CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái quát về thu thuế nhập khẩu 1. Khái niệm về thuế nhập khẩu Theo quan niệm chung, thuế là khoản đóng góp bắt buộc bằng tiền mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước để cung cấp nguồn tài chính cho Nhà nước thực hiện chức năng của mình. Là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Thuế nói chung vừa là phạm trù mang tính khách quan vừa là phạm trù mang tính lịch sử. Thuế tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, giai cấp và tầng lớp xã hội xuất hiện thì nhà nước cũng được hình thành. Để thực hiện chức năng của mình thì nhà nước cùng cần có một nguồn tài chính được huy động từ người dân đóng góp đó là thuế.
Do đó thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng công cụ này để tham gia vào việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Thuế giống như một vết dầu loang, theo thời gian thuế ngày càng thẩm thấu và lan tỏa ra mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thuế được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau và được chia thành nhiều loại thuế, trong đó khoản thuế nhập khẩu là một khoản thuế không thể thiếu được khi hoạt động mua bán giữa các quốc gia.Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế nhập khẩu được các chính quyền địa phương thu, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường nó được nhà nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế xuất-nhập khẩu là hải quan thực hiện công việc kiểm tra, tính và thu thuế. Trong thời đại ngày nay, các chính sách về thương mại, thuế và thuế quan (trong đó có thuế nhập khẩu) thường được xếp cùng nhau do ảnh hưởng chung của chúng đối với các chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp và chính sách đầu tư.
Các khối thương mại là nhóm các quốc gia liên minh thỏa thuận giảm thiểu hay loại trừ thuế quan đối với thương mại trong khối, cũng như khả năng áp đặt thuế quan có hiệu quả lên hàng nhập khẩu từ ngoài khối. Liên minh hải quan của khối thường có biểu thuế quan ngoài chung, và theo các quy định đã thỏa thuận thì các quốc gia thành viên chia sẻ các khoản thu nhập 4 từ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong khối. Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt khi hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng phát triển. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận.
Về phương diện kinh tế. Theo từ điển kinh tế học (Anh – Việt) có nêu: “Thuế nhập khẩu là một khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính Phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”. Với cách tiếp cận này, thuế nhập khẩu được hiểu như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước.
Thuế nhập khẩu được sử dụng như một đòn bẩy kinh tế để Nhà nước điều tiết quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi quốc gia và gián tiếp chi phối hoạt động kinh tế quốc tế. Về phương diện pháp lí. Thuế nhập khẩu là quan hệ pháp luật phát sinh giữa hai chủ thể tổ chức, cá nhân (người nộp thuế) và Nhà nước (người thu thuế) về việc tạo lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ cho các bên trong quá trình tiến hành thu thuế nhập khẩu. Quan hệ pháp luật này có cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu mà hậu quả pháp lí chủ yếu là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế của các tổ chức, cá nhân.
Với cách tiếp cận này, ta thấy rõ hơn bản chất của thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng, thực chất là quyết định hành chính đơn phương của quốc gia đối với người nộp thuế. Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 thì thuế nhập khẩu có thể hiểu là loại thuế đánh vào hàng hóa được nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước; hàng nhập khẩu tại chổ và hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối. Hiện nay, do yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, nhà nước còn ban hành thêm thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ và thuế chống bán phá giá. Thực chất đây là ba loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu trong những trường hợp có căn cứ cho rằng hàng hoá đó có trợ cấp của nhà nước hay nhập khẩu hàng hóa quá mức vào Việt Nam gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước hoặc có hành vi bán phá giá nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh.
Như vậy có thể hiểu Thuế xuất khẩu là loại thế đánh vào những mặt hàng mà 5 Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu. Đặc điểm của thuế nhập khẩu Xét về phương diện lý thuyết, ngoài những đặc điểm chung của thuế thì thuế nhập khẩu còn có một số đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố“Quốc tế” như: Sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế,.Thuế nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia. Sự biến động của kinh tê thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hoá xuất, nhập khẩu của các quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hoá thương mại, mở cửa và hội nhập như hiện nay.
Từ đó, các yếu tô “Quốc tế” sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu từng quốc gia. Để đạt được những mục tiêu đặt ra, đòi hỏi chính sách thuế nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi phù hợp tuỳ theosự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế. Ngoài ra chính sách thuế nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp với Hiệp định, cam kết Quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia. Thứ hai, thuế nhập khẩu chỉ thu vào hàng hóa nhập khẩu mà không thu vào hàng hóa sản xuất trong nước do đó đây công cụ góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương và bảo hộ sản xuất trong nước.
Chức năng này của thuế nhập khẩu thể hiện sự khác biệt căn bản với các loại thuế nội địa khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập…Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế thế giới và tự do hóa thương mại ngày càng sâu rộng, nên chức năng bảo hộ sản xuất trong nước của thuế nhập khẩu ngày càng mờ nhạt. Do đó, ranh giới để phân biệt giữa thuế nhập khẩu và thuế nội địa sẽ trở nên rất mong manh, thậm chí có thể không còn tồn tại khi mà tự do hóa thương mại hoàn toàn trên thế giới. Thứ ba, thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu. Điều này thể hiện ở chỗ, nếu nhà nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hóa nhập khẩu đó chứ không bán ra thì khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất là thuế trực thu.
Còn nếu nhà nhập khẩu đã nộp xong thuế nhập khẩu và bán lại số hàng hóa đó cho người khác thì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho người mua hàng chịu, vì vậy khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất là thuế gián thu. [6] 6 Thứ tư, thuế nhập khẩu là công cụ thực thi quyền lực Nhà nước mà trực tiếp do cơ quan Hải quan quản lý thu nhằm gắn công tác quản lý thu thuế nhập khẩu với công tác quản lý nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Phân loại thuế nhập khẩu - Căn cứ vào mục đích của việc thu thuế: Nếu căn cứ vào mục đích của việc thu thuế thì thuế nhập khẩu được chia thành các loại sau: + Loại để tạo nguồn thu: Thuế nhập khẩu được quy định đối với tất cả các mặt hàng để tạo lập nguồn thu cho Chính phủ, không phân biệt khả năng sản xuất, nhu cầu bảo hộ và chính sách thương mại của quốc gia đó. + Loại để bảo hộ: Loại này thường được quy định có lựa chọn.
Nếu trong nước có sản xuất, có khả năng sản xuất nhưng chưa đủ sức cạnh tranh, cần sự bảohộ của nhà nước thì xây dựng mức thuế bảo hộ để hàng sản xuất trong nước đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu. + Loại để trừng phạt: Loại thuế này thường được sử dụng để trả đũa lại những hành vi phân biệt đối xử của một quốc gia này đối với hàng hóa của một quốc giakhác. - Căn cứ vào phạm vi tác dụng: Nếu căn cứ vào phạm vi tác dụng thì thuế nhập khẩu có các loại sau: + Thuế nhập khẩu tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia (quy định tùy ý theo mục tiêu của quốc gia mình mà không phụ thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương nào đã ký kết). + Thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết.