Tổng quan luận án

Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, nắm quyền thống trị trên một lãnh thổ thống nhất hoàn chỉnh trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau sau khi đánh thắng triều Tây Sơn vào năm 1802. Để quản lý một quốc gia rộng lớn sau nhiều năm nội chiến chia cắt, các vị vua đầu triều gồm Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị (trị vì từ năm 1802 đến năm 1847) đã kế thừa kinh nghiệm trị quốc của các triều đại phong kiến đi trước, đặc biệt là thời kỳ Lê sơ, đồng thời tiến hành tái độc tôn Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống và kết hợp linh hoạt giữa tư tưởng đức trị với pháp trị thông qua bộ Hoàng Việt luật lệ. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử chính trị, kinh tế, xã hội triều Nguyễn, song tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều dưới góc độ triết học vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống. Nhiều ý kiến nghiên cứu trước đây từng đồng nhất tư tưởng trị nước với việc "trị quan", hoặc đánh giá còn mang tính một chiều. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đáp ứng yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận lịch sử tư tưởng lẫn thực tiễn cải cách hành chính, quản lý xã hội và phòng chống tham nhũng hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn; từ đó chỉ ra những giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng đường lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Thứ nhất: Phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
    • Thứ hai: Trình bày hệ thống nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị trên các phương diện tư tưởng chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước và các chính sách quản lý cụ thể.
    • Thứ ba: Chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo cứu tư tưởng trị nước thể hiện qua các tác phẩm, chiếu, chỉ, dụ của vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị từ năm 1802 đến năm 1847, các bộ sử của triều Nguyễn (đặc biệt là các ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn), cùng các công trình nghiên cứu liên quan của các học giả trong và ngoài nước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu phong phú liên quan đến triều Nguyễn và tư tưởng trị nước đầu thế kỷ XIX, phân thành ba nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và thể chế:

  • Các bộ thông sử và giáo trình lịch sử: Lịch sử Việt Nam (thế kỷ XIX) do GS. Nguyễn Khánh Toàn chủ biên; Lịch sử cận đại Việt Nam (tập 1, 1960) của Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự; Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập III, 1965) của Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm; Lịch sử Việt Nam (tập II, 2003) do Phan Huy Lê chủ biên; và bộ sách 15 tập Lịch sử Việt Nam (tập 5, 2017) do PGS. Trần Đức Cường tổng chủ biên. Các công trình này phân tích quá trình củng cố quyền lực, tổ chức bộ máy cai trị gọn nhẹ từ thời Gia Long đến Minh Mệnh, cũng như những hạn chế trong quan hệ sản xuất phong kiến.
  • Các công trình chuyên khảo về bộ máy nhà nước, kinh tế và luật pháp: Luận án Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 - 1847 (1962) của Nguyễn Sĩ Hải nghiên cứu cơ quan giám sát và chính quyền trung ương; Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (1971) của Nguyễn Thế Anh khảo sát thương nghiệp, thuế khóa và ngoại thương; Lịch sử Việt Nam từ năm 1427 đến 1858 (1971) và Việt Nam thế kỷ XIX (1999) của Nguyễn Phan Quang; Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1858 (1993) của Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn đề cập việc đào tạo, sử dụng quan chức và tệ nạn tham nhũng; Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn (1996) của Trần Thanh Tâm; Quốc sử quán triều Nguyễn - từ góc độ văn hóa (2000) của Trần Vũ Tài; các công trình của Huỳnh Công Bá về pháp chế bảo vệ phụ nữ (2001), tài sản hôn nhân (2002) và Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn (1802 - 1885) (2016).
  • Các công trình nghiên cứu của học giả quốc tế và nghiên cứu chuyên đề: Công trình so sánh quy mô Việt Nam và hình mẫu Trung Hoa nghiên cứu so sánh về chính quyền dân sự nhà Nguyễn và nhà Thanh nửa đầu thế kỷ XIX (1971) của Alexander Barton Woodside; các bài báo và công trình của Đỗ Bang về chính sách ngoại thương (1996), Tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884 (1997), Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn (1997); nghiên cứu của Trần Nam Tiến (2012) về vấn đề đạo Thiên chúa trong bang giao với phương Tây.

Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng của các vị vua đầu triều Nguyễn:

  • Nghiên cứu về cải cách và tư tưởng của vua Minh Mệnh: Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1996) và bài viết Vua Minh Mạng với tư tưởng "củng cố nền thống nhất quốc gia" (2007) của Nguyễn Minh Tường; Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh (2011) của Bùi Huy Khiên; Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mạng (2002) của Nguyễn Hoài Văn; bài viết của Phan Quốc Khánh (2004) phân tích tư tưởng kết hợp Nho - Pháp và nguyên nhân dẫn đến các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mệnh; bài viết của Phan Thị Thu Hằng (2012) điểm luận tình hình nghiên cứu vua Minh Mệnh; nghiên cứu ấn chương hành chính của PGS. Nguyễn Công Việt (2013); bài viết về tư tưởng đạo đức vua Minh Mệnh (2015) của PGS. Lê Thị Lan.
  • Nghiên cứu về tư tưởng triết học và vua Gia Long: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám (tập 1, 1996) của GS. Trần Văn Giàu; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập II, 1997) do Lê Sỹ Thắng chủ biên; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX (2013) do PGS. Doãn Chính chủ biên; Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (2016) do Nguyễn Tài Đông chủ biên; bài viết về đặc trưng triết học nửa đầu thế kỷ XIX (2015) và Tư tưởng trị nước của vua Gia Long (2016) của PGS. Lê Thị Lan.

Nhóm nghiên cứu về giá trị, hạn chế và vai trò Nho giáo:

  • Tác phẩm kinh điển Nho giáo (thập niên 1930) của Trần Trọng Kim; công trình của Quang Đạm, Lê Sỹ Thắng; tác phẩm phê phán Nho học và Nho học ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn (1997) của GS. Nguyễn Tài Thư; công trình Đạo đức Nho giáo với đạo đức Việt Nam hiện nay (2018) của PGS. Nguyễn Thanh Bình; bài viết về chế tài điều tiết cực quyền (2007) của Đỗ Bang; bài viết về tái độc tôn Nho giáo (2014) của Trần Việt Thắng; cùng kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia năm 2002 tại Trường Đại học Sư phạm và Hội thảo năm 2008 tại Thanh Hóa về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận từ góc độ sử học thuần túy, luật học hoặc chỉ đi sâu vào từng chính sách, từng cá nhân vị vua riêng biệt (chủ yếu là vua Minh Mệnh), đồng thời tồn tại sự phân hóa rõ rệt giữa hai luồng quan điểm: phủ nhận hoàn toàn hoặc nhìn nhận chưa đầy đủ bối cảnh lịch sử. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: hệ thống hóa và phân tích một cách tổng thể, chỉnh thể tư tưởng trị nước của cả ba vị vua đầu triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) dưới góc độ triết học duy vật lịch sử, làm sáng tỏ sự kết hợp giữa hệ tư tưởng Nho giáo với pháp luật thực định, chỉ ra cả giá trị lẫn hạn chế nội tại và đúc kết các bài học lịch sử cho công cuộc xây dựng nhà nước hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết: Luận án dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trọng tâm là lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội biểu hiện qua sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, cùng quy luật tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội (chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo). Luận án cũng dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân để phân tích, đánh giá giá trị, hạn chế và bài học lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án thuộc thể loại nghiên cứu định tính trong lĩnh vực lịch sử tư tưởng triết học, sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Khảo sát các chiếu dụ, điều luật, sự kiện lịch sử để phân tích các thành tố trong đường lối trị nước, sau đó tổng hợp thành hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh.
    • Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử: Xem xét tư tưởng trị nước gắn liền với tiến trình vận động cụ thể của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, bảo đảm tính chân thực lịch sử và tính khái quát lý luận.
    • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu giữa các giai đoạn trị vì của Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị; so sánh mô hình thể chế nhà Nguyễn với mô hình nhà Lê sơ và nhà Thanh (Trung Quốc).
  • Nguồn tư liệu: Các văn bản, chiếu, chỉ, dụ của vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị ban hành trong giai đoạn 1802 - 1847; bộ luật Hoàng Việt luật lệ; các bộ sử liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn; các văn kiện chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; cùng hệ thống sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án

Chương này phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoài nước về triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX. Tác giả chỉ ra sự tồn tại của hai khuynh hướng đánh giá lịch sử đối lập: khuynh hướng phê phán nặng nề, coi triều Nguyễn là giai đoạn suy thoái, kìm hãm sự phát triển xã hội; và khuynh hướng khách quan, khoa học hơn (đặc biệt sau hội thảo năm 2008) ghi nhận công lao thống nhất bờ cõi và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước. Trên cơ sở phân tích khoảng trống học thuật, chương 1 xác lập cơ sở khoa học để luận án nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng trị nước của ba vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị dưới góc độ triết học.

Chương 2: Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vua đầu triều Nguyễn

Chương này tái hiện bức tranh toàn diện về điều kiện lịch sử và tiền đề hình thành tư tưởng trị quốc:

  • Tình hình chính trị, hành chính và quan chế: Sau thắng lợi năm 1802, vua Gia Long chọn Phú Xuân làm quốc đô, phân chia lãnh thổ thành Bắc Thành (11 trấn, do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đứng đầu), Gia Định Thành (5 trấn, do Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân và sau đó là Lê Văn Duyệt đứng đầu), và các trấn miền Trung do triều đình trực tiếp cai quản. Giai đoạn 1831 - 1832, vua Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính quy mô lớn, bãi bỏ hai tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Đến năm 1840, hệ thống hành chính cả nước được thống kê chi tiết theo bảng sau:
Cấp hành chính Số lượng đơn vị (năm 1840) Chức năng và quan chức quản lý chính
Tỉnh và Phủ trực thuộc 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên Tổng đốc (quản lý 2-3 tỉnh), Tuần phủ (quản lý 1 tỉnh)
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 2 ti trực thuộc mỗi tỉnh Bố chính sứ ti (quản lý tài chính, đinh điền), Án sát sứ ti (quản lý tư pháp, hình luật)
Phủ / Phân phủ 90 phủ, 20 phân phủ Cấp hành chính trung gian giám sát các huyện
Huyện / Châu 379 huyện (và các châu miền núi) Quản lý trực tiếp cơ sở, do Tri huyện/Tri châu hoặc Thổ tri châu, Thổ tri huyện điều hành
Tổng 1.742 tổng Cấp trung gian liên kết cụm làng xã
Xã, thôn, phường, ấp 18.265 đơn vị Cơ sở làng xã trực tiếp thu thuế, quản lý ruộng đất công và đinh tráng

Để ngăn ngừa nạn lạm quyền, triều đình thực thi lệ "Tứ bất": không đặt tể tướng, không phong hoàng hậu, không lấy trạng nguyên trong thi cử, và không phong tước vương cho người ngoài họ tôn thất. Tại miền núi, năm 1829 Minh Mệnh bãi bỏ chế độ thế tập của thổ ti, cử Thổ tri châu, Thổ tri huyện và áp dụng chế độ lưu quan tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Về tuyển dụng, triều đình tổ chức thi Hương (1807), thi Hội (1822); ban hành các đạo dụ nghiêm trị tệ tham nhũng của lại dịch (dụ năm 1811 của Gia Long, chỉ dụ năm 1827 của Minh Mệnh).

  • Đường lối đối nội và luật pháp: Thực hiện đường lối "ngoại Nho, nội Pháp". Năm 1811, Gia Long sai Nguyễn Văn Thành biên soạn luật mới; năm 1813 ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) gồm 22 quyển, 398 điều. Bộ luật kết hợp giữa luật Hồng Đức và luật nhà Thanh, lược bỏ một số hình phạt hà khắc của nhà Thanh đối với tội xử tử, hối lộ và phụ nữ mang thai, đồng thời giữ nghiêm các chế tài trừng trị phản nghịch và tham quan.

  • Tình hình quân sự: Quân đội được tổ chức thành Thân binh, Cấm binh, Tinh binh/biền binh và thuộc binh. Số liệu về trang bị và tổ chức quân sự được tổng hợp như sau:

Tiêu chí quân sự Dữ liệu lịch sử ghi nhận trong luận án
Đúc súng thời Gia Long (1802 - 1819) Chế tạo 1.440 cỗ súng các loại (Thần uy vô địch, Chấn uy, Thảo nghịch, Bình ngụy, Vũ uy, Hùng uy, Thắng uy, Đằng uy, Phá địch)
Cơ sở sản xuất thời Minh Mệnh Lập thêm 6 xưởng đúc vũ khí mới (1825); xưởng Phường Đúc (Huế) có 8.000 thợ; xưởng đóng tàu có 8.000 người
Trang bị phòng thủ Kinh thành Huế Bố trí 404 khẩu đại bác bảo vệ kinh đô
Huấn luyện tác chiến Minh Mệnh lần đầu tổ chức huấn luyện hợp đồng tác chiến giữa bộ binh và thủy binh; mở các khoa thi võ định kỳ tuyển chọn quan võ
Thời hạn binh dịch 10 năm (đối với binh lính Nam Kỳ và từ Hà Tĩnh trở ra Bắc); 15 năm (đối với lính từ Quảng Bình đến Khánh Hòa); tuổi phục vụ tối đa là 50 tuổi
Thực trạng giai đoạn sau Tài chính kiệt quệ dẫn đến suy giảm: cứ 50 lính chỉ có 5 súng, mỗi năm tập bắn 1 lần (6 phát đạn), ngưng trệ đóng tàu máy
  • Quan hệ ngoại giao: Đối với nhà Thanh, thực hiện chính sách mềm dẻo, thần phục (năm 1802 cử Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn làm Phó sứ sang cầu phong; năm 1804 tiếp sứ Thanh phong vương tại điện Kính Thiên; định kỳ 4 năm sang cống một lần). Đối với phương Tây, triều đình thực thi chính sách "bế quan tỏa cảng", không thành lập bộ chuyên trách ngoại giao (giao bộ Lễ đảm nhiệm), khước từ thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Anh, Mỹ, Pháp và ban hành các chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa nghiêm ngặt.

  • Tình hình kinh tế:

    • Nông nghiệp: Lấy chính sách trọng nông làm căn bản. Năm 1804, vua Gia Long ban hành phép quân điền (quy định cấp 18 phần cho quý tộc vương tôn, 15 phần cho quan nhất phẩm, 3 phần cho dân nghèo; tái khẳng định năm 1831 và mở rộng cấp ruộng hưu trí năm 1839). Đẩy mạnh chính sách đồn điền và doanh điền (khởi xướng năm 1828 gắn liền với Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương). Chú trọng công tác đắp đê, trị thủy (chỉ dụ năm 1833 của Minh Mệnh).
    • Công thương nghiệp: Nhà nước độc quyền các ngành công nghiệp trọng điểm (Bắc Thành tiền cục lập năm 1803, đúc tiền kẽm năm 1812; thử nghiệm xe "Thủy hỏa kí tế" năm 1834; độc quyền khai thác mỏ vàng, bạc, đồng, chì). Thi hành chính sách "trọng nông ức thương", đánh thuế thuyền buôn tư nhân (1816), ngăn cấm nội thương tự do và giữ độc quyền ngoại thương thông qua các chuyến công cán buôn bán của triều đình sang Java, Xiêm, Mã Lai từ năm 1824.
  • Tình hình văn hóa, tư tưởng: Củng cố địa vị độc tôn của Nho giáo, ban hành "Mười điều huấn dụ", hạn chế xây dựng chùa chiền Phật giáo, Đạo giáo và ngăn cấm truyền bá đạo Thiên chúa.

Chương 3: Những nội dung tư tưởng trị nước cơ bản của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị

Chương này trình bày hệ thống quan điểm trị nước cốt lõi:

  • Xây dựng hệ tư tưởng chính trị: Xác lập Nho giáo làm bệ đỡ tư tưởng, sử dụng các chuẩn mực tam cương, ngũ thường để duy trì trật tự xã hội và củng cố quyền lực tối thượng của vương quyền.
  • Tư tưởng về tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước: Thiết lập mô hình quân chủ trung ương tập quyền cao độ, tập trung mọi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vào tay nhà vua; hoàn thiện chế độ quan chế, khảo hạch, thanh tra giám sát và phân định rành mạch quyền hạn giữa trung ương và địa phương.
  • Hệ thống chính sách trị nước: Trình bày đồng bộ các chính sách kinh tế (quân điền, đồn điền, khuyến nông, kiểm soát công thương); an ninh - quốc phòng (xây dựng lực lượng quân sự chính quy, bố phòng bờ biển, biên cương); văn hóa - tư tưởng và giáo dục - khoa cử (chấn hưng Nho học, tổ chức thi cử định kỳ); chính sách tôn giáo (độc tôn Nho giáo, bài xích dị đoan và cấm đạo); cùng chính sách ngoại giao (thần phục phương Bắc, khép kín với phương Tây).

Chương 4: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay

  • Giá trị lịch sử: Khẳng định và củng cố nền thống nhất quốc gia, xác lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng hệ thống tổ chức hành chính khoa học, chặt chẽ; ban hành hệ thống luật pháp hoàn bị (Hoàng Việt luật lệ) kết hợp hài hòa giữa giáo hóa đạo đức (đức trị) và chế tài pháp luật (pháp trị); chú trọng kỷ cương công vụ và giám sát quan lại; mở rộng diện tích canh tác thông qua doanh điền và đồn điền.
  • Hạn chế lịch sử: Tính chất tập quyền chuyên chế cực đoan; tư tưởng kinh tế "trọng nông ức thương" kìm hãm kinh tế hàng hóa; tư tưởng Nho giáo bảo thủ ("nội Hạ ngoại Di", "tôn quân quyền") cùng chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo khắt khe đã cô lập đất nước, cản trở việc tiếp thu khoa học kỹ thuật phương Tây, làm suy giảm tiềm lực quốc phòng trước nguy cơ xâm lược.
  • Bài học lịch sử đối với hiện nay:
    1. Bài học về cải cách hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý nhà nước hiệu quả.
    2. Bài học về xây dựng nhà nước pháp quyền, kết hợp quản lý xã hội bằng pháp luật với phát huy chuẩn mực đạo đức.
    3. Bài học về kiểm soát quyền lực, tăng cường thanh tra, khảo hạch và kiên quyết phòng chống tệ nạn tham nhũng trong bộ máy công quyền.
    4. Bài học về phát triển kinh tế toàn diện, mở rộng giao thương quốc tế, hội nhập và nắm bắt khoa học kỹ thuật để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu ra ba đóng góp khoa học chính:

  1. Luận án làm rõ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong nửa đầu thế kỷ XIX với sự phân tích triết học về cách thức tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện luật pháp vì mục tiêu căn bản được xác định ngay từ đầu triều đại là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
  2. Làm rõ những giá trị, hạn chế của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo.
  3. Rút ra các bài học lịch sử từ những giá trị và hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất việc kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm lịch sử của triều Nguyễn trong việc tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, thực thi nghiêm minh chế độ khảo hạch quan lại, áp dụng cơ chế giám sát phòng chống tham nhũng, và kết hợp chặt chẽ giữa pháp trị với giáo dục đạo đức trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo cứu trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX (1802 - 1847) qua ba triều vua đầu tiên (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị), chưa bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử triều Nguyễn ở giai đoạn sau (từ thời vua Tự Đức trở đi khi đất nước đối đầu trực tiếp với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu tư tưởng trị nước của triều Nguyễn với các mô hình quân chủ phong kiến đồng thời ở khu vực Đông Á; nghiên cứu sâu hơn sự biến đổi của hệ thống pháp chế và tư tưởng chính trị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX dưới tác động của quá trình giao lưu văn hóa và xung đột chính trị với phương Tây.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các chuyên ngành Triết học (đặc biệt là chuyên ngành Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam), Lịch sử Việt Nam, Luật học và Khoa học quản lý hành chính công.
    • Giảng viên giảng dạy các học phần Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam.
    • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác cải cách hành chính, xây dựng pháp luật và phòng chống tham nhũng.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống tư liệu tổng quan toàn diện và đa chiều về lịch sử triều Nguyễn trong Chương 1.
    • Các dữ liệu lịch sử xác thực về tổ chức hành chính địa phương, quân chế và pháp luật thời kỳ Minh Mệnh trong Chương 2.
    • Khung phân tích triết học về mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị, cùng hệ thống bài học lịch sử đối với việc hoàn thiện thể chế nhà nước trong Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cuộc cải cách hành chính địa phương của vua Minh Mệnh được tổ chức với quy mô và phân cấp như thế nào? Vào năm 1831 - 1832, vua Minh Mệnh bãi bỏ hai tổng trấn (Bắc Thành và Gia Định Thành), chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Đến năm 1840, hệ thống hành chính gồm 90 phủ, 20 phân phủ, 379 huyện, 1.742 tổng và 18.265 xã, thôn, phường, ấp. Đứng đầu liên tỉnh là Tổng đốc (phụ trách 2-3 tỉnh) và đứng đầu tỉnh là Tuần phủ, dưới có Bố chính sứ ti và Án sát sứ ti hỗ trợ.

  2. Bộ luật "Hoàng Việt luật lệ" (Luật Gia Long) được ban hành khi nào và có đặc điểm cấu trúc ra sao? Bộ luật được vua Gia Long giao cho Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ trì biên soạn từ năm 1811 và chính thức ban hành năm 1813. Bộ luật gồm 22 quyển, 398 điều chia làm 2 phần (phần giới thiệu và phần nội dung), được biên soạn trên cơ sở tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhưng đã lược bỏ các quy định hà khắc của nhà Thanh về tội xử tử, hối lộ và phụ nữ mang thai.

  3. Lệ "Tứ bất" dưới triều Nguyễn quy định những điều gì? Lệ "Tứ bất" là quy định bất thành văn của triều đình nhà Nguyễn nhằm ngăn chặn sự lạm quyền và tập trung quyền lực tuyệt đối vào nhà vua, bao gồm: không đặt chức tể tướng, không phong hoàng hậu, không lấy đỗ trạng nguyên trong các kỳ thi cử, và không phong tước vương cho người ngoài họ tôn thất.

  4. Chính sách quân sự của các vị vua đầu triều Nguyễn có những đặc điểm nổi bật nào về tổ chức và vũ bị? Quân đội chia thành Thân binh, Cấm binh, Tinh binh/biền binh và thuộc binh. Thời Gia Long đã đúc 1.440 cỗ súng các loại. Thời Minh Mệnh lập thêm 6 xưởng đúc vũ khí (xưởng Phường Đúc có 8.000 thợ; xưởng đóng tàu có 8.000 người), trang bị 404 khẩu đại bác tại Kinh thành Huế, lần đầu huấn luyện hợp đồng tác chiến bộ binh - thủy binh và mở khoa thi võ định kỳ. Thời hạn nghĩa vụ quân sự là 10 năm hoặc 15 năm tùy địa phương, tuổi phục vụ tối đa là 50 tuổi.

  5. Triều Nguyễn đã thực thi những chính sách kinh tế nông nghiệp nào để phục hồi sản xuất? Nhà Nguyễn ban hành phép quân điền năm 1804 (tái khẳng định năm 1831, cấp ruộng hưu trí năm 1839) để chia ruộng đất công cho các tầng lớp từ quý tộc đến dân nghèo; đẩy mạnh lập đồn điền và tổ chức khai hoang theo hình thức doanh điền từ năm 1828 (với vai trò của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương); đồng thời thường xuyên cấp kinh phí tu bổ đê điều và trị thủy (chỉ dụ năm 1833).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nguồn đã nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) trong giai đoạn 1802 - 1847 dưới góc độ lịch sử tư tưởng triết học. Công trình đã làm rõ bối cảnh lịch sử, tiền đề tư tưởng, nội dung đường lối kết hợp giữa Nho giáo và pháp luật thực định trong việc tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ. Trên cơ sở đánh giá khách quan các giá trị củng cố nền thống nhất lãnh thổ cùng những hạn chế của chính sách bảo thủ, luận án đã rút ra các bài học lịch sử có ý nghĩa đối với công cuộc cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.