Luận án tiến sĩ vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở việt nam hiện nay

Khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất tại Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Chuyên ngành

CNDVBC & DVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

184
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Những công trình bàn về thực trạng và vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay

1.2. Những công trình bàn về các giải pháp phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam trong thời gian tới

1.3. Những vấn đề đặt ra luận án sẽ tiếp tục giải quyết

2. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Khoa học và công nghệ

2.2. Lực lượng sản xuất

2.3. Vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Khái quát quá trình nhận thức và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam từ năm 1986

3.2. Thực trạng vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam

3.3. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam

3.4. Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

4.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong công tác phát triển, ứng dụng KH&CN vào sản xuất

4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tư

4.3. Quan tâm đến đào tạo nghề, nhằm nâng cao năng lực thực hành cho người lao động, trong quá trình ứng dụng các thành tựu KH&CN vào phát triển lực lượng sản xuất hiện nay. Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tham gia quá trình toàn cầu hóa nhằm thu hút, chuyển giao KH&CN hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất

Khoa họccông nghệ đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất tại Việt Nam. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, ứng dụng công nghệ hiện đại giúp nâng cao năng suất lao động và cải thiện cơ cấu kinh tế. Công nghiệp hóahiện đại hóa là hai yếu tố chính được thúc đẩy bởi khoa họccông nghệ, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc áp dụng công nghệ thông tincông nghệ sinh học đã mang lại những thay đổi sâu sắc trong hệ thống sản xuất, giúp kinh tế Việt Nam phát triển bền vững.

1.1. Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ

Nghiên cứu khoa học là nền tảng cho việc phát triển công nghệ mới. Các công trình nghiên cứu về công nghệ năng lượngcông nghệ thông tin đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện hệ thống sản xuất. Ứng dụng công nghệ trong sản xuất không chỉ giúp tăng năng suất lao động mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Việc chuyển giao công nghệ hiện đại từ các nước phát triển cũng là một yếu tố quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất.

1.2. Chính sách công nghệ và đào tạo nhân lực

Chính sách công nghệ của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và ứng dụng công nghệ mới. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân lực chất lượng cao vẫn còn nhiều hạn chế. Để tận dụng tối đa tiềm năng của khoa họccông nghệ, cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tincông nghệ sinh học. Điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

II. Thực trạng và thách thức trong phát triển lực lượng sản xuất

Mặc dù khoa họccông nghệ đã mang lại nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển lực lượng sản xuất. Năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp so với các nước trong khu vực. Nguyên nhân chính là do sự lạc hậu trong hệ thống sản xuất và thiếu nhân lực chất lượng cao. Đổi mới công nghệ là yếu tố then chốt để giải quyết những thách thức này, nhưng cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ cả khu vực nhà nước và tư nhân.

2.1. Hạn chế trong ứng dụng công nghệ

Một trong những hạn chế lớn nhất là việc ứng dụng công nghệ chưa đồng bộ và hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến năng suất lao động thấp. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hỗ trợ từ chính sách nhà nước và sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong việc chuyển giao công nghệ hiện đại.

2.2. Thách thức trong đào tạo nhân lực

Đào tạo nhân lực là yếu tố quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tincông nghệ sinh học. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu.

III. Giải pháp phát huy vai trò của khoa học và công nghệ

Để phát huy vai trò của khoa họccông nghệ trong việc phát triển lực lượng sản xuất, cần có những giải pháp đồng bộ. Chính sách công nghệ cần được hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tincông nghệ sinh học. Việc hợp tác quốc tế cũng là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiếp cận với công nghệ hiện đại và nâng cao năng lực sản xuất.

3.1. Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là nền tảng cho việc phát triển công nghệ mới. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào các dự án nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ năng lượngcông nghệ sinh học. Điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trên trường quốc tế.

3.2. Hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ

Hợp tác quốc tế là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiếp cận với công nghệ hiện đại. Cần tăng cường hợp tác với các nước phát triển trong việc chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất và phát triển bền vững.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tư duy lại khoa học như nội dung của bản thân khoa học trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN hiện nay. Theo các tác giả, những thành tựu khoa học hiện nay cho thấy khoảng cách giữa khoa học và sản xuất dường như đã bị xóa nhòa; bản thân khoa học có thể dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và đôi khi chúng ta cũng không thể lường hết được tương lai của loài người trước sự phát triển của khoa học. Công trình “Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Hồng Lưu [88] không chỉ đề cập đến khoa học với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức, tồn tại dưới dạng lý luận, học thuyết khoa học, mà tác giả còn bàn đến quá trình vật chất hóa khoa học, tức kỹ thuật - công nghệ và nguồn nhân lực khoa học - công nghệ. Công trình “Luận điểm “khoa học trở thành LLSX trực tiếp” của Mác và sự vận dụng ở nước ta hiện nay” (2011) của Trần Khắc Hiếu [64].

Trong 9 công trình này tác giả nhấn mạnh đến tính đúng đắn của Mác khi Mác nhận định khoa học trở thành LLSX trực tiếp. Theo tác giả, cuộc cách mạng KH&CN hiện nay đang chứng minh cho tính đúng đắn nhận định của Mác. Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các nhà nghiên cứu đã đạt được, Luật KH&CN (2013) [87] đã khái quát: khoa học là một hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Công trình “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển LLSX của chủ nghĩa xã hội (CNXH)” của tác giả Nguyễn Chí Dũng (2017) [39, tr.47] đã chỉ ra rằng: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ hoàn thành vai trò lịch sử của nó - xây dựng và hoàn thiện LLSX tiên tiến, hiện đại, đặt cơ sở vững chắc cho chủ nghĩa cộng sản.

Công trình “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” của tác giả Klaus Schwad (2018) [77] đã khái quát sự phát triển của KH&CN thế giới trong gần hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Theo tác giả, nhân loại đang bước vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cho dù thuật ngữ “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” xuất hiện từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, nhưng trên thực tế nó đã bắt đầu từ những năm 2000, đặc trưng bởi sự hợp nhất, không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối internet (IoT) và các hệ thống kết nối internet (IoS).

Gắn liền với cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự hợp nhất các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật số và sinh học; giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối internet và các hệ thống kết nối internet. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư này đang làm thay đổi cách thức sản xuất, chế tạo. Từ những thành tựu của cách mạng công nghiệp lần 10 thứ tư dẫn đến sự hình thành các “nhà máy thông minh”. Trong “nhà máy thông minh” này, các máy móc, thiết bị được kết nối internet và liên kết với nhau qua một hệ thống để có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất và đưa ra quyết định sẽ thay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây.

Nhờ khả năng kết nối của hàng tỷ người trên trên thế giới thông qua các thiết bị di động cùng với khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu lớn, các tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi các đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, internet kết nối vạn vật, xe tự hành, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu mới. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là trong lĩnh vực sản xuất vật chất, đặc biệt là LLSX, làm cho LLSX mang những diện mạo mới với những công nghệ vượt trội, tạo ra năng suất lao động cao, giải phóng người lao động khỏi công việc nặng nhọc. Công trình “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm” của tác giả Phan Xuân Dũng (2018) [38] đã khái quát các cuộc cách mạng công nghiệp mà nhân loại đã trải qua. Theo tác giả cách mạng KH&CN là khái niệm về một giai đoạn phát sinh nhiều ý tưởng mới trong các ngành khoa học như vật lý, thiên văn, sinh học, giải phẫu học con người, hóa học,.

dẫn tới sự loại bỏ các học thuyết đã được đưa ra trước đó và đặt nền móng cho sự ra đời một nền khoa học hiện đại hơn. Cách mạng KH&CN là giai đoạn mà khi khoảng cách giữa khoa học, kỹ thuật và áp dụng kết quả của nó vào cuộc sống đã được rút ngắn đáng kể. Theo đó kỹ thuật biến thành công nghệ. Vì thế, khái niệm cách mạng KH&CN xuất hiện muộn hơn khái niệm cách mạng khoa học và kỹ thuật.

Cách mạng KH&CN mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (tr. Theo tác giả, hiện nay nhân loại đang bước vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công nghệ nền tảng và công nghệ ứng dụng là: Dữ liệu lớn, điện toán đám mây, các 11 robot có kết nối, internet kết nối vạn vật, công nghệ in 3D, máy móc tự động hóa, trí tuệ nhân tạo,. Những công nghệ này, một mặt là biểu hiện sự phát triển của LLSX, mặt khác nó là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của LLSX và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, những công trình trên đã làm rõ nhiều vấn đề mang tính lý luận về chung về KH&CN như: Khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ, mối quan hệ biện chứng giữa KH&CN, sự phát triển của cuộc cách mạng KH&CN hiện nay.

Trên cơ sở phân tích, chọn lọc và kế thừa, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hóa, góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề mang tính chất lý luận chung về KH&CN. Những công trình nghiên cứu lý luận về LLSX Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận về LLSX. Tác giả Hồ Anh Dũng (2002) trong công trình công trình “Phát huy yếu tố con người trong LLSX ở Việt Nam hiện nay” [35] cho rằng: LLSX biểu hiện mối quan hệ con người với giới tự nhiên, biểu hiện năng lực chinh phục tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. LLSX là một thể thống nhất hữu cơ yếu tố người và yếu tố các sự vật, trong đó con người đóng vai trò quyết định.

Con người là chủ thể tích cực, sáng tạo, biết vận dụng tri thức khoa học, chuyên môn, kỹ năng để chế tạo, cải biến và sử dụng các tư liệu lao động. Công cụ lao động là yếu tố năng động nhất tác động vào đối tượng tự nhiên, cải tạo chúng nhằm tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của xã hội. LLSX luôn được kế thừa và phát triển. Tác giả phân tích các yếu tố của LLSX theo ba quan điểm: Thứ nhất, LLSX gồm yếu tố con người và các phương tiện lao động; thứ hai, yếu tố con người, các phương tiện lao động, đối tượng lao động; thứ ba, yếu tố con người, các phương tiện lao động, đối tượng lao động, khoa học và quản lý sản xuất.

Các quan điểm trên, xem xét số lượng 12 các yếu tố có khác nhau nhưng đều khẳng định yếu tố con người trong LLSX, vai trò của con người trong điều kiện của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại. Sau khi phân tích các quan điểm trên tác giả kết luận: LLSX có hai yếu tố là yếu tố con người sản xuất, yếu tố các sự vật, vật chất của sản xuất, hay là yếu tố vật thể của LLSX. Mỗi yếu tố đặt trong mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Công trình “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”của Nguyễn Hữu Dũng (2003) [36] đã khái quát một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan đến phát triển và sử dụng nguồn lực lao động, nhân tố quan trọng nhất cấu thành LLSX.

Đồng thời, tác giả giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề sử dụng nguồn lực con người, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy và sử dụng nguồn lực con người với mục đích phát triển LLSX. Tác giả Hồ Bá Thâm (2004) trong công trình “Động lực và tạo động lực phát triển xã hội” [119] đã phân tích nhân tố con người trong LLSX; khẳng định việc phát huy nhân tố con người với tính cách là yếu tố cấu thành LLSX bao gồm cả đạo đức, sức khỏe, lợi ích, sức lao động, tri thức, tay nghề và kinh nghiệm. Người lao động tác động vào tự nhiên và xã hội bằng sức mạnh vật chất có ý thức, nhưng động lực chi phối bắt nguồn từ các yếu tố cấu thành, vì vậy phát huy vai trò người lao động trong LLSX cần quan tâm đến các nhân tố từ thể lực đến trí lực và tâm lực. Công trình “Về khái niệm LLSX và trình độ của LLSX”, Nguyễn Đức Luận (2011), [83, 61-68].

Trong công trình này, tác giả đã sử dụng nguồn tư liệu rất phong phú để phân tích, rút ra khái niệm LLSX và các biểu hiện về trình độ của LLSX. Theo tác giả, LLSX là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, được tạo thành từ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu 13 sản xuất trong quá trình chinh phục, cải tạo tự nhiên, thực hiện việc sản xuất xã hội. Bằng những lập luận thuyết phục, tác giả chỉ ra rằng, trình độ của LLSX biểu hiện qua các yếu tố cấu thành nó; biểu hiện qua tính chất của nó; biểu hiện qua sự phân công lao động xã hội và biểu hiện qua việc ứng dụng khoa học vào sản xuất. Nhìn chung, công trình này đã phân tích khá chi tiết quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về LLSX.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất tại Việt Nam" khám phá tầm quan trọng của khoa học và công nghệ trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Nó nhấn mạnh rằng việc áp dụng các công nghệ tiên tiến không chỉ giúp cải thiện quy trình sản xuất mà còn thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững trong nền kinh tế. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Hcmute nghiên cứu áp dụng hệ thống quản lý năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại việt nam, nơi bàn về việc quản lý năng lượng hiệu quả trong sản xuất. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại khu di tích lịch sử tân trào tỉnh tuyên quang đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho phát triển bền vững cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khung pháp lý hỗ trợ cho sự phát triển bền vững trong sản xuất. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế.