Tổng quan luận án

Hiện tượng di dân là một quy luật xã hội khách quan gắn liền với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa. Tại Việt Nam, sự hình thành các đô thị trung tâm như Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra lực hút mạnh mẽ đối với các dòng di dân nội địa, đặc biệt từ khu vực nông thôn. Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở được luận án trích dẫn, giai đoạn 1999 - 2009, tỷ lệ tăng dân số của Thành phố Hồ Chí Minh đạt trên 3,5%, tương đương mức tăng hơn 2 triệu người trong 10 năm; giai đoạn 2009 - 2015 dân số tăng thêm hơn 1 triệu người, chủ yếu do gia tăng cơ học; dự báo giai đoạn 2016 - 2020 mức tăng cơ học tiếp tục duy trì khoảng 2,65%.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả Lê Sĩ Hải chỉ ra là: phần lớn các công trình nghiên cứu về di dân trước đây chủ yếu tập trung vào diện mạo chung của dòng di cư lao động phổ thông từ nông thôn ra đô thị nhằm mục đích kinh tế, việc làm trước mắt. Trong khi đó, dòng di dân trẻ, có trình độ học vấn cao – cụ thể là thanh niên nhập cư vì lý do học tập (di dân học tập) và quyết định ở lại thành phố làm việc sau khi tốt nghiệp đại học – chưa được bóc tách và phân tích tương xứng. Sinh viên tốt nghiệp đại học khi lựa chọn cư trú không chỉ trải qua việc chuyển dịch không gian địa lý đơn thuần mà thực hiện quá trình chuyển cư lần thứ hai với những cân nhắc phức tạp về kinh tế, mạng lưới xã hội và sự hòa nhập lối sống đô thị.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là cung cấp một bức tranh khách quan về thực trạng cuộc sống, việc làm của bộ phận sinh viên các tỉnh sau khi tốt nghiệp đại học đang sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời phân tích, lượng hóa các nhân tố ở cấp độ vi mô và vĩ mô tác động đến quyết định không trở về nơi xuất cư mà ở lại thành phố, từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách về quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng cho đề tài, bao gồm tổng quan tài liệu về di dân và di dân học tập, thao tác hóa các khái niệm công cụ, phân tích các lý thuyết tiếp cận.
  2. Khảo sát thực trạng các nhân tố tác động đến quyết định ở lại thành phố làm việc của sinh viên nhập cư sau tốt nghiệp ở cấp độ vi mô (mạng lưới xã hội, sự thích nghi môi trường sống đô thị) và cấp độ vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, việc làm, thu nhập, hệ thống hạ tầng và tiện ích xã hội).
  3. Phân tích xu hướng di dân học tập vào Thành phố Hồ Chí Minh; khảo sát thực trạng đời sống và dự định tương lai của sinh viên nhập cư đang theo học; khảo sát mức độ tham gia hoạt động kinh tế - xã hội và tiếp cận dịch vụ cơ bản của nhóm sinh viên đã tốt nghiệp đang ở lại thành phố.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đánh số và giải quyết gồm 3 câu:

  1. Gia đình và các kết nối xã hội ở nơi đi, nơi đến ảnh hưởng như thế nào đến quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp?
  2. Quá trình học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh, thích nghi với môi trường sống tại đô thị có là yếu tố chi phối đến quyết định không trở về nơi xuất cư của sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh không?
  3. Các yếu tố ở cấp độ vĩ mô nào đã tác động trực tiếp làm gia tăng khoảng cách giữa các địa phương, tạo ra các lực hút và lực đẩy, ảnh hưởng đến quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp tại các trường đại học trên địa bàn thành phố?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 giả thuyết tương ứng:

  1. Những yếu tố liên quan đến vai trò gia đình và những kết nối từ mạng lưới xã hội (bạn bè trong và ngoài trường, người thân tại thành phố, mối quan hệ lỏng lẻo với nơi xuất cư) góp phần tác động đến quyết định ở lại hay trở về quê lập nghiệp.
  2. Quá trình học tập tại thành phố giúp sinh viên hòa nhập vào đời sống đô thị; sự phù hợp với lối sống năng động, tính ẩn danh cao, sự tự do thoải mái tại đô thị là yếu tố chi phối quyết định không trở về nơi xuất cư.
  3. So với các địa phương xuất cư, Thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều doanh nghiệp (đặc biệt là khu vực tư nhân) tạo ra việc làm, thu nhập kỳ vọng, cơ hội thăng tiến cùng hệ thống dịch vụ công cộng, y tế - giáo dục đa dạng; sự chênh lệch này tạo ra lực hút và lực đẩy chi phối quyết định cư trú sau tốt nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ở cấp độ vi mô và vĩ mô tác động đến quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp.
  • Khách thể nghiên cứu: Gồm 3 nhóm: (1) Sinh viên nhập cư đã tốt nghiệp đại học, hiện đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh; (2) Sinh viên tốt nghiệp đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện đã quay về quê sinh sống, làm việc; (3) Sinh viên nhập cư đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn thành phố.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa thu thập dữ liệu sơ cấp thực hiện trong các năm 2014 và 2015; dữ liệu thứ cấp và các báo cáo thống kê cập nhật giai đoạn 2010 - 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai trục nội dung chính:

  • Nhóm nghiên cứu về di dân nội địa: Luận án điểm lại các lý thuyết di dân cổ điển và hiện đại, trọng tâm là mô hình lực hút - lực đẩy (Push - Pull Models) của Everett Lee, lý thuyết di dân nông thôn - thành thị của Arthur Lewis và Michael Todaro, lý thuyết mạng lưới xã hội và vốn xã hội trong di cư của Douglas Massey. Tại Việt Nam, tác giả điểm qua các công trình của các tác giả và tổ chức nghiên cứu về biến động dân số, di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, tác động của chính sách quản lý hộ khẩu và rào cản tiếp cận an sinh xã hội đối với người nhập cư. Điểm chung của các nghiên cứu này là tập trung giải thích động cơ kinh tế thuần túy của nhóm lao động phổ thông.
  • Nhóm nghiên cứu về di dân trẻ và thanh niên lập nghiệp: Luận án tham chiếu dữ liệu từ Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY), các báo cáo của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổng cục Thống kê (TCTK). Đáng chú ý, kết quả điều tra chuyển tiếp từ trường học tới việc làm của ILO chỉ ra khoảng 59% thanh niên Việt Nam hoàn thành chuyển tiếp sang thị trường lao động, nhưng mất trung bình 6 năm tìm việc làm ổn định, một nửa phải làm công việc tạm thời thấp hơn bằng cấp đào tạo; sinh viên sau tốt nghiệp mất từ 6 đến 10 năm để có công việc ổn định. Điều tra di dân và đô thị hóa năm 2014 của UNFPA và TCTK cũng ghi nhận nhóm di cư tập trung ở độ tuổi 20 - 34 tuổi và tỷ lệ nữ nhập cư ngoại tỉnh (54,6%) cao hơn nam giới.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù dòng người trẻ dịch chuyển về đô thị để học tập chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu gia tăng cơ học, các tài liệu nghiên cứu hiện có thường xem việc đi học là giai đoạn tạm trú, chưa nhìn nhận đầy đủ tính chất của "di dân học tập". Sau khi hoàn thành khóa học, sinh viên đứng trước ngã rẽ chuyển cư lần hai. Luận án chọn lấp đầy khoảng trống này bằng cách:

  1. Tiếp cận đối tượng di dân có học vấn cao (tốt nghiệp đại học), tách biệt khỏi đối tượng lao động di cư phổ thông.
  2. Xem xét đồng thời lực kéo từ mạng lưới xã hội tại nơi nhập cư và lực đẩy từ sự đứt gãy hoặc thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ tại nơi xuất cư (như tình trạng thiếu thông tin việc làm ở quê, tuyển dụng thiếu minh bạch).
  3. Đưa biến số "thích nghi lối sống đô thị" (tính ẩn danh, sự tự do cá nhân) vào mô hình định lượng bên cạnh các biến số kinh tế truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học đa diện để thiết lập khung phân tích:

  • Lý thuyết lực hút - lực đẩy (Push - Pull Theory): Dùng để nhận diện các yếu tố kinh tế - xã hội vĩ mô tạo nên sức ép rời đi từ nơi xuất cư và lực hấp dẫn việc làm, thu nhập từ nơi nhập cư.
  • Lý thuyết mạng lưới xã hội (Social Network Theory) và vốn xã hội: Khảo sát cấu trúc liên kết thân tộc, bạn bè, đồng hương tác động đến cơ hội tìm việc và chỗ ở.
  • Lý thuyết lối sống đô thị và sự thích ứng xã hội: Giải thích cơ chế cá nhân hóa, sự giải phóng khỏi các chuẩn mực kiểm soát truyền thống ở nông thôn, hướng tới lối sống năng động, ẩn danh tại đại đô thị.

Khung phân tích của luận án kết nối các thành tố: Bối cảnh kinh tế - xã hội nơi xuất cư và nhập cư; Vai trò gia đình và kết nối xã hội; Yếu tố cá nhân; Thích nghi môi trường sống; Chính sách về di cư và di cư học tập; qua đó tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là Quyết định ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp.

  • Biến độc lập: Yếu tố hành vi cá nhân, vai trò gia đình, các kết nối xã hội, sự thích nghi môi trường sống đô thị, bối cảnh kinh tế - xã hội của đô thị (tăng trưởng, giáo dục, y tế, hạ tầng, tiện ích xã hội).
  • Biến phụ thuộc: Quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp.
  • Biến can thiệp: Đặc điểm nhân khẩu học cá nhân (giới tính, ngành học, xếp loại tốt nghiệp, quê quán) và chính sách quản lý của Nhà nước và thành phố đối với di cư.

Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp cả định tính và định lượng:

  1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác số liệu Niên giám thống kê Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh, các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở, Điều tra lao động việc làm, Điều tra vị thành niên và thanh niên, báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2017.
  2. Phương pháp định tính: Thực hiện 35 cuộc phỏng vấn sâu (PVS), bao gồm:
    • 10 cuộc PVS trực tiếp với sinh viên nhập cư đang học tập.
    • 15 cuộc PVS trực tiếp và 5 cuộc PVS qua điện thoại với sinh viên nhập cư đã tốt nghiệp đang ở lại Thành phố Hồ Chí Minh.
    • 5 cuộc PVS qua điện thoại với sinh viên tốt nghiệp đã trở về quê làm việc.
    • Kết hợp phương pháp quan sát thực địa và ghi nhận hình ảnh đời sống, sinh hoạt, nhà trọ, việc làm thêm của sinh viên.
  3. Phương pháp định lượng:
    • Mẫu sinh viên tốt nghiệp (khảo sát chính): Quy mô $N = 350$ trường hợp sinh viên nhập cư tốt nghiệp đại học từ năm 2004 hiện đang sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do không thể lập khung mẫu xác suất từ danh sách các cơ quan hay nhà trọ, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kỹ thuật lấy mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling). Quá trình bắt đầu từ 30 trường hợp mầm, tích tiến giới thiệu đạt 400 phiếu phát ra và thu về 350 phiếu hợp lệ (252 phiếu phỏng vấn trực tiếp - chiếm 72%; 75 phiếu hẹn nộp lại - chiếm 21,5%; 23 phiếu gửi qua thư điện tử - chiếm 6,5%).
    • Mẫu sinh viên đang học: Quy mô $N = 300$ sinh viên tại 5 trường đại học đại diện trên địa bàn (Đại học Bách khoa ĐHQG TP.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG TP.HCM, Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Văn Hiến, Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM - HUTECH). Mỗi trường chọn ngẫu nhiên đơn giản 60 sinh viên nhằm mô tả điều kiện sinh hoạt và dự định lập nghiệp.
    • Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Phân tích đơn biến (tần số, phần trăm, trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn), phân tích hai biến (bảng chéo crosstab, kiểm định Chi-square $\chi^2$, kiểm định Independent T-test).
    • Thiết kế thang đo: Dùng thang đo khoảng Likert 7 mức độ (từ 1: hoàn toàn không đồng ý/không quan trọng đến 7: đồng tình rất cao/ảnh hưởng rất mạnh). Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép trích Principal Components và phép quay Varimax được thực hiện cho 24-26 biến quan sát ban đầu. Kết quả kiểm định mẫu cho thấy hệ số $\text{KMO} = 0,879 > 0,5$; kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($\text{Sig.} = 0,000 < 0,05$). Sau khi loại các biến có hệ số tải nhân tố (factor loading) $< 0,5$, mô hình giữ lại 25 biến quan sát trích thành các nhóm nhân tố có Eigenvalues $> 1$, tổng phương sai trích tích lũy đạt 72,9%. Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha đều đạt yêu cầu ($> 0,6$ và tương quan biến - tổng $> 0,3$).
STT Nhóm nhân tố tác động (theo mức độ ảnh hưởng) Hệ số Cronbach's Alpha Nội dung các biến thành phần chính trong thang đo
1 Điều kiện, môi trường sống 0,93 Cơ hội học tập nâng cao trình độ; dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giải trí đa dạng; điều kiện mua sắm, ẩm thực; chính sách an sinh xã hội tốt; hạ tầng giao thông tốt, cảnh quan đẹp.
2 Điều kiện cơ hội việc làm, thu nhập 0,89 Cơ hội thăng tiến nghề nghiệp; trang thiết bị làm việc tốt; cơ hội cống hiến, phát huy; cơ hội tìm việc phù hợp nhanh; môi trường làm việc công bằng; cơ hội mang lại thu nhập cao.
3 Mạng lưới xã hội 0,82 Còn ít người thân tại quê; không có mối quan hệ để xin việc tốt ở quê; tại TP.HCM đã thiết lập nhiều bạn bè có thể giúp đỡ.
4 Phù hợp lối sống tại thành phố 0,78 Cảm giác thoải mái, tự do; cảm thấy hợp và quen thuộc với nhịp sống thành phố.
5 Thông tin, chính sách việc làm 0,76 Thiếu thông tin việc làm ở quê nhà; chính sách tuyển dụng tại địa phương quê nhà chưa minh bạch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về di dân nội địa, di dân trẻ và sinh viên nhập cư. Tác giả phân loại các luồng nghiên cứu thành: nghiên cứu di dân gắn với đô thị hóa, nghiên cứu di dân dưới góc độ kinh tế lao động, và các khảo sát thanh niên lập nghiệp. Chương 1 chỉ rõ phần lớn các tác giả trước đây dừng lại ở việc xem việc học tập là một đặc tính nhân khẩu xã hội của người di cư, chưa phân định sinh viên tốt nghiệp thành một nhóm xã hội chuyên biệt có học vấn cao đối mặt với quyết định chuyển cư mang tính bản lề. Tác giả khẳng định sự cần thiết phải phân tích quá trình chuyển tiếp từ trường học sang thị trường lao động tại các siêu đô thị dưới góc độ xã hội học chuyển cư.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Tác giả xác lập khung lý thuyết, thao tác hóa các khái niệm trung tâm: di dân, di dân học tập, sinh viên nhập cư, quyết định ở lại thành phố, mạng lưới xã hội, lối sống đô thị. Về cơ sở thực tiễn, chương 2 phác thảo bối cảnh giáo dục và kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh: năm học 2016 - 2017, thành phố có 83 trường đại học, cao đẳng (50 trường đại học, 33 trường cao đẳng) và 7 học viện, tiếp nhận 704.104 sinh viên mới và có 99.476 sinh viên tốt nghiệp. Sinh viên ngoại tỉnh chiếm khoảng 40% (trên 200.000 sinh viên). Bối cảnh này biến thành phố thành không gian hội tụ nguồn nhân lực trẻ lớn nhất cả nước, tạo sức ép lên hạ tầng đô thị nhưng đồng thời cung cấp lực lượng lao động dồi dào cho các thành phần kinh tế.

Chương 3: Thực trạng cuộc sống của sinh viên nhập cư tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 sử dụng dữ liệu khảo sát từ 300 sinh viên đang học tập tại 5 trường đại học để phản ánh diện mạo đời sống sinh viên ngoại tỉnh:

  • Địa bàn xuất cư: Tập trung chủ yếu ở Nam Trung Bộ (29,6%), Tây Nam Bộ (26,1%), Đông Nam Bộ (25,8%), rất ít sinh viên đến từ các tỉnh phía Bắc. Tỷ lệ nữ chiếm 62,5%, nam chiếm 37,5%.
  • Nơi ở và sinh hoạt: Phần lớn sinh viên sống trong các phòng trọ độc lập tại các dãy nhà trọ hoặc phòng trọ chung chủ, điều kiện tiện nghi hạn chế.
  • Chi tiêu và làm thêm: Phần lớn sinh viên nhập cư phải đi làm thêm nhằm trang trải sinh hoạt phí hoặc tìm kiếm va chạm thực tế; các công việc làm thêm phổ biến gồm gia sư, phục vụ nhà hàng, bán hàng.
  • Hoạt động giải trí: Thời gian rảnh rỗi chủ yếu dành cho sử dụng internet, lướt mạng xã hội, nghe nhạc, xem phim hoặc chơi game; mức độ tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật bên ngoài ở mức thấp do rào cản chi phí.
  • Dự định tốt nghiệp: Đa số sinh viên thể hiện định hướng tìm kiếm việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi ra trường, tỷ lệ dự định quay về quê ngay khi nhận bằng chiếm tỷ lệ rất thấp (thể hiện qua Bảng 3-16 và Biểu đồ 3-1).

Chương 4: Điều kiện sống của sinh viên nhập cư sau tốt nghiệp quyết định ở lại làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương này phân tích dữ liệu khảo sát trên 350 sinh viên đã tốt nghiệp đại học đang ở lại thành phố:

  • Cơ cấu mẫu tốt nghiệp: Nữ giới chiếm 56,6%, nam giới chiếm 43,4%; xuất thân từ nông thôn chiếm 63,1%; vùng xuất cư chủ yếu là Nam Trung Bộ (23,1%), Đông Nam Bộ (21,1%, không tính TP.HCM) và Tây Nguyên (19,7%).
  • Việc làm và thu nhập: Khu vực kinh tế tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là nơi thu hút phần lớn sinh viên tốt nghiệp (Bảng 4-5). Tỷ lệ làm việc đúng chuyên ngành đào tạo chưa cao, một bộ phận đáng kể chấp nhận làm trái ngành hoặc công việc có yêu cầu chuyên môn thấp hơn bằng cấp. Mức thu nhập trung bình hàng tháng của nam giới có xu hướng cao hơn nữ giới (Bảng 4-6). Mức độ gắn bó công việc ở mức trung bình, lý do chuyển việc chủ yếu do thu nhập thấp hoặc môi trường không phù hợp (Bảng 4-2).
  • Điều kiện nhà ở và an sinh: Tỷ lệ sở hữu nhà riêng tại thành phố rất thấp (Bảng 4-11), đại bộ phận vẫn thuê phòng trọ hoặc ở chung với bạn bè, người thân. Khả năng tích lũy kinh tế sau khi chi trả chi phí sinh hoạt đắt đỏ còn hạn chế.
  • Đời sống gia đình và xã hội: Quan điểm về hôn nhân có sự thay đổi rõ rệt; nhiều người cho rằng cần có công việc và kinh tế ổn định mới kết hôn. Mức độ tham gia các tổ chức chính trị - xã hội tại nơi cư trú (tổ dân phố, đoàn thể) rất thấp do tính chất tạm trú và thời gian làm việc bận rộn. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, phần lớn đối tượng được khảo sát vẫn đánh giá cuộc sống đô thị mang lại nhiều cơ hội và hy vọng phát triển hơn quê nhà (Bảng 4-19, 4-20).

Chương 5: Những nhân tố tác động đến quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc của sinh viên nhập cư sau tốt nghiệp

Chương 5 phân tích định lượng và định tính nhằm giải thích các cơ chế tác động:

  • Cấp độ vi mô:
    • Mạng lưới xã hội: Luận án phát hiện tác động kép. Một mặt, mạng lưới xã hội tại thành phố (bạn bè, thầy cô, người thân di cư trước) đóng vai trò nâng đỡ thông tin tuyển dụng, nhà ở. Mặt khác, sự lỏng lẻo của mạng lưới xã hội ở quê nhà (Biểu đồ 5-2: quan điểm không về quê vì không có các mối quan hệ xã hội để xin việc) là nguyên nhân đẩy người học ở lại đô thị. Nghề nghiệp và địa vị của cha mẹ ở nông thôn đa phần làm nông nghiệp hoặc lao động tự do (Bảng 5-2), không có khả năng tạo dựng việc làm cho con tại địa phương.
    • Sự thích nghi lối sống đô thị: Quá trình 4 năm đại học làm thay đổi thói quen văn hóa. Môi trường đô thị với tính chất ẩn danh, tự do cá nhân, nhịp sống sôi động tạo nên sự tương thích với tâm lý giới trẻ. Nhiều người khẳng định không thể quay về quê vì đã quen với lối sống thành thị và ngại sự giám sát cộng đồng tại làng quê (Biểu đồ 5-6).
  • Cấp độ vĩ mô:
    • Sự chênh lệch phát triển kinh tế giữa đô thị và nông thôn (Bảng 5-9): Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng ngành nghề, đặc biệt là sự phát triển của khu vực dịch vụ và tư nhân, tạo ra xác suất tìm việc cao hơn hẳn các tỉnh.
    • Môi trường xã hội và dịch vụ công: Hệ thống y tế, cơ hội học lên cao, vui chơi giải trí và cơ sở hạ tầng của đô thị tạo ra lực hút mạnh.
    • Chính sách và thông tin việc làm: Sự thiếu minh bạch trong thi tuyển, tuyển dụng công chức, viên chức hoặc cơ hội việc làm hạn hẹp tại quê nhà (Biểu đồ 5-5) củng cố quyết định chọn ở lại thành phố của sinh viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận:

  • Bổ sung và làm sâu sắc khái niệm "di dân học tập" trong hệ thống lý thuyết xã hội học di dân tại Việt Nam. Luận án xác lập luận điểm cho rằng di dân học tập là một hình thái di dân đặc thù, bao gồm hai giai đoạn kế tiếp: di chuyển để tiếp cận giáo dục đại học và chuyển cư việc làm sau tốt nghiệp.
  • Mở rộng phạm vi tiếp cận lý thuyết mạng lưới xã hội: Chứng minh quyết định chuyển cư không chỉ chịu chi phối bởi mạng lưới hỗ trợ tại nơi đến, mà còn bị tác động trực tiếp bởi sự thiếu hụt mạng lưới xã hội hữu hiệu tại nơi xuất cư (thiếu quan hệ để tìm kiếm việc làm tại quê).
  • Khẳng định vai trò của các nhân tố phi kinh tế cấp độ vi mô, đặc biệt là "sự thích nghi lối sống đô thị", tính ẩn danh và nhu cầu tự do cá nhân như một động lực độc lập thúc đẩy quá trình tích hợp đô thị của lao động trẻ có học vấn.

Những đóng góp mới về thực tiễn:

  • Phác họa hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện về điều kiện ăn ở, việc làm, thu nhập, chi tiêu, kết hôn và mức độ tham gia xã hội của nhóm cử nhân nhập cư tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách tại các địa phương xuất cư và nhập cư.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với các địa phương nơi xuất cư: Cần cải cách cơ chế tuyển dụng lao động theo hướng công khai, minh bạch; xóa bỏ cơ chế tuyển dụng dựa trên quan hệ thân hữu; có chính sách ưu đãi thực chất về thu nhập, điều kiện làm việc để thu hút nguồn nhân lực trí thức trẻ quay về cống hiến, giảm thiểu tình trạng chảy máu chất xám từ nông thôn về các đại đô thị.
  • Đối với Thành phố Hồ Chí Minh và cơ quan quản lý vĩ mô: Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, từng bước dỡ bỏ các rào cản phân biệt giữa dân cư thường trú và tạm trú trong tiếp cận dịch vụ công; quy hoạch phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ cho người có thu nhập trung bình và người mới tốt nghiệp; xây dựng trung tâm hỗ trợ việc làm kết nối doanh nghiệp với sinh viên ra trường nhằm rút ngắn thời gian chuyển tiếp sang thị trường lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (lấy mẫu tích tiến tuyết lăn) đối với nhóm 350 sinh viên đã tốt nghiệp do hạn chế về khả năng lập khung mẫu tổng thể của người nhập cư sau tốt nghiệp rải rác trên toàn thành phố; do đó khả năng suy rộng cho toàn bộ quần thể mang tính chất tham khảo tương đối.
  • Phạm vi không gian nghiên cứu mới chỉ giới hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa có điều kiện khảo sát đối chứng tại các trung tâm đô thị lớn khác như Hà Nội, Đà Nẵng hay Cần Thơ.
  • Số lượng phỏng vấn sâu đối với nhóm sinh viên tốt nghiệp đã hồi cư về quê còn hạn chế (5 trường hợp phỏng vấn qua điện thoại) do rào cản tiếp cận thực địa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai các nghiên cứu so sánh liên đô thị giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế - giáo dục khác trong nước để kiểm chứng mức độ tác động của các biến số lối sống và mạng lưới xã hội.
  • Tiến hành các khảo sát dọc (longitudinal studies) theo dõi nhóm sinh viên từ khi tốt nghiệp đến các mốc thời gian 5 năm, 10 năm sau đó nhằm đánh giá biến động việc làm, mức độ thăng tiến và khả năng hồi cư theo chu kỳ đời sống.
  • Mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về nhóm thanh niên trí thức hồi cư để làm rõ các rào cản tái hòa nhập và hiệu quả của các chương trình thu hút nhân tài tại các địa phương.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Xã hội học, Nhân khẩu học, Quản lý công, Kinh tế lao động và Đô thị học: Luận án cung cấp mô hình thao tác hóa thang đo Likert 7 bậc kết hợp phân tích EFA và Cronbach's Alpha trong nghiên cứu hành vi chuyển cư; bảng hỏi điều tra cấu trúc chi tiết là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc thiết kế công cụ thu thập dữ liệu xã hội học thực nghiệm.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, việc làm và dân số (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Chi cục Dân số): Tham khảo các phát hiện về thời gian chuyển tiếp việc làm của cử nhân và những điểm nghẽn an sinh xã hội để điều chỉnh chính sách thị trường lao động thanh niên.
  • Chính quyền các tỉnh, thành phố nơi xuất cư: Dữ liệu về nguyên nhân không muốn về quê của sinh viên (đặc biệt là tính minh bạch tuyển dụng và môi trường làm việc) là căn cứ thực tiễn để xây dựng chính sách thu hút, sử dụng trí thức trẻ và hạn chế chảy máu chất xám địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu trường hợp và sử dụng kỹ thuật chọn mẫu nào? Luận án thực hiện khảo sát định lượng trên hai mẫu độc lập: mẫu $N = 350$ sinh viên nhập cư đã tốt nghiệp đại học từ năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh (chọn mẫu phi xác suất theo kỹ thuật lấy mẫu quả bóng tuyết - snowball sampling) và mẫu $N = 300$ sinh viên nhập cư đang học tập tại 5 trường đại học trên địa bàn (chọn ngẫu nhiên đơn giản, mỗi trường 60 sinh viên). Về định tính, tác giả phỏng vấn sâu 35 trường hợp (gồm sinh viên đang học, sinh viên tốt nghiệp ở lại và sinh viên tốt nghiệp đã về quê) kết hợp quan sát thực địa.

  2. Mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) rút ra được bao nhiêu nhóm nhân tố tác động đến quyết định ở lại thành phố và nhóm nào có hệ số tin cậy cao nhất? Phân tích EFA từ 25 biến quan sát (sau khi loại các biến có hệ số tải $< 0,5$) đạt hệ số $\text{KMO} = 0,879$, phương sai trích tích lũy đạt 72,9%. Tác giả xác lập 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng từ mạnh đến yếu: (1) Điều kiện, môi trường sống ($\text{Alpha} = 0,93$); (2) Điều kiện cơ hội việc làm, thu nhập ($\text{Alpha} = 0,89$); (3) Mạng lưới xã hội ($\text{Alpha} = 0,82$); (4) Phù hợp lối sống tại thành phố ($\text{Alpha} = 0,78$); (5) Thông tin, chính sách việc làm ($\text{Alpha} = 0,76$). Nhóm có hệ số tin cậy cao nhất là "Điều kiện, môi trường sống".

  3. Đặc điểm nhân khẩu và vùng xuất cư của mẫu sinh viên tốt nghiệp ở lại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao? Trong mẫu 350 sinh viên tốt nghiệp ở lại thành phố, nữ giới chiếm 56,6%, nam giới chiếm 43,4%. Về xuất thân, 63,1% đến từ khu vực nông thôn. Về địa lý, các vùng xuất cư chính gồm Nam Trung Bộ (23,1%), Đông Nam Bộ (21,1%, không tính TP.HCM) và Tây Nguyên (19,7%).

  4. Tại sao luận án khẳng định di dân học tập là quá trình "chuyển cư lần thứ hai"? Vì khác với người di cư lao động phổ thông chuyển dịch không gian một lần để tìm việc, người di dân học tập trải qua giai đoạn đầu là chuyển từ quê ra đô thị để học tập; sau khi kết thúc khóa học và tốt nghiệp đại học, họ đứng trước ngã rẽ lựa chọn cư trú mới: tiếp tục chuyển cư ở lại đô thị làm việc hoặc quay trở về nơi xuất phát. Quyết định ở lại thành phố làm việc lúc này chính là bước chuyển cư thứ hai mang tính tích hợp sâu sắc về nghề nghiệp và lối sống.

Kết luận

Luận án tiến sĩ xã hội học của tác giả Lê Sĩ Hải đã giải quyết câu hỏi nghiên cứu về các nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến quyết định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc của sinh viên nhập cư sau tốt nghiệp. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp khảo sát định lượng trên 350 cử nhân, 300 sinh viên đang học và 35 cuộc phỏng vấn sâu, công trình đã chứng minh quyết định ở lại không chỉ do động cơ kinh tế thuần túy mà còn chịu tác động kép từ mạng lưới xã hội và sự thích nghi lối sống tự do, năng động tại đô thị. Luận án đóng góp luận điểm khoa học về "di dân học tập" và "chuyển cư lần hai", đồng thời cung cấp các bằng chứng thực nghiệm giá trị phục vụ công tác quy hoạch dân số đô thị và hoạch định chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ tại các địa phương.