Luận án tiến sĩ về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam hiện nay, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

159
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

Luận án tiến sĩ tập trung vào trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXH)quyền con người (QCN) tại Việt Nam. Phần tổng quan đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nhấn mạnh sự thiếu hụt các nghiên cứu toàn diện về TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh đạo đức mà chưa chú trọng đến khía cạnh pháp lý. Luận án này đặt ra câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nhằm làm rõ mối quan hệ giữa TNXH và QCN, đồng thời đề xuất các giải pháp pháp lý để tăng cường TNXH của doanh nghiệp.

1.1. Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của TNXH

Khái niệm TNXH của doanh nghiệp được định nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, vượt ra ngoài nghĩa vụ kinh tế. Các nghiên cứu quốc tế như của Carroll (1979) và Freeman (1984) đã làm rõ các khía cạnh của TNXH, bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về TNXH còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào khía cạnh đạo đức và môi trường, chưa đề cập sâu đến QCN.

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu

Các nghiên cứu trước đây về TNXH và QCN tại Việt Nam còn thiếu tính hệ thống và chưa đưa ra được các giải pháp pháp lý cụ thể. Luận án này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách kết hợp lý luận và thực tiễn, đánh giá toàn diện thực trạng TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN.

II. Những vấn đề lý luận về TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN

Chương này làm rõ các khía cạnh lý luận về TNXH của doanh nghiệp và mối quan hệ với QCN. Luận án định nghĩa TNXH là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, bao gồm cả trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Các tiêu chí đánh giá TNXH được đề xuất, bao gồm việc tuân thủ pháp luật, đóng góp cho cộng đồng và bảo vệ môi trường. Luận án cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TNXH, như chính sách nhà nước, văn hóa doanh nghiệp và áp lực từ các bên liên quan.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của TNXH

TNXH của doanh nghiệp được định nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, bao gồm cả trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Các đặc điểm chính của TNXH bao gồm tính tự nguyện, tính hệ thống và tính đa chiều. Luận án nhấn mạnh rằng TNXH không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp.

2.2. Tiêu chí đánh giá TNXH

Các tiêu chí đánh giá TNXH của doanh nghiệp bao gồm việc tuân thủ pháp luật, đóng góp cho cộng đồng và bảo vệ môi trường. Luận án đề xuất một khung đánh giá toàn diện, kết hợp cả yếu tố định tính và định lượng, để đo lường hiệu quả của TNXH trong bảo đảm QCN.

III. Thực trạng TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN tại Việt Nam

Chương này phân tích thực trạng TNXH của doanh nghiệp tại Việt Nam, tập trung vào hai lĩnh vực chính: lao động và môi trường. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù đã có nhiều tiến bộ, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện TNXH, đặc biệt là trong việc bảo đảm QCN. Các vấn đề như vi phạm quyền lao động, ô nhiễm môi trường và thiếu minh bạch trong hoạt động kinh doanh vẫn còn phổ biến.

3.1. Thực trạng trong lĩnh vực lao động

Thực trạng TNXH của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động tại Việt Nam còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc vi phạm quyền lao động, sử dụng lao động trẻ em và không đảm bảo an toàn lao động. Luận án chỉ ra rằng, các quy định pháp luật về lao động chưa được thực thi hiệu quả, dẫn đến nhiều vi phạm nghiêm trọng.

3.2. Thực trạng trong lĩnh vực môi trường

Trong lĩnh vực môi trường, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa thực hiện tốt TNXH, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Luận án nhấn mạnh sự thiếu hụt trong việc thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như sự thiếu ý thức của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường.

IV. Quan điểm và giải pháp tăng cường TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN

Chương cuối cùng của luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường TNXH của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN tại Việt Nam. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và tăng cường giám sát của nhà nước. Các giải pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng các tiêu chuẩn TNXH, tăng cường đào tạo và nâng cao ý thức của doanh nghiệp.

4.1. Quan điểm tăng cường TNXH

Luận án đề xuất các quan điểm nhằm tăng cường TNXH của doanh nghiệp, bao gồm việc coi TNXH là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp. Các quan điểm này nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp giữa trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong hoạt động kinh doanh.

4.2. Giải pháp tăng cường TNXH

Các giải pháp cụ thể được đề xuất bao gồm việc hoàn thiện pháp luật, tăng cường giám sát của nhà nước và nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về TNXH. Luận án cũng đề xuất việc xây dựng các tiêu chuẩn TNXH phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Chương 3: Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của luận án 1.

Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - TNXH của DN (Corporate Social Responsibility) được biết đến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hiện nay. Theo hiểu biết chung, các doanh nghiệp hiện đại có trách nhiệm với xã hội vượt quá nghĩa vụ của họ đối với cổ đông hoặc nhà đầu tư trong công ty để thiết lập một định nghĩa rõ ràng đã thỏa thuận. Mặc dù nó không phải là một khái niệm mới, TNXH của DN vẫn là một ý tưởng mới, khó nắm bắt đối với các học giả, và là vấn đề gây tranh cãi cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan của họ do phạm vi của các định nghĩa rất rộng và cách sử dụng thuật ngữ khác nhau. Đề cập nhiều đến khái niệm về TNXH của DN phải kể đến một số tác giả sau: Freeman [64]; Crane và Matten [56]; Welford [103]; Habisch và Jonker [65].

Tuy nhiên, khái niệm về TNXH của DN được xem là xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1950 (Carroll [52]; Freeman [64]; Carroll và Beiler [50]; Sturdivant [95]). “Social Responsibilities of the Businessman” (1953) (Trách nhiệm xã hội của doanh nhân) của Bowen, H.R là cuốn sách mà trong đó Bowen lần đầu tiên đưa ra khái niệm về trách nhiệm xã hội nhằm mục đích tuyên truyền người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác và kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Định nghĩa của Bowen tạo ra một cuộc thảo luận sâu sắc về TNXH của DN trong nửa đầu thế kỷ 20. Trong cuốn A Three Dimensional Conceptual Model of Corporate Performance (1979) - (Mô hình khái niệm ba chiều về hiệu suất xã hội doanh nghiệp) của Carroll, A.B đưa ra mô hình khái niệm trong đó mô tả toàn diện các khía cạnh thiết yếu của hoạt động xã hội của doanh nghiệp, đồng thời, giải đáp các câu hỏi: (1) TNXH của DN bao gồm những thành phần nào? (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào (3) Mô hình của tổ chức đáp ứng xã hội là gì? Trong cuốn Measuring Corporate Social Responsibility: A Scale Development Study (Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nghiên cứu quy mô phát triển) (2008), Duygu Turker phân tích nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin 8 cậy của TNXH của DN, cho rằng nó phản ánh trách nhiệm của một doanh nghiệp với các bên liên quan khác nhau.

Trong ấn phẩm này, dữ liệu được thu thập từ 269 chuyên gia kinh doanh làm việc tại Thổ Nhĩ Kỳ. Các kết quả phân tích cung cấp một cấu trúc bốn chiều của TNXH của DN, bao gồm cả trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan, nhân viên, khách hàng, và chính phủ [57]. Sean Valentine, Gary Fleischman trong cuốn Ethics Programs, Perceived Corporate Social Responsibility and Job Satisfaction (Chương trình đạo đức, Nhận thức trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng về công việc) (2007) đã sử dụng thông tin khảo sát thu thập từ 313 chuyên gia kinh doanh để rút ra nhận định xem TNXH của DN là trung gian hòa giải các mối quan hệ tích cực giữa luật đạo đức và việc làm hài lòng các chủ thể liên quan. Kết quả chỉ ra rằng TNXH của DN hoàn toàn hoặc một phần làm trung gian tích cực liên kết giữa bốn biến của chương trình đạo đức và sự hài lòng công việc cá nhân, cho thấy rằng các công ty có thể tốt hơn nếu quản lý nhận thức đạo đức của nhân viên.

[94] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều cách hiểu khác nhau về TNXH của DN nhưng đều có điểm chung là xem TNXH của DN không chỉ vì lợi ích kinh tế mà hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, vì cộng đồng, vì xã hội. Tiêu biểu theo hướng này là Nguyễn Đình Cung, & Lưu Minh Đức (2009), trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” [5]; Hoàng Long, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007 [18]. Các tác giả này đã chứng minh tầm quan trọng của TNXH của DN với sự phát triển của doanh nghiệp trong xã hội. Cũng theo hướng này, khi bàn về vấn đề đạo đức và kinh doanh, tác giả Hồng Minh,“Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007, đã cho rằng: đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.

Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt [19]. Nguyễn Mạnh Quân, trong Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hội (2004) đưa ra quan niệm: đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp. [19] 9 Tại một nghiên cứu khác, GS.Phạm Văn Đức (2010) trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách”, Tạp chí Triết học số 2 [6] cho rằng, ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu theo định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân thuộc Ngân hàng thế giới.

Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam k t của doanh nghiệp đ ng g p vào việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua nh ng hoạt động nh m nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đ nh họ, cho cộng đ ng và toàn xã hội, theo cách c lợi cho cả doanh nghiệp c ng như phát triển chung của xã hội” Tác giả cũng đã cụ thể hóa đã cụ thể hóa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thành bốn yếu tố cấu thành, bao gồm sự bảo vệ môi trường, sự đóng góp cho cộng đồng xã hội, sự thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp, sự bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; sự quan hệ tốt với người lao động và sự đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp. Nghiên cứu về nh ng tiêu chuẩn quốc t và kinh nghiệm quốc gia về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Nghiên cứu về những tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm quốc gia về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN có thể được chia thành ba nhóm khác nhau: Nh m thứ nhất bao gồm các tài liệu tập trung vào đạo đức, triết học, chính trị và luật pháp. Số lượng nghiên cứu, quan điểm, tài liệu về các vấn đề này rất phong phú. Vì lý do này, tác giả chỉ chọn lọc đưa vào một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu cho luận án này như: Dworkin [58], Pogge [96], Mouffe [54].

Nh m thứ hai bao gồm các tài liệu về TNXH của DN nói chung và TNXH của DN và QCN. Trong nhóm này, mặc dù phần lớn tài liệu TNXH của DN nói chung cho đến nay hướng nhiều hơn đến các vấn đề môi trường hơn là các chi tiết cụ thể về QCN. Điều quan trọng cần đề cập trong lĩnh vực này tiêu biểu nhất là của Tiến sĩ Ruggie thực hiện trong nhiệm kỳ của ông là “Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về vấn đề nhân quyền và các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác”; tài liệu nghiên cứu bao gồm hàng nghìn trang có trên cổng thông tin điện tử: www. Bên cạnh đó, một nhóm nghiên cứu tiêu biểu khác do Clapham thực hiện trong cuốn sách “Nghĩa vụ nhân quyền của các tác nhân phi nhà nước” Clapham lập luận về trách nhiệm giải trình nhân quyền rộng hơn so với giả định trước đây rằng nhân quyền là mối quan tâm 10 duy nhất của các quốc gia.

Cuốn sách này cần phải được cập nhật thêm sau khi ban hành Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, nghiên cứu của Clapham vẫn cung cấp các quan sát rất phù hợp về các khía cạnh chung hơn và cũng bao gồm các quan sát có giá trị liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ quốc gia (NCP) do OECD thực hiện. Nghiên cứu gần đây và rất toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến TNXH của DN và QCN đã được Amao đưa ra trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Quyền con người và Pháp luật; Các tập đoàn đa quốc gia ở các nước đang phát triển” xuất bản năm 2011. Cuốn sách của Amao là một nỗ lực ấn tượng để giải quyết mối quan hệ giữa TNXH của DN và QCN từ góc độ pháp lý, nhưng cũng để phân tích kỹ lưỡng hơn về nền tảng học thuyết TNXH của DN cũng như cung cấp các nghiên cứu điển hình có liên quan.

Luận điểm của Amao là TNXH của DN sẽ không bao giờ có hiệu lực như một quy phạm pháp luật trừ khi các cơ chế pháp lý cũng được áp dụng ở cấp quốc gia [46]. Đáng chú ý là mặc dù xuất bản gần đây, cuốn sách của Amao không tính đến những phát triển mới liên quan đến Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc và sửa đổi hướng dẫn của OECD. Liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ Quốc gia (NCP), các báo cáo có giá trị cũng đã được OECD theo dõi và hình thành một mạng lưới dân sự xã hội phát hành trong suốt nhiều năm nhằm kiểm tra các hướng dẫn của OECD. Công việc của OECD đã được sử dụng làm nguồn cung cấp thông tin về quan điểm của xã hội dân sự quốc tế đối với toàn bộ hệ thống NCP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và quyền con người tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và quyền con người trong bối cảnh Việt Nam. Tài liệu này phân tích các yếu tố pháp lý, kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến việc thực thi CSR, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và hành động của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền con người. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách quan tâm đến sự phát triển bền vững và đạo đức kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, nghiên cứu về quản lý môi trường và trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực chất thải. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của KTN trong việc quản lý nợ công ở Việt Nam cung cấp góc nhìn về quản lý kinh tế và trách nhiệm công, trong khi Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam làm rõ mối liên hệ giữa chính sách kinh tế và phát triển bền vững. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh liên quan đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.