Khám phá yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000

Khám phá yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2000, làm nổi bật giá trị truyền thống và sự sáng tạo văn học đương đại.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

160
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Giai đoạn trước năm 1986, nghiên cứu về văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước khởi đầu quan trọng. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa dân gian không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn là một phần không thể thiếu trong cấu trúc và nội dung của tiểu thuyết. Những tác phẩm tiêu biểu như của Hồ Biểu Chánh, Trần Quang Nghiệp đã thể hiện rõ sự giao thoa giữa văn hóa dân gian và văn học hiện đại. Đặc biệt, các nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố đã khéo léo lồng ghép các yếu tố văn hóa dân gian vào trong tác phẩm của họ, tạo nên những bức tranh sinh động về đời sống xã hội và phong tục tập quán. Sự hiện diện của văn hóa dân gian trong tiểu thuyết không chỉ phản ánh thực tế mà còn góp phần định hình tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bản sắc văn học Việt Nam.

1.1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945

Trong giai đoạn này, văn hóa dân gian đã được các nhà văn khai thác một cách sâu sắc. Tiểu thuyết Việt Nam đã bắt đầu hình thành và phát triển với những tác phẩm nổi bật. Các nhà nghiên cứu như Mộc Khuê đã chỉ ra rằng tiểu thuyết phong tục đã có sự hiện diện rõ ràng trong văn học. Ông đã phân loại tiểu thuyết thành nhiều loại, trong đó có tiểu thuyết phong tục, cho thấy sự quan tâm đến văn hóa dân gian. Những tác phẩm như 'Con trâu' của Trần Tiêu đã được công nhận là những tác phẩm tiêu biểu phản ánh đời sống và phong tục của người dân. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian không chỉ là một yếu tố phụ mà còn là một phần cốt lõi trong việc xây dựng nội dung và hình thức của tiểu thuyết Việt Nam.

II. Văn hóa dân gian và sự tác động đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000

Giai đoạn từ 1986 đến 2000 chứng kiến sự bùng nổ của văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam. Các nhà văn đã tích cực khai thác và tái hiện các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm của mình. Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật đã dẫn đến việc các nhà văn không chỉ đơn thuần sử dụng văn hóa dân gian như một nguồn cảm hứng mà còn xem nó như một phương tiện để thể hiện những vấn đề xã hội đương đại. Các yếu tố như tín ngưỡng, phong tục tập quán đã được đưa vào tác phẩm một cách tinh tế, tạo nên những giá trị nghệ thuật mới. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc xây dựng bản sắc văn học hiện đại, đồng thời phản ánh những biến chuyển trong xã hội Việt Nam.

2.1. Tác động của văn hóa dân gian đến tư duy nghệ thuật

Sự tác động của văn hóa dân gian đến tư duy nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn này rất rõ ràng. Các nhà văn đã không ngần ngại sử dụng các yếu tố văn hóa dân gian để thể hiện những suy tư, trăn trở về cuộc sống. Những tín ngưỡng dân gian như thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng tự nhiên đã được lồng ghép vào các tác phẩm, tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú. Điều này không chỉ giúp làm phong phú thêm nội dung tác phẩm mà còn tạo ra một sự kết nối sâu sắc giữa văn học và đời sống. Các nhà văn như Đào Thắng, Lê Lựu đã thành công trong việc sử dụng văn hóa dân gian để phản ánh những vấn đề xã hội, từ đó khẳng định vai trò của tiểu thuyết trong việc ghi lại và phản ánh hiện thực.

III. Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 nhìn từ thế giới nhân vật không gian và thời gian nghệ thuật

Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này không chỉ thể hiện qua nội dung mà còn qua cách xây dựng nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật. Nhân vật trong tiểu thuyết thường mang đậm dấu ấn của văn hóa dân gian, thể hiện qua mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Không gian nghệ thuật cũng được xây dựng dựa trên những hình ảnh quen thuộc trong văn hóa dân gian, từ làng quê đến những phong tục tập quán. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết cũng được thể hiện một cách linh hoạt, từ thời gian phiếm định đến sự huyền thoại hóa, tạo nên một bức tranh đa chiều về đời sống. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian đã góp phần làm phong phú thêm cấu trúc nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam.

3.1. Thế giới nhân vật

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết giai đoạn này thường phản ánh những giá trị văn hóa dân gian. Nhân vật không chỉ đơn thuần là những cá thể độc lập mà còn là đại diện cho những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng. Các nhà văn đã khéo léo xây dựng nhân vật trong mối quan hệ với dòng tộc, cộng đồng, từ đó thể hiện những xung đột, mâu thuẫn trong xã hội. Điều này không chỉ giúp làm nổi bật tính cách nhân vật mà còn phản ánh những vấn đề xã hội đương đại. Nhân vật tâm linh cũng được khai thác một cách sâu sắc, thể hiện sự kết nối giữa con người với thế giới tâm linh trong văn hóa dân gian.

IV. Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 nhìn từ ngôn ngữ motif và biểu tượng

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này đã được các nhà văn sử dụng một cách tinh tế để thể hiện các yếu tố văn hóa dân gian. Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, và ngôn ngữ bình dị đã tạo nên một không gian giao tiếp gần gũi với độc giả. Các motif dân gian như cái chết, ma hiện hồn cũng được khai thác để thể hiện những suy tư về cuộc sống và cái chết. Biểu tượng trong tiểu thuyết cũng mang đậm dấu ấn của văn hóa dân gian, từ biểu tượng đất, nước đến các vật thể gắn liền với đời sống hàng ngày. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc xây dựng ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết.

4.1. Ngôn ngữ và motif

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết giai đoạn này không chỉ đơn thuần là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện thể hiện văn hóa dân gian. Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn tạo ra sự kết nối với độc giả. Các motif như cái chết, ma hiện hồn được sử dụng để thể hiện những vấn đề sâu sắc về cuộc sống. Điều này cho thấy rằng, văn hóa dân gian đã góp phần làm phong phú thêm nội dung và hình thức của tiểu thuyết Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2000

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài sẽ đƣợc triển khai thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Văn hóa dân gian và sự tác động đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000. Chƣơng 3: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 - nhìn từ thế giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật. Chƣơng 4: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 - nhìn từ ngôn ngữ, motif và biểu tƣợng.

5 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam trƣớc năm 1986 1. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Đầu thế kỷ XX đến 1945 văn học Việt Nam đã vận động sang phạm trù mới: Văn học hiện đại. Tiểu thuyết giai đoạn này thực sự khởi sắc với những đóng góp đáng ghi nhận.

Những tên tuổi ở giai đoạn đầu phải kể đến Hồ Biểu Chánh, Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Chánh Sắt, tiếp đến là những tác giả tiêu biểu của hai dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và văn học lãng mạn (1932 - 1945) gắn với tên tuổi của nhóm Tự lực văn đoàn với ba cây bút chính Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hƣng. Bên cạnh việc tiếp thu những ảnh hƣởng từ lớn từ văn hóa phƣơng Tây, đặc biệt là Pháp thì tiểu thuyết giai đoạn này vẫn chịu sự chi phối của văn hóa phƣơng Đông và truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng nên một nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại song vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa, xã hội và phong tục là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, không chỉ trƣớc đây mà cả sau này. Năm 1941, trong công trình nghiên cứu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê khi bàn về tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam đã chia tiểu thuyết thành chín loại.

Sau đó, ông lần lƣợt đi vào từng loại và giới thiệu những nhà văn cùng với một vài tác phẩm tiêu biểu. Đến phần tiểu thuyết phong tục, ông cho rằng: “Phong tục tiểu thuyết về miền thƣợng du Bắc Kỳ gồm Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối đàn, Truyện lạ đường rừng), về miền sơn cƣớc Trung kỳ của Lƣu Trọng Lƣ (Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh) của Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) và nhất là quyển Lều chõng của Ngô Tất Tố” [70, tr. Nhƣ vậy, ngay từ năm 1941, nhà nghiên cứu Mộc Khuê đã công nhận có sự tồn tại của thể tài tiểu thuyết phong tục. Và trong số những tiểu thuyết thuộc nhóm 6 Tự lực văn đoàn, ông xếp Con trâu và Chồng con của Trần Tiêu vào loại tiểu thuyết phong tục viết về một vùng miền của đất nƣớc.

Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm ra đời cũng đã công nhận: “Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hƣởng về đƣờng xã hội và đƣờng văn học” [23, tr. Theo Dƣơng Quảng Hàm, phong tục tập quán thời xƣa vừa có mặt hay, mặt không hay. Tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn có quan tâm phản ánh phong tục tập quán nhƣng chƣa thật xác đáng. Nhƣ tục đàn bà góa phải thủ tiết thờ chồng trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn.

Nhà văn chỉ chủ yếu tập trung làm rõ những ràng buộc khắt khe đối với ngƣời phụ nữ mà chƣa đề cập đến ý nghĩa cao đẹp của tục lệ. Dù vậy, Dƣơng Quảng Hàm vẫn dành nhiều lời khen tặng cho nhóm văn Tự lực văn đoàn và đánh giá rất cao chủ trƣơng cải cách xã hội của họ. Năm 1942, Vũ Ngọc Phan cho ra mắt công trình Nhà văn hiện đại. Riêng trong nhóm Tự lực văn đoàn, khi đi vào giới thiệu từng nhà văn, Vũ Ngọc Phan đã chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu và đƣa ra nhiều đánh giá rất cụ thể.

Đến sáng tác của Trần Tiêu, ông khẳng định: “Tuy là tả dân tình, phong tục làng Cầm, nhƣng Con trâu thật là một cuốn tả sự sống và tính tình phong tục của ngƣời dân quê miền Bắc” [59, tr. Nhìn chung, vị trí, vai trò của những tiểu thuyết có nội dung phong tục của nhóm văn này đều đƣợc các nhà nghiên cứu công nhận. Chỉ có điều do tình hình văn hóa xã hội lúc này nên trong giới nghiên cứu chƣa có ngƣời đi sâu khai thác những đóng góp ấy một cách cụ thể. Đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Phong tục Việt Nam trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của Phạm Thị Minh Tuyền (Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh) một lần nữa đã tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện những vấn đề phong tục trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

Qua đó, bức tranh về con ngƣời, xã hội những năm 1930 đến 1945 với những truyền thống tốt đẹp của cha ông cần đƣợc giữ gìn và cả những hủ tục cần loại bỏ hiện lên đậm nét. Ngoài ra vấn đề này còn đƣợc đề cập trong một số công trình khác nhƣ: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (Nguyễn Văn Xung), Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 - 1945 (Thanh Lãng), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 7 1930 - 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh). Ngoài những cây bút lý luận phê bình cũ, từ thập niên 90 đến nay, nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ta còn phải kể đến khá nhiều gƣơng mặt mới nhƣ Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thị Dục Tú, Phạm Thanh Hùng, Trịnh Hồ Khoa.Tất cả đã tạo đƣợc một không khí sôi nổi, khách quan, và khoa học nhằm đƣa đến những nhận định công bằng, thấu đáo khi đánh giá về vai trò, vị trí của nhóm văn này trong nền văn học dân tộc. Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu văn chƣơng Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa xã hội và phong tục, chúng tôi nhận thấy rằng: trong giai đoạn này Tự lực văn đoàn là nhóm văn duy nhất có sáng tác gây đƣợc nhiều sự chú ý trong công chúng.

Và Tự lực văn đoàn với những đóng góp cho nền văn hóa, phong tục nƣớc nhà cũng là một vấn đề đã đƣợc các nhà nghiên cứu ghi nhận. Tuy nhiên, sự phân tích và lí giải vấn đề vẫn chƣa thật thỏa đáng. Bàn về vấn đề tâm linh trong văn học giai đoạn này, Trần Đình Sử trong bài viết “Văn học và văn hóa tâm linh” khẳng định tâm linh vốn tồn tại từ rất lâu trong đời sống con ngƣời và cả trong văn học từ sơ khai đến hiện đại. Đối với khoa học, tâm linh là lĩnh vực của những điều chƣa thể chứng minh bằng khoa học.

Nhƣng đối với văn hóa, đó là lĩnh vực của “phong tục” (Phan Kế Bính), là “nếp cũ” (Toan Ánh) thấm sâu trong tiềm thức con ngƣời. Ông cho rằng “Các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ nghĩa thuộc giai đoạn 1932 -1945 vừa có thế giới quan khoa học, vừa có yếu tố văn hóa tâm linh, vẫn miêu tả con ngƣời mang tâm linh ấy” [71, tr. Văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã đặt dấu ấn khá đậm nét về văn hoá vùng Nam Bộ gắn với tên tuổi của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.

Thắng trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX với một văn phong đậm màu sắc “Miệt vƣờn Lục tỉnh Nam Kỳ” [76, tr. Tuy nhiên, tác giả này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác phẩm mà chƣa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vƣờn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Nguyễn Phong Nam khi nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhận xét: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo văn hóa Nam bộ xƣa trong tác phẩm của mình. Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thể loại tiểu thuyết phong tục - điều không nhiều nhà văn đƣơng thời làm đƣợc.

Đây cũng là nét độc đáo của văn chƣơng Hồ Biểu Chánh” [52, tr. 8 Năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Phạm Thị Minh Hà đã tiến hành khảo sát những bản sắc địa phƣơng của Nam Bộ đƣợc phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Điểm đáng lƣu ý đó là tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc nhất mà những nhà văn khác không có đƣợc chính là chất Nam Bộ trong tiểu thuyết của ông. Đọc tiểu thuyết của ông, độc giả nhận ra dấu ấn địa phƣơng, chất vùng miền đậm đặc trong từng trang viết.

Nghiên cứu về VHDG trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn có rất nhiều bài nghiên cứu khác nhƣ: Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Châu Minh Hiền; Cuộc sống ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và Đời sống văn hoá ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị Lan Phƣơng, Hồ Biểu Chánh - nhà văn đến hiện đại từ truyền thống của Võ Văn Nhơn. Khi nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực phê phán nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, bên cạnh việc khai thác những nội dung mang tính thời cuộc, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến yếu VHDG thể hiện trong mỗi tác phẩm. Trong sách Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 2), khi đề cập đến tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Công Hoan, Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, ta thấy ông băn khoăn nhất về những sự đụng chạm giữa cái giàu và cái nghèo trong xã hội. Sự xung đột giữa kẻ giàu, ngƣời nghèo là cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan” [19, tr.

Có thể thấy, dù vô tình hay hữu ý thì chúng ta không khó nhận ra sự tiếp nhận những yếu tố từ văn học truyền thống bởi xung đột giàu - nghèo, thiện - ác vốn là motif xuất hiện từ trong văn học dân gian. Nguyễn Công Hoan và các nhà văn cùng thời đã lồng ghép khéo léo giữa việc phản ánh hiện thực bằng những xung đột hình thành từ nền văn học sơ khai của dân tộc. Phần lớn những đánh giá của các nhà nghiên cứu khi bàn về tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh vấn đề này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2000" khám phá sự hòa quyện giữa văn hóa dân gian và văn học hiện đại, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới của Việt Nam. Nó phân tích cách các yếu tố như truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, và lễ hội dân gian được lồng ghép vào tiểu thuyết, tạo nên bản sắc độc đáo cho văn học thời kỳ này. Đọc tài liệu này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về sự kế thừa và sáng tạo của các nhà văn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian, đồng thời nhận ra giá trị văn hóa sâu sắc được truyền tải qua từng tác phẩm.

Để mở rộng kiến thức về văn hóa dân gian, bạn có thể tham khảo thêm Khóa luận tốt nghiệp từ sân đình đến sân trường hành trình đưa nghệ thuật dân gian truyền thống đến sinh viên qua khảo sát câu lạc bộ chèo 48h, nghiên cứu về cách nghệ thuật dân gian được tiếp cận trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ cung cấp góc nhìn sâu sắc về ngôn ngữ và văn hóa dân gian Nam Bộ. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ truyện kể dân gian tày ở ba bể bắc kạn sẽ giúp bạn khám phá thêm về truyện kể dân gian của người Tày, một phần quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.