hoàn toàn (trừ trường hợp pháp luật quy định). Thứ năm, tính chất tương hỗ của QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể khi các chủ thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ.