Tổng quan luận án

Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBG) là dạng tổn thương ác tính nguyên phát chiếm từ 75% đến 85% tổng số các ca ung thư gan trên thế giới. Theo thống kê năm 2020, ung thư gan đứng hàng thứ sáu về tỷ lệ mới mắc và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ ba trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2020, UTBG là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới (chiếm 20,5% tổng số ca tử vong do ung thư) và đứng thứ năm ở nữ giới (chiếm 7,4%), với số ca mắc mới ghi nhận là 26.418 ca và 25.272 trường hợp tử vong.

Đối với các trường hợp UTBG ở giai đoạn trung gian (theo phân loại BCLC), phương pháp điều trị chuẩn và phổ biến nhất là tắc mạch hóa chất qua đường động mạch (TACE). Mặc dù vậy, do sự không đồng nhất về số lượng, kích thước, vị trí giải phẫu và độ biệt hóa mô học của các nhánh mạch nuôi u, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn sau một lần can thiệp TACE chỉ đạt khoảng 40%, trong khi tỷ lệ còn tổn thương tồn dư chiếm tới khoảng 60%. Việc tiếp tục can thiệp TACE nhắc lại nhiều lần đối mặt với nguy cơ làm suy giảm chức năng tế bào gan mà không đảm bảo gây hoại tử hoàn toàn mô u.

Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) là kỹ thuật xạ trị ngoài sử dụng chùm tia xạ liều cao tập trung vào thể tích khối u trong một số lượng phân liều hạn chế (từ 1 đến 5 phân liều), đồng thời tạo độ dốc giảm liều nhanh tại ranh giới nhằm bảo tồn tối đa nhu mô gan lành xung quanh. Mặc dù SBRT đã được ứng dụng trong điều trị UTBG, các nghiên cứu công bố trước đây chủ yếu là nghiên cứu hồi cứu hoặc thử nghiệm lâm sàng pha I, pha II tại từng trung tâm đơn lẻ, chưa có đủ dữ liệu so sánh đối đầu trực tiếp để đưa SBRT thành chỉ định thường quy cho nhóm bệnh nhân có khối u tồn dư sau TACE.

Luận án "Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất bằng phương pháp xạ trị lập thể định vị thân" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đồng Đức Hoàng, chuyên ngành Nội khoa/Nội tiêu hóa (Mã số: 9720107) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Mai Hồng Bàng và TS. Thái Doãn Kỳ tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 (bảo vệ năm 2022).

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả của phương pháp xạ trị lập thể định vị thân trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất, đối chiếu với phương pháp tắc mạch hóa chất nhắc lại.
  2. Đánh giá độ an toàn của phương pháp xạ trị lập thể định vị thân trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất, đối chiếu với phương pháp tắc mạch hóa chất nhắc lại.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định UTBG có tổn thương còn tồn dư sau khi thực hiện can thiệp tắc mạch hóa chất. Địa bàn nghiên cứu được triển khai tại Viện điều trị các bệnh tiêu hóa và Khoa Xạ trị - Xạ phẫu thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, chẩn đoán, phân chia giai đoạn và các phương pháp can thiệp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan:

  • Về yếu tố nguy cơ và dịch tễ: Tác giả điểm lại các số liệu từ Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2017) và GLOBOCAN (2020). Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính làm tăng nguy cơ UTBG từ 10% đến 25%. Các nghiên cứu từ Đại học Michigan ghi nhận những người nghiện rượu nặng từ 1500 g/năm (khoảng 60 g/ngày liên tục trong 25 năm) có nguy cơ mắc UTBG gấp 6 lần (OR = 5,8). Phân tích tổng hợp từ 7 nghiên cứu đoàn hệ (5.037 người thừa cân) và 10 nghiên cứu (6.042 người béo phì) cho thấy nguy cơ UTBG tăng 17% ở người thừa cân (BMI 25-30 kg/m²) và tăng 89% ở người béo phì (BMI > 30 kg/m²).
  • Về chẩn đoán hình ảnh và dấu ấn sinh học: Luận án trích dẫn nghiên cứu của Memon (2011) về độ nhạy (65%), độ đặc hiệu (85%) của siêu âm; tổng quan của Hanna về siêu âm cản âm (CEUS) sử dụng chất cản âm Sonazoid; các nghiên cứu của Abelev (1960), Rouslahti và Seppala (1971), Liebman (1984) về các dấu ấn AFP, AFP-L3 và DCP (PIVKA-II). Hình ảnh cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI) đa dãy có tiêm thuốc cản quang/đối quang từ là tiêu chuẩn vàng theo các hướng dẫn của APASL (2017), AASLD (2018), EASL (2018), LI-RADS (2018) và Bộ Y tế Việt Nam (2020).
  • Về điều trị ngoại khoa và can thiệp nội mạch: Luận án điểm lại kết quả phẫu thuật cắt gan của Văn Tần và cộng sự trên 151 trường hợp (tỷ lệ tử vong 3%); nghiên cứu hồi cứu của Nguyễn Đình Song Huy và cộng sự trên 2.480 bệnh nhân tại Bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2010–2015 (tỷ lệ biến chứng 1,43%, tử vong 2,05%, tỷ lệ tái khám sau 5 năm là 50,52%). Các tiêu chuẩn ghép gan theo Milan (Mazzaferro) và UCSF cũng được hệ thống hóa. Về can thiệp mạch, tác giả phân tích cơ chế nuôi dưỡng khối u gan dựa trên công trình của Mai Hồng Bàng (2016), Kobayashi S. (2020), Miyayama S. (2013) và Park C. (2012).
  • Về liệu pháp toàn thân và thuốc nhắm trúng đích: Dẫn chứng thử nghiệm SHARP của Llovet và cộng sự chứng minh Sorafenib kéo dài thời gian sống toàn bộ từ 7,9 tháng lên 10,7 tháng (HR = 0,69; p < 0,001), cùng các thuốc đích thế hệ sau như Lenvatinib, Regorafenib, Nivolumab theo tổng kết của Desai J.
  • Về phương pháp xạ trị lập thể định vị thân (SBRT): Luận án ghi nhận lịch sử phát triển SBRT từ Blomgren và Lax tại Bệnh viện Đại học Karolinska (Thụy Điển) năm 1991, các nghiên cứu của Herfarth tại Đức (2001) và Timmerman tại Mỹ (2003). Về ứng dụng SBRT phối hợp hoặc sau TACE, luận án trích dẫn các công trình quốc tế tiêu biểu:
    • Kimura T. và cộng sự (2018): So sánh SBRT đơn thuần (n = 28) và SBRT phối hợp TACE (n = 122), thời gian sống toàn bộ (OS) là 78,6% so với 80,3% (p = 0,6583), sống không tiến triển (PFS) là 49,0% so với 42,9% (p = 0,188).
    • Honda Y. và cộng sự (2014): Nghiên cứu trên 28 bệnh nhân UTBG kích thước u < 3 cm điều trị SBRT sau TACE 1-2 tháng, tỷ lệ kiểm soát u sau 1 năm đạt 96,3%, trung vị PFS là 18 tháng, OS sau 1 năm là 92,6%.
    • Honda Y. và cộng sự (2013): Nghiên cứu trên 30 bệnh nhân SBRT sau TACE so sánh với 38 bệnh nhân TACE đơn thuần, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn ở nhóm can thiệp SBRT đạt 96,3%, PFS trung bình là 15,7 tháng.
    • Jun B. và cộng sự (2018): Nghiên cứu đa trung tâm trên 199 bệnh nhân (85 bệnh nhân SBRT phối hợp TACE và 114 bệnh nhân TACE đơn thuần). Kết quả kiểm soát tại chỗ sau 1 và 3 năm ở nhóm phối hợp vượt trội hơn nhóm TACE (91,1% và 89,9% so với 69,9% và 44,8%; p < 0,001); PFS sau 1 và 3 năm đạt 56,5% và 32,3% so với 42,2% và 21,6% (p = 0,022).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết: Thiết lập dữ liệu can thiệp lâm sàng có nhóm chứng tại Việt Nam nhằm so sánh trực tiếp hiệu quả kiểm soát khối u, thời gian sống thêm và độc tính bức xạ giữa hai lựa chọn: thực hiện kỹ thuật SBRT liều cao định vị thân nối tiếp so với tiếp tục nút mạch hóa chất TACE nhắc lại ở các tổn thương UTBG còn tồn dư sau lần TACE đầu tiên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  1. Cơ chế nguồn cấp máu cho khối u và nguyên nhân tồn dư sau TACE: Khi tế bào gan thoái biến ác tính, nguồn cấp máu từ tĩnh mạch cửa giảm dần, thay thế bằng mạng lưới tân tạo từ các nhánh động mạch gan. Can thiệp TACE (dùng Lipiodol hoặc hạt vi cầu DC Bead nạp hóa chất) nhằm tắc nghẽn các động mạch nuôi u chính. Tuy nhiên, các nhánh mao mạch bàng hệ xung quanh u, các vi mạch tại vùng ranh giới nối với tĩnh mạch cửa và đám rối quanh mật (Peribiliary Vascular Plexus - PBP) thường không được bít tắc hoàn toàn, dẫn tới hiện tượng tồn dư mạch máu nuôi và mô u sống sót.
  2. Cơ chế sinh học bức xạ ion hóa: Luận án dựa trên lý thuyết 4 pha tác động của bức xạ:
    • Pha vật lý ($0 - 10^{-15}$ giây): Hấp thụ năng lượng bức xạ.
    • Pha hóa - lý ($10^{-15} - 10^{-12}$ giây): Xuất hiện các ion hóa và gốc tự do.
    • Pha hóa học ($10^{-12} - 10^{-6}$ giây): Biến đổi cấu trúc phân tử hữu cơ, tổn thương chuỗi DNA.
    • Pha sinh học ($> 10^{-6}$ giây): Tấn công màng tế bào và nhân, ức chế phân chia, dẫn đến chết tế bào theo chương trình (apoptosis) hoặc hoại tử vô khuẩn. Tia xạ tác động qua hai cơ chế: trực tiếp lên DNA (khoảng 20%) và gián tiếp qua các gốc tự do hydroxyl ($OH^-$), oxy hoạt tính ($H_2O_2, HO_2$) (khoảng 80%).
  3. Các thang điểm phân loại và tiêu chuẩn đánh giá:
    • Hệ thống phân chia giai đoạn: BCLC và tiêu chuẩn Kinki (phân nhóm B1, B2, B3).
    • Chức năng gan: Thang điểm Child-Pugh; Tình trạng toàn thân: Chỉ số ECOG.
    • Đánh giá đáp ứng u: Tiêu chuẩn RECIST/mRECIST trên CT/MRI đa dãy (Đáp ứng hoàn toàn - CR, Đáp ứng một phần - PR, Bệnh ổn định - SD, Bệnh tiến triển - PD).
    • Đánh giá độc tính: Tiêu chuẩn CTCAE phiên bản 5.0 và tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương gan do bức xạ (RILD).
Dấu ấn sinh học / Hệ thống phân loại Khái niệm / Ngưỡng giá trị trong tài liệu
AFP (Alpha-fetoprotein) Ngưỡng chẩn đoán thường dùng: 20 ng/ml và 200 ng/ml (độ nhạy 0,49–0,71 và 0,04–0,31; tỷ số dương tính khả dĩ 2,45 so với 5,85).
AFP-L3 Biến thể fucosyl hóa của AFP; ngưỡng cắt 10% và 15% (tỷ số dương tính khả dĩ 4,89 so với 13,10).
DCP (PIVKA-II) Protein bất thường do thiếu hụt vitamin K; ngưỡng cắt 40 mAU/ml và 100 mAU/ml.
Phân loại BCLC Gồm 5 giai đoạn: 0 (rất sớm), A (sớm), B (trung gian), C (tiến triển), D (muộn).
Phân nhóm Kinki (cho BCLC-B) Nhóm B1 (u trong tiêu chuẩn Milan, Child-Pugh A/B); Nhóm B2 (vượt tiêu chuẩn Milan, u không xâm lấn mạch máu lớn); Nhóm B3 (có tổn thương phức tạp).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng, so sánh trực tiếp hai nhóm bệnh nhân UTBG có khối u còn tồn dư sau can thiệp TACE:
    • Nhóm I (Nhóm nghiên cứu): Bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp xạ trị lập thể định vị thân (SBRT).
    • Nhóm II (Nhóm đối chứng): Bệnh nhân được tiếp tục điều trị bằng phương pháp tắc mạch hóa chất (TACE) nhắc lại.
  • Phương tiện kỹ thuật và trang thiết bị:
    • Hệ thống máy xạ trị gia tốc TrueBeam STx (Varian Medical Systems) với chùm tia photon mức năng lượng 6 MV FFF và 10 MV FFF.
    • Máy chụp cắt lớp vi tính mô phỏng 4 chiều (CT 4D) tích hợp hệ thống theo dõi nhịp thở.
    • Hệ thống máy chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) phục vụ can thiệp nội mạch.
    • Vật liệu tắc mạch: Nhũ dịch Lipiodol kết hợp hóa chất hoặc hạt vi cầu nạp hóa chất DC Bead kích thước tiêu chuẩn.
  • Quy trình kỹ thuật SBRT:
    1. Chuẩn bị bệnh nhân, cố định tư thế bằng khuôn đệm chuyên dụng.
    2. Chụp CT 4D mô phỏng đánh giá biên độ di động của khối u theo chu kỳ hô hấp.
    3. Lập kế hoạch xạ trị: Xác định các thể tích thể tích u thô (GTV), thể tích u di động (ITV), thể tích kế hoạch điều trị (PTV) và vẽ các cơ quan lành nguy cấp (OAR: gan lành, tủy sống, dạ dày, tá tràng, thận, tim).
    4. Tối ưu hóa và kiểm chuẩn kế hoạch xạ trị trên hệ thống phần mềm và thiết bị đo liều vật lý.
    5. Thực hiện phát tia xạ liều cao định vị thân theo số phân liều đã lập trình (1 đến 5 phân liều).
    6. Theo dõi bệnh nhân trong và sau xạ trị, tái khám định kỳ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tài liệu

Chương I trình bày cơ sở lý luận và tổng hợp các tài liệu chuyên ngành về bệnh học UTBG và phương pháp SBRT. Nội dung tập trung vào:

  • Dịch tễ học ung thư gan trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ chính: HBV, HCV, rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD/NASH).
  • Các phương pháp chẩn đoán: huyết thanh học (AFP, AFP-L3, DCP), chẩn đoán hình ảnh (siêu âm Doppler, CEUS, CT đa dãy xoắn ốc, MRI có chất đối quang từ gadolinium, PET/CT với FDG/C-11 acetate) và mô bệnh học.
  • Các hệ thống phân chia giai đoạn UTBG: Okuda, French, CLIP, BCLC, CUPI, TNM, JIS và tiêu chuẩn Kinki.
  • Các phương pháp điều trị hiện hành: Cắt gan, ghép gan, tiêm cồn qua da (PEIT), đốt sóng cao tần (RFA), can thiệp qua đường động mạch (TACE hóa dầu, TACE hạt vi cầu DC Bead, TARE với Yttrium-90) và điều trị hệ thống (Sorafenib, Lenvatinib, Regorafenib, Nivolumab).
  • Nguyên lý kỹ thuật, cấu tạo hệ thống máy TrueBeam STx, cơ chế tác động sinh học của bức xạ ion hóa, chỉ định, chống chỉ định, quy trình xạ trị SBRT và tổng kết các nghiên cứu SBRT phối hợp TACE trên thế giới.
Phương pháp can thiệp qua động mạch Chất mang / Cơ chế làm tắc Thuốc / Đồng vị phóng xạ
Hóa trị qua động mạch (TAC) Không sử dụng chất làm tắc mạch Hóa chất chống ung thư (Doxorubicin, Cisplatin...)
Tắc mạch hóa dầu (TOCE / TACE) Nhũ dịch dầu Lipiodol phối hợp Spongel cắt nhỏ ($1\text{ mm}^3$) Doxorubicin, Mitomycin C hoặc Cisplatin
Tắc mạch vi nang cầu (DC-Beads TACE) Hạt vi cầu hydrogel Sulfonate ($SO_3^-$) giải phóng thuốc kiểm soát Doxorubicin mang điện tích dương liên kết ion
Xạ trị chiếu trong chọn lọc (TARE/SIRT) Hạt vi cầu thủy tinh / resin kích thước > $20\text{ }\mu\text{m}$ Đồng vị phóng xạ phát tia Beta Yttrium-90 ($^{90}\text{Y}$)

Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương II mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán UTBG theo hướng dẫn của Bộ Y tế/AASLD/EASL; đã thực hiện TACE nhưng kết quả chụp CT/MRI sau can thiệp còn tồn dư ngấm thuốc tại khối u; chức năng gan Child-Pugh A hoặc B; chỉ số thể trạng ECOG 0-1; không có huyết khối thân chính tĩnh mạch cửa và không có di căn xa ngoài gan vượt chỉ định.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tổng kích thước các khối u > 20 cm hoặc u đơn độc > 15 cm; u xâm lấn trực tiếp vào đường tiêu hóa; suy giảm chức năng gan nặng (Child-Pugh C); đang có tình trạng nhiễm trùng cấp hoặc bệnh lý nội khoa nặng không kiểm soát.
  • Phân nhóm nghiên cứu: Bệnh nhân được phân chia vào Nhóm I (can thiệp SBRT sau TACE tồn dư) hoặc Nhóm II (tiếp tục can thiệp TACE nhắc lại).
  • Quy trình thu thập và chỉ tiêu nghiên cứu:
    • Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nồng độ AFP trước can thiệp.
    • Thông số kỹ thuật can thiệp: số u, kích thước u, phân bố phân thùy gan; đối với SBRT là số phân liều, tổng liều xạ (Gy), thể tích PTV, thời gian xạ; đối với TACE là loại hóa chất, kích thước hạt vi cầu DC Bead, mức độ tắc mạch trên DSA.
    • Đánh giá kết quả sớm tại thời điểm 3 tháng: mức độ biến đổi triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa gan, nồng độ AFP và tỷ lệ đáp ứng khối u theo RECIST/mRECIST (CR, PR, SD, PD).
    • Đánh giá kết quả lâu dài tại các mốc 6 tháng, 9 tháng và kết thúc theo dõi: tỷ lệ tái phát u tại chỗ sau khi đã đạt CR, xuất hiện u mới trong gan, di căn ngoài gan (hạch, phổi, não, xương), tỷ lệ tử vong và nguyên nhân tử vong.
    • Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ (OS), sống thêm không tiến triển (PFS), phân tích thời gian sống theo phân nhóm Kinki (B1, B2), theo kích thước u (< 5 cm so với $\ge 5$ cm) và theo tình trạng đáp ứng u.
    • Đánh giá các tác dụng phụ cấp tính và biến chứng muộn: sốt, đau hạ sườn phải, nôn/buồn nôn, biến đổi huyết học (giảm bạch cầu, tiểu cầu), tăng men gan (AST, ALT), viêm da do bức xạ, xuất huyết tiêu hóa, suy gan và hội chứng RILD theo CTCAE V5.0.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thu thập theo bệnh án nghiên cứu (BANC) thống nhất, xử lý và phân tích bằng các thuật toán thống kê y sinh học; so sánh các biến định tính bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) hoặc Fisher's exact test; so sánh các biến định lượng bằng Student's t-test hoặc Mann-Whitney U test; phân tích đường cong sống còn theo phương pháp Kaplan-Meier và kiểm định Log-rank.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học của Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108; bệnh nhân được giải thích đầy đủ và ký biên bản đồng ý tham gia nghiên cứu.

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Chương III trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ hai nhóm nghiên cứu theo các bảng và biểu đồ thống kê:

  • Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trước điều trị: Phân bố về nhóm tuổi, giới tính, tỷ lệ nhiễm HBV, HCV, tiền sử sử dụng rượu; phân loại thể trạng ECOG, phân loại chức năng gan Child-Pugh; phân bố giai đoạn theo BCLC và hệ thống phân nhóm Kinki (Kinki B1, Kinki B2); đặc điểm vị trí u gan, số lượng khối u trên từng bệnh nhân, kích thước u trung bình và nồng độ AFP nền trước điều trị.
  • Thông số kỹ thuật can thiệp:
    • Nhóm SBRT: Thống kê số lượng u được xạ trị trên mỗi bệnh nhân, số phân liều thực hiện (dao động từ 3 đến 5 phân liều), mức tổng liều xạ trị trung bình cho một khối u, liều trên từng phân liều, thời gian chiếu xạ thực tế cho mỗi lượt can thiệp.
    • Nhóm TACE: Tỷ lệ sử dụng kích cỡ hạt vi cầu DC Bead, mức độ bít tắc mạch nuôi u ghi nhận trên hình ảnh DSA can thiệp.
  • Kết quả điều trị sớm (sau 3 tháng):
    • Tỷ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng và sự biến đổi các chỉ số sinh hóa chức năng gan (AST, ALT, Bilirubin, Albumin, Prothrombin time).
    • Tỷ lệ giảm và mức độ đáp ứng của dấu ấn sinh học AFP huyết thanh so với trước điều trị.
    • Tỷ lệ đáp ứng khối u tại chỗ tại thời điểm 3 tháng: tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR), đáp ứng một phần (PR), bệnh ổn định (SD) và bệnh tiến triển (PD) giữa Nhóm I (SBRT) và Nhóm II (TACE nhắc lại).
    • Phân tích các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng u ở thời điểm 3 tháng (kích thước u, phân nhóm Kinki, mức liều xạ).
  • Kết quả điều trị lâu dài:
    • Tỷ lệ đáp ứng và kiểm soát khối u tại thời điểm 6 tháng và 9 tháng.
    • Tỷ lệ tái phát tại khối u sau khi đã đạt đáp ứng hoàn toàn.
    • Tỷ lệ xuất hiện tổn thương thứ phát ngoài gan (di căn hạch ổ bụng, di căn phổi, não, xương).
    • Tỷ lệ tử vong và phân tích cơ cấu nguyên nhân tử vong (do ung thư tiến triển, suy gan, xuất huyết tiêu hóa, các nguyên nhân khác).
    • Thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) trung bình và ước tính xác suất không tiến triển bệnh tại các thời điểm theo dõi (Biểu đồ đường cong Kaplan-Meier).
    • Thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung bình và xác suất sống còn tích lũy tại các thời điểm theo dõi giữa hai nhóm.
    • Phân tích thời gian sống toàn bộ theo các phân nhóm phụ: So sánh OS giữa hai nhóm theo phân loại Kinki B1 và Kinki B2; so sánh OS giữa hai nhóm theo kích thước u (< 5 cm so với $\ge 5$ cm); so sánh OS theo nhóm bệnh nhân có đáp ứng khối u và không đáp ứng khối u.
  • Độc tính, tác dụng phụ và biến chứng:
    • Tỷ lệ xuất hiện các tác dụng phụ thường gặp: mệt mỏi, phản ứng viêm da vùng chiếu xạ, rối loạn tiêu hóa, sốt sau can thiệp mạch.
    • Mức độ độc tính và thời gian kéo dài của các triệu chứng theo phân độ CTCAE V5.0.
    • Tỷ lệ các biến chứng sớm và muộn: biến đổi men gan cấp, suy giảm chức năng gan sau can thiệp, biến chứng loét/xuất huyết tiêu hóa, tỷ lệ xuất hiện tổn thương gan do bức xạ (hội chứng RILD điển hình và không điển hình).

Chương IV: Bàn luận

Chương IV đối chiếu các phát hiện của luận án với các công bố khoa học trong và ngoài nước:

  • Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Bàn luận về tính tương đồng của đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện TƯQĐ 108 so với các nghiên cứu trong khu vực Châu Á về tỷ lệ nhiễm HBV nền cao, phân bố giai đoạn theo tiêu chuẩn Kinki và sự biến thiên của AFP huyết thanh.
  • Về kỹ thuật xạ trị SBRT trên máy TrueBeam STx: Phân tích tính tối ưu trong việc phân chia liều (từ 3 đến 5 phân liều), kỹ thuật quản lý nhịp thở trên CT 4D giúp thu hẹp thể tích PTV, đảm bảo liều điều trị diệt u trong khi vẫn duy trì liều an toàn cho các cơ quan lành nguy cấp xung quanh.
  • Về đáp ứng khối u và nồng độ AFP: So sánh tỷ lệ CR, PR ở thời điểm 3, 6, 9 tháng của luận án với các nghiên cứu của Kimura T. (2018), Honda Y. (2013, 2014) và Jun B. (2018). Phân tích nguyên nhân SBRT đạt tỷ lệ kiểm soát khối u tại chỗ cao hơn TACE nhắc lại nhờ cơ chế tiêu diệt tế bào vô mạch hoặc mạch máu bàng hệ mà hóa chất tắc mạch không tiếp cận được.
  • Về thời gian sống thêm (PFS và OS): Luận giải về sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm can thiệp SBRT; phân tích giá trị tiên lượng của phân loại Kinki (nhóm B1 có thời gian sống vượt trội hơn nhóm B2) và kích thước u (< 5 cm đáp ứng tốt hơn nhóm $\ge 5$ cm).
  • Về tính an toàn và biến chứng: Đánh giá mức độ dung nạp của bệnh nhân đối với liều xạ SBRT; giải thích tỷ lệ thấp của hội chứng RILD và các biến chứng tiêu hóa nặng nhờ kiểm soát tốt thể tích gan lành nhận liều xạ và kiểm chuẩn kế hoạch xạ trị chặt chẽ.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
    • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm lâm sàng có đối chứng về hiệu quả vượt trội của phương pháp xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) so với can thiệp tắc mạch hóa chất (TACE) nhắc lại trong điều trị các tổn thương ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau lần TACE ban đầu.
    • Làm rõ cơ chế kiểm soát khối u tại chỗ của SBRT đối với các vùng u hoại tử không hoàn toàn, vùng u được nuôi bởi các nhánh tuần hoàn bàng hệ hoặc vi mạch nối ranh giới vỏ bao khối u.
    • Khẳng định giá trị thực tiễn của việc áp dụng hệ thống phân loại Kinki trong phân tầng điều trị các bệnh nhân BCLC giai đoạn B (giai đoạn trung gian) để lựa chọn chỉ định can thiệp SBRT phù hợp.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn điều trị:
    • Xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật SBRT ứng dụng trên hệ thống gia tốc TrueBeam STx kết hợp chụp CT 4D mô phỏng quản lý biên độ hô hấp cho bệnh nhân UTBG tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
    • Chứng minh SBRT là giải pháp can thiệp bổ trợ/nối tiếp an toàn, không làm gia tăng tỷ lệ suy gan hoặc viêm gan do bức xạ nghiêm trọng (RILD) so với TACE nhắc lại nếu tuân thủ đúng liều giới hạn các cơ quan lành.
    • Đề xuất phác đồ phối hợp can thiệp: Đối với các khối u UTBG giai đoạn trung gian không đạt đáp ứng hoàn toàn sau 1 lần TACE, nên chuyển sang xạ trị SBRT liều cao định vị thân thay vì tiếp tục lặp lại TACE nhiều lần gây suy giảm chức năng gan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận từ phạm vi nghiên cứu:
    • Nghiên cứu được triển khai tại một trung tâm y tế chuyên sâu tuyến cuối (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), nơi có sẵn trang thiết bị máy gia tốc đồng bộ (TrueBeam STx) và hệ thống CT 4D mô phỏng, do đó việc áp dụng rộng rãi quy trình tại các cơ sở điều trị chưa có máy móc tương đương còn gặp khó khăn.
    • Đối tượng nghiên cứu khu trú ở nhóm bệnh nhân còn bảo tồn chức năng gan (Child-Pugh A, B) và không có huyết khối thân chính tĩnh mạch cửa, do đó kết quả chưa thể suy rộng cho nhóm bệnh nhân có chức năng gan suy giảm nặng (Child-Pugh C) hoặc giai đoạn muộn có di căn lan tràn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đa trung tâm nhằm củng cố mức độ bằng chứng cho các hướng dẫn điều trị quốc gia.
    • Nghiên cứu phối hợp xạ trị SBRT với các thuốc điều trị toàn thân mới như thuốc nhắm trúng đích phân tử nhỏ (TKIs) hoặc liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (anti-PD-1/PD-L1) để đánh giá hiệu ứng hiệp đồng toàn thân và kiểm soát di căn xa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  1. Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu, Xạ trị và Tiêu hóa - Gan mật: Cung cấp thông số cụ thể về liều xạ trị, phân liều, thể tích PTV và liều giới hạn cơ quan lành nguy cấp OAR trong điều trị SBRT khối u gan; hướng dẫn theo dõi và xử trí sớm hội chứng RILD.
  2. Bác sĩ can thiệp mạch (Radiologist): Cung cấp dữ liệu đánh giá nguyên nhân thất bại sau TACE hạt vi cầu và thời điểm thích hợp để hội chẩn chuyển đổi phương pháp điều trị sang xạ trị định vị thân.
  3. Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Nội khoa, Ung bướu: Tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng, cách áp dụng các thang điểm phân loại tiên lượng mới (tiêu chuẩn Kinki) và tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng hình ảnh mRECIST.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao ung thư biểu mô tế bào gan thường có hiện tượng tồn dư tổn thương sau can thiệp TACE?
Khối u gan được nuôi dưỡng bởi hệ mạch phức tạp. Hạt vi cầu hoặc nhũ dịch tắc mạch thường chỉ bít tắc được các động mạch nuôi u có kích thước tương thích, không tiếp cận được các vi mạch bàng hệ rất nhỏ ở vùng rìa ngoài khối u nơi nối với tĩnh mạch cửa và đám rối quanh mật (PBP). Ngoài ra, các khối u có độ biệt hóa kém thường có cấu trúc mạch tân tạo phân bố không đều, khiến hóa chất và vật liệu tắc mạch không thể phân bố bao phủ toàn bộ mô u, dẫn tới khoảng 60% trường hợp còn tổn thương sống sót.

2. Nguyên lý tác động của tia xạ trong phương pháp SBRT lên khối u gan diễn ra như thế nào?
SBRT sử dụng chùm tia photon liều cao (từ máy TrueBeam STx) tác động qua 4 pha sinh học (vật lý, hóa - lý, hóa học, sinh học). Khoảng 20% tổn thương tế bào u xảy ra do tác động trực tiếp bẻ gãy chuỗi xoắn DNA, và 80% xảy ra do cơ chế gián tiếp thông qua các gốc tự do ($OH^-$, $H_2O_2$) tạo ra từ phân tử nước trong tế bào. Quá trình này phá hủy màng tế bào, gây sai lệch nhiễm sắc thể và làm hoại tử mô u ung thư.

3. Chỉ định điều trị SBRT trong ung thư biểu mô tế bào gan bao gồm những nhóm nào?
SBRT được chỉ định cho 3 nhóm chính: (1) Giai đoạn sớm: Tổn thương nhỏ $< 3\text{ cm}$ không phù hợp phẫu thuật hoặc RFA do vị trí sát mạch máu lớn, rốn gan, hoặc điều trị cầu nối chờ ghép gan; (2) Giai đoạn trung gian: Khối u còn tồn dư hoặc tái phát trong vòng 3 tháng sau TACE, hoặc u có nhiều nguồn cấp máu bàng hệ; (3) Giai đoạn tiến triển: Khối u có huyết khối nhánh tĩnh mạch cửa nhằm làm teo huyết khối phục hồi dòng chảy tĩnh mạch cửa trước khi can thiệp bổ trợ khác.

4. Biểu hiện của bệnh gan do bức xạ (RILD) sau xạ trị SBRT là gì?
RILD có thể xuất hiện từ 2 tuần đến 3 tháng sau xạ trị với hai thể: (1) Thể điển hình: Bệnh nhân có biểu hiện cổ chướng, gan to không đau và tăng phosphatase kiềm huyết thanh; (2) Thể không điển hình: Tăng men gan (AST, ALT) hoặc suy giảm chức năng gan (tăng Bilirubin, giảm Albumin, giảm Prothrombin) trong vòng 12 tuần từ khi bắt đầu xạ trị.

5. Cơ sở lựa chọn phân loại Kinki thay vì phân loại BCLC đơn thuần trong nghiên cứu là gì?
Phân loại BCLC giai đoạn B (trung gian) bao gồm nhóm bệnh nhân có sự không đồng nhất rất lớn về số lượng u, kích thước u và chức năng gan. Phân loại Kinki chia giai đoạn B thành các phân nhóm nhỏ hơn (B1, B2, B3) dựa trên tiêu chuẩn Milan, mức độ Child-Pugh và tình trạng mạch máu, giúp định hướng can thiệp tối ưu hóa: nhóm B1 và B2 phù hợp cho can thiệp qua động mạch kết hợp xạ trị định vị thân SBRT để đạt hiệu quả kiểm soát tại chỗ cao nhất.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đồng Đức Hoàng đã đánh giá một cách toàn diện hiệu quả và tính an toàn của phương pháp xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) trên hệ thống TrueBeam STx trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau can thiệp TACE. Kết quả nghiên cứu chứng minh SBRT đạt tỷ lệ đáp ứng khối u tại chỗ cao, cải thiện thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và thời gian sống toàn bộ (OS) so với phương pháp tiếp tục TACE nhắc lại, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân