Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xu thế phát triển của báo chí địa phương Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Chương 2: Các cơ quan báo chí địa phương và những cơ hội, thách thức trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 12 Chương 3: Thực trạng xu thế phát triển của báo chí địa phương Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Chương 4: Những vấn đề đặt ra và khuyến nghị khoa học để báo chí địa phương Việt Nam phát triển trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện. 13 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về báo chí truyền thông và báo chí địa phương 1. Những nghiên cứu của nước ngoài Một số nghiên cứu của nước ngoài về báo chí truyền thông - Lasswell và Hobland đã có nhiều nghiên cứu về truyền thông đại chúng (TTĐC) và hiệu quả của chúng trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai.
Các ông đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả của mô hình truyền thông 1 chiều, nghiên cứu uy tín của nguồn tin, thái độ tuyên truyền ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả truyền tin. Theo Hobland TTĐC là công cụ để duy trì đảm bảo trật tự xã hội.Parsons (1902-1979) nhà xã hội học người Mỹ đã đề cao vai trò của thông tin. Theo ông, thông tin là quá trình cơ bản trong hệ thống xã hội, vì vậy khi nghiên cứu thông tin cần đặt nó trong sự vận hành của hệ thống xã hội. Toffer làn sóng thứ ba đang tạo ra một thời đại mới, thời đại của thông tin phi đại chúng hóa.
Công chúng hiện nay không chỉ có một nguồn thông tin mà họ có nhiều nguồn thông tin đa dạng. Do vậy họ có quyền lựa chọn thông tin nào phù hợp với chính bản thân mình. Chính việc thay đổi môi trường dẫn đến những thông tin xung quanh chúng ta cũng thay đổi. - Klaus Bruhn Jensen và Nicholas W.
Jancows (1991) trong cuốn “A handbook of Qualitative Methodologies for Mass Communication Research” (Sổ tay phương pháp nghiên cứu định tính dành cho TTĐC) của đã mô tả chi tiết lý thuyết và kỹ năng nghiên cứu định tính trong TTĐC. Những vấn đề cấu trúc công chúng, các kiểu loại công chúng, quy mô công chúng truyền thông,. đã được tác giả xem xét dưới nhiều góc độ. Lowery và Melvin L.
DeFleur (1995) trong cuốn “Milestones in Mass Communication Research: Media Effects” (Những dấu mốc trong nghiên cứu truyền thông: hiệu quả của các phương tiện truyền thông), NXB Longman (Mỹ) khẳng định vai trò quan trọng của nghiên cứu TTĐC, tác phẩm đã mô tả chi tiết một số kết quả nghiên cứu truyền thông như: tác động của phim ảnh đến trẻ em, truyền hình và hành vi xã hội, bạo lực và truyền thông. - Philip Breton và Serge Proulx (1996) trong “Bùng nổ truyền thông - Sự ra đời một ý thức hệ mới” đã nêu ra các kỹ thuật truyền thông trong lịch sử, đó là sự xuất hiện của chữ viết, tầm quan trọng của nó trong xã hội cổ đại; khái niệm thông tin, sự phát triển của khoa học hùng biện; kỹ thuật ấn loát. , trong đó tác giả phân 14 tích ảnh hưởng của PTTT thông qua việc đặt ra những hoàn cảnh, thí nghiệm khác nhau để khảo sát về tác động của phương pháp thuyết phục. Đặt câu hỏi với thính giả tại sao họ chăm chú nghe đài khi có những bài tản văn.
Tiến hành những cuộc quan sát trên thực tế, so sánh ảnh hưởng của báo chí và của phát thanh trong việc hình thành ý kiến của độc giả và thính giả. Trong đó, các tác giả nhấn mạnh khảo sát khâu tiếp nhận, những định đề lý thuyết của các công trình nghiên cứu về khâu tiếp nhận. Những kết quả chính của điều tra về công chúng là: 1. Mọi người dành tương đối nhiều thời gian cho các PTTT; 2.
Việc sử dụng các phương tiện phổ biến hiện đại lan rộng ra tất cả các tầng lớp trong xã hội; 3. Một hiệu ứng đồng tác được diễn ra trong việc sử dụng cùng một lúc nhiều media, việc sử dụng cường độ cao một media của một người có khuynh hướng thúc đẩy người đó dùng cùng một lúc những PTTT khác; 4. Hành vi xử sự và thái độ đối với các PTTT có khuynh hướng bình thường hóa, việc sử dụng media trở thành bộ phận nằm trong “phong cách sống”; 5. Có rất nhiều mối liên hệ qua lại giữa đặc tính của một số công chúng với cách sử dụng đặc biệt các PTTT, chẳng hạn, tuổi trẻ thích xem phim ở rạp, đàn ông thích đọc báo, phụ nữ thích xem truyền hình.
Mọi người công nhận đạt được sự thỏa mãn chủ quan trong việc sử dụng PTTT; 7. Tính chất mối quan hệ giữa mọi người với nhau, trong đó một số người tác động đến kiểu sử dụng PTTT của người khác. - Các tác giả Anders Hansen, Simon Cottle, Ranph Negrine, Chris Newbold (1998) trong cuốn “Mass Communication Research Methods” (Các phương pháp nghiên cứu TTĐC) đề cập kỹ lưỡng đến kỹ thuật nghiên cứu định lượng và định tính, với các phương pháp cơ bản như: phỏng vấn bằng bảng hỏi, phân tích nội dung, quan sát tham dự, phỏng vấn nhóm tập trung, sử dụng các phần mềm máy tính hỗ trợ và việc phân tích số liệu. - Loic Hervouet (1999) “Viết cho độc giả”.
Tác giả nghiên cứu việc tìm hiểu người đọc báo. Khi độc giả cầm tờ báo, quá trình dẫn đến việc đọc trọn vẹn một bài báo thường diễn ra 3 giai đoạn: xem lướt, quyết định lựa chọn, chọn và ưu tiên các thông tin. Để gây sự chú ý độc giả đối với một bài báo, tác giả đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau như: chọn từ thích đáng phù hợp với độc giả. Ông tìm hiểu thói quen của người đọc báo và đã chứng minh rằng mắt người không nhìn vào thứ tự từng chữ cái trong từ để rồi tạo thành từ.
Cặp mắt - bộ óc - cảm nhận một cách tổng quan khoảng 10 ký tự, sau đó chuyển sang nhóm ký tự tiếp theo. Mỗi lần cảm nhận như vậy kéo dài khoảng 1/3 đến 1/4 giây. Thời gian chuyển từ nhóm này sang 15 nhóm khác dài 1/40 giây. Từ năm 1673, nhà văn Pháp Bossuet đã viết: “Người ta không đọc từng chữ cái một, mà hình ảnh chung của toàn bộ từ (gồm nhiều chữ cái) đập vào được não bộ cảm nhận”.
Khi một trong số các chữ cái bị thay đổi vì một lý do nào đó, hình ảnh của toàn bộ từ đột ngột thay đổi làm cho não bộ không thể cảm nhận được ngay lập tức: người đọc cảm thấy bị vấp và buộc phải suy nghĩ xem chữ cái nào bị đặt sai chỗ, và dù cho người đọc có đoán ra được ngay thì nhịp đọc cũng bị giảm đáng kể.P Prôkhôrôp (2004), tác giả người Nga trong “Cơ sở lý luận báo chí”, đã bao quát nhiều bình diện, phân tích khái niệm và vai trò của chủ thể truyền thông, hiệu quả của báo chí đối với công chúng và chủ thể truyền thông làm thế nào để có sự hiểu biết về công chúng. Graben chủ biên cuốn “Media Power in Polictics” (Sức mạnh của truyền thông trong đời sống chính trị), NXB đại học New York năm 2003 đã nghiên cứu tác động của truyền thông trong đời sống chính trị, phân tích tác động của báo chí tới chính trị trên phương diện lý thuyết và thực tiễn với các góc độ khác nhau. Cuốn sách đã phân tích các đặc trưng và phương pháp tạo dựng tâm lý, những ảnh hưởng của chính trị bằng các PTTT. Tác giả đã làm rõ vai trò của truyền thông với đời sống chính trị hiện đại thông qua các cuộc vận động tranh cử ở Mỹ.
Tác giả đã đánh giá cao ảnh hưởng mạnh mẽ của TTĐC với quan điểm chính trị của các tầng lớp dân cư. - Claudia Mast (2003) trong “Truyền thông đại chúng - công tác biên tập” đề cập đến hình thức và chức năng công tác biên tập, đưa ra một số kinh nghiệm về cách biên tập một số thể loại báo chí. Cách quản lý công tác biên tập: như tổ chức lao động, tổ chức công tác biên tập và công tác lãnh đạo biên tập. Tài liệu khẳng định, các sản phẩm báo chí cạnh tranh để lôi kéo sự chú ý của công chúng.
Những biện pháp như các hoạt động đặc biệt và chú ý thị hiếu của nhóm độc giả, khán thính giả đã trở thành một bộ phận quan trọng của kế hoạch biên tập trong cuộc cạnh tranh giành thị phần. Chẳng hạn biện pháp Tự giới thiệu và công tác công chúng: Mặc dù bản thân chất lượng của công tác báo chí đã có sức thuyết phục, một sự tiếp xúc với công chúng thực hiện có bài bản mang tính chuyên nghiệp có thể nâng cao uy tín của báo, đài và hiệu quả của công tác quảng cáo. Tự giới thiệu nên ưu tiên cung cấp thông tin về mục tiêu của hoạt động báo chí, phương thức làm việc và những khả năng, nhưng cũng cần thông tin về các số liệu sử dụng phương tiện truyền thông của bạn đọc, khán thính giả. Những thông tin về kế hoạch biên tập và các cộng tác viên của báo, đài (giới thiệu các thiên phóng sự kèm theo chân dung của nhà báo), kết hợp với những yêu cầu về chất lượng báo chí, tạo điều kiện cho độc giả, khán, thính giả hằng ngày có căn cứ đánh giá báo chí và các chương trình phát thanh, truyền hình, 16 xây dựng mối thiện cảm đối với nhà báo và với sản phẩm (phương tiện truyền thông).
Thường xuyên quan tâm tới công việc tiếp xúc khi đi nghiên cứu điều tra, thông qua giao lưu, hoạt động và biện pháp quảng cáo; báo, đài có thể gây ảnh hưởng rộng khắp, những ảnh hưởng vượt lên số người trực tiếp tham gia vì họ sẽ lan truyền qua trò chuyện những cảm nhận và tình cảm thái độ của họ đối với báo chí. - Cuốn “Basic radio Journalism” (1997), hai tác giả Paul Chanlter và Peter Stewart đã cung cấp kiến thức cơ bản, nền tảng về quy trình, cách thức sản xuất chương trình phát thanh. Hai tác giả này đã tập trung phân tích các kỹ năng của nhà báo trong quá trình tổ chức sản xuất các chương trình từ việc thu thập tư liệu, sáng tạo tác phẩm đến đọc nói tin, bài, tổ chức kết cấu chương trình, cách thức xây dựng các chương trình phát thanh chuyên biệt như chương trình chuyên về bầu cử, chương trình chuyên về giáo dục, chương trình chuyên về âm nhạc, giải trí… Các ông cũng nhấn mạnh việc xây dựng các chương trình phục vụ các nhóm đối tượng nhỏ là một xu thế. Các chương trình cần thiên về sự cụ thể, gần gũi, biểu đạt những nhu cầu đa dạng của công chúng trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.