Đặt vấn đề Việt Nam là một trong những nước có sản lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người không ngừng tăng lên qua các năm với mức tăng trưởng khoảng 21,19 %/năm. Tính đến năm 2013, mỗi người Việt Nam tiêu thụ 39,3kg thịt hơi, chủ yếu là các sản phẩm chăn nuôi lợn Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác giống và không ngừng nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi lợn. Hàng loạt các vấn đề quản lý, kỹ thuật nuôi lợn nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu nhằm bắt kịp với trình độ chăn nuôi của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, nước ta là một nước thuộc kiểu khí hậu gió mùa nóng ẩm, nên rất thích hợp cho các bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh và lây lan nhanh, do đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng.
Ngoài ra, các yếu tố giống, thức ăn, dinh dưỡng, điều kiện khí hậu thì công tác thú y rất quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngành chăn nuôi. Ở nước ta tình hình dịch bệnh xảy ra còn rất phức tạp đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con ở mọi lứa tuổi. Bệnh làm cho lợn gầy sút, còi cọc làm giảm năng suất, bệnh nặng có thể chết cả đàn, vì vậy việc phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con là một vấn đề hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh phân trắng ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh - Ba Vì - Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh - Ba Vì - Hà Nội. - Xác định được tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại cơ sở. - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị cho lợn mắc bệnh. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn nuôi của trại Nguyễn Đức Binh - Ba Vì - Hà Nội. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của bệnh phân trắng lợn con gây ra, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những cơ sở chăn nuôi lợn khác, nhờ đó làm giảm thiệt hại kinh tế và đem lại lợi nhuận cao. - Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng phác đồ điều trị phù hợp và có hiệu quả. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện của cơ sở nơi thực tập 2.1 Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa Ba Trại xưa thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ, ngày nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, nằm phía bắc dưới chân núi Ba Vì. Đường 88 đi qua xã ở phía Bắc và cũng là ranh giới - - Phía Đông giáp với Tản Lĩnh - Phía Bắc giáp với xã Cẩm Lĩnh - Phía Tây giáp với xã Thuần Mỹ - Phía Nam giáp với núi Ba Vì * Địa hình, đất đai , dân số Nhìn chung địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn. Diện tích ruộng có 730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi. Tổng diện tích là: 20,25 km² - Tổng số dân: 10.210 người - Mật độ dân số đạt 504 người/km².
* Khí hậu, thủy văn Ba Trại là một trong 7 xã Miền núi của huyện Ba Vì. Bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,4°C. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8.
Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. n 4 * Giao thông, vận tải Xã nằm giữa hai con đường Tỉnh lộ, đường 87 Sơn Tây - Đá Chông và đường 88 Sơn Tây - Bất Bạt. Đường 87 đi qua xã từ phía Đông - Nam qua các xóm Chằm Mè - Trung Sơn tiếp giáp đường 89 tại Đá Chông.
Đường 89 chạy song song với sông Đà qua địa phận xã Thuần Mỹ. Đường 88 đi qua xã ở phía Bắc và cũng là ranh giới giữa Ba Trại với Cẩm Lĩnh. Điều kiện của trang trại * Cơ sở vật chất - Trại lợn có khoảng 2 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 200 con lợn nái với chiều dài của một chuồng là 150 m, mỗi chuồng có 2 dãy (có đường đi ở giữa) và mỗi dãy chia làm 150 ô, một ô rộng 2 m2.
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió, mỗi chuồng có 6 quạt (4 quạt to và 2 quạt bé). Tường ở dãy ngoài cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m²; cách nền 1,2 m. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. - Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống, nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được cấp từ một bể lớn, bể được bố trí xây dựng ở đầu chuồng, có hệ thống lọc và xử lí trước khi dẫn nước vào chuồng. Có hệ thống quạt gió, giàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động, đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông.
Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,. - Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện. n 5 * Cơ sở hạ tầng - Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi. - Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi.
- Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ. - Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vaccine, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại. * Cơ cấu tổ chức - Chủ trang trại: 01 người - Kĩ sư chăn nuôi: 01 người - Công nhân: 02 người - Sinh viên thực tập: 04 người 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn theo mẹ Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C, ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh. + Đặc điểm tiêu hóa của lợn con Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là cơ quan tiêu hoá chưa thành thục. Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện. Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng.
Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch. + Cơ năng điều tiết thân nhiệt Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do: n 6 - Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh. Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong và ngoài thai. - Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs.
- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, điều trị làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs. + Hệ miễn dịch của lợn con Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu. Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu. Lượng enzym tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên dễ gây rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh (Salmonella, E.
perfringens…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa. Theo Trần Thị Dân (2008) [4]: Lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu. Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu…được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém.
Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con. + Hệ vi sinh vật đường ruột Theo Nguyễn Như Thanh và cs. coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E. Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E.
coli trở nên cường độc và gây bệnh. Cấu trúc kháng nguyên của E. coli rất phức tạp. Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F.