Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Tiểu thuyết V. Naipaul từ lí thuyết Đa văn hoá do nghiên cứu sinh Đinh Thị Lê thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Huy Bắc, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2022, thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài (mã số 9.42).

Về tính cấp thiết, nghiên cứu văn học từ các lí thuyết văn hóa là hướng tiếp cận khởi nguồn từ thập niên 1950 với trường phái Birmingham (Anh) và trường phái Frankfurt (Đức). Tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa cho phép giải mã các tầng bậc kí hiệu thẩm mĩ, bởi văn học phản ánh hiện thực thông qua bộ lọc của các giá trị văn hóa. V. Naipaul (1934–2018) là nhà văn Anh gốc Trinidad, được trao giải Nobel Văn học năm 2001, giải thưởng Booker (1971), danh hiệu Thập tự giá Ba Ngôi (1989) và tước hiệp sĩ Hoàng gia Anh (1990). Bản thân nhà văn là hiện thân của sự giao thoa đa văn hóa: sinh ra tại thuộc địa đồn điền Trinidad trong một gia đình Bàlamôn gốc Ấn Độ, học tập tại Đại học Oxford và định cư tại Anh. Sự kết hợp giữa văn hóa Caribe, truyền thống phương Đông và tư duy duy lí phương Tây tạo nên cảm quan văn học gắn liền với ý thức tìm kiếm bản ngã của chủ thể tha hương.

Về khoảng trống nghiên cứu, tại thời điểm tác giả triển khai luận án, ở Việt Nam mới chỉ có hai tác phẩm của V. Naipaul được dịch sang tiếng Việt là tiểu thuyết Khúc quanh của dòng sông và tập du kí Bước vào thế giới Hồi giáo, bên cạnh một số bài giới thiệu ngắn trên báo chí. Các tác phẩm của ông chưa từng được đưa vào chương trình giảng dạy đại học và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tiểu thuyết của V. Naipaul từ góc độ lí thuyết Đa văn hoá.

Luận án xác định các mục đích nghiên cứu cụ thể:

  • ❶ Giới thuyết lí thuyết Đa văn hoá; chứng minh tính đúng đắn và khả thi của lí thuyết Đa văn hoá trong nghiên cứu văn chương liên ngành nhằm giải mã các tầng nghĩa của văn bản.
  • ❷ Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết V. Naipaul từ các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế, kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó để chỉ ra những nét đặc trưng văn hóa trong sáng tác của tác giả.
  • ❸ Phân tích tính đa văn hoá trong tiểu thuyết của V. Naipaul ở bốn phương diện thi pháp học: không gian, thời gian, thế giới nhân vật và biểu tượng nghệ thuật.

Để thực hiện các mục đích trên, luận án đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu: xác lập cách hiểu thống nhất về khái niệm Đa văn hóa dựa trên ba mô hình văn hóa; khảo sát và thống kê các khuynh hướng nghiên cứu về tác giả trên thế giới và tại Việt Nam; vận dụng ba khung lí thuyết của Doreen Massey, Stuart Hall và Anders Hanberger để phân tích tác phẩm.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tiểu thuyết của V. Naipaul nhìn từ lí thuyết Đa văn hoá. Trong tổng số 15 cuốn tiểu thuyết của nhà văn, phạm vi khảo sát tập trung vào ba tác phẩm tiêu biểu ở ba giai đoạn sáng tác, sử dụng văn bản nguyên tác tiếng Anh:

  1. A House for Mr. Biswas (Một ngôi nhà dành cho ông Biswas, xuất bản năm 1961): Tác phẩm ghi nhận dấu mốc thành công lớn đầu tiên của tác giả, phản ánh đời sống cộng đồng di dân tại Trinidad.
  2. A Bend in the River (Khúc quanh của dòng sông, xuất bản năm 1979): Đại diện cho giai đoạn chín muồi về phong cách sáng tác ở tuổi 45, tái hiện bối cảnh châu Phi thời kỳ hậu thuộc địa.
  3. The Enigma of Arrival (Bí ẩn khi tới, xuất bản năm 1987): Tác phẩm tổng kết 35 năm cầm bút của nhà văn, thể hiện sự chiêm nghiệm về nghề viết và cuộc sống lưu trú tại nước Anh.
Tác phẩm khảo sát Năm xuất bản Không gian / Bối cảnh chính Giai đoạn văn nghiệp
A House for Mr. Biswas 1961 Xã hội thuộc địa Trinidad Dấu mốc thành công bước đầu
A Bend in the River 1979 Thị trấn ven sông tại châu Phi Giai đoạn sáng tác chín muồi
The Enigma of Arrival 1987 Nông thôn Wiltshire, nước Anh Tổng kết 35 năm trải nghiệm sáng tác

Phạm vi nội dung của luận án giới hạn trong việc phân tích bốn yếu tố thi pháp: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, cấu trúc thế giới nhân vật và hệ thống biểu tượng.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ghi nhận đóng góp từ phê bình văn hóa lịch sử của Hippolyte Taine với ba nhân tố chủng tộc, môi trường và thời điểm. Phong trào nghiên cứu văn hóa phát triển qua trường phái Birmingham với Richard Hoggart, Stuart Hall và trường phái Frankfurt, cùng các nghiên cứu kí hiệu học của Roland Barthes. Luận án khảo cứu Lí thuyết đa hệ thống (Polysystem theory) của Itamar Even-Zohar (Đại học Tel Aviv) và Edwin Gentzler; tuy nhiên, tác giả không chọn lí thuyết này làm khung nghiên cứu chính vì quan điểm của Even-Zohar thiên về cơ chế chọn lọc, chuẩn mực dịch thuật và mô thức tư duy hướng đối tượng, trong khi Đa văn hoá thuộc về đặc tính cấu trúc bản chất của văn hóa. Ở Việt Nam, hướng tiếp cận văn hóa được thể hiện qua các công trình của Đỗ Lai Thúy, Trương Tửu, Nguyễn Huệ Chi, Lê Nguyên Cẩn, Trần Nho Thìn, Nguyễn Linh Chi, Thái Phan Vàng Anh và Lê Huy Bắc.

Về khái niệm đa văn hóa, thuật ngữ xuất hiện lần đầu trên tờ New York Herald Tribune (1941), đi vào Báo cáo sơ bộ của Ủy ban Hoàng gia Canada (1965) và được hiến pháp hóa năm 1982. Luận án xác định ba tiền đề hình thành chủ nghĩa Đa văn hóa: phong trào đấu tranh dân chủ, làn sóng di cư quốc tế (số liệu Liên Hợp Quốc giai đoạn 1990–2015 cho thấy người di cư tại châu Âu tăng 1,55 lần, đạt hơn 76 triệu người) và xu hướng toàn cầu hóa. Hai hướng tiếp cận khái niệm chính gồm: góc nhìn xã hội học mô tả sự chung sống tôn trọng lẫn nhau giữa các nhóm sắc tộc (Craig Calhoune, Tariq Modood, IFLA) và góc nhìn chính trị nhấn mạnh quyền lợi của các nhóm thiểu số bên lề (Bách khoa toàn thư Britannica, Appiah, Goldberg, Nieto). Luận án cũng tiếp thu quan điểm giải trung tâm từ công trình Đông phương luận của Edward Said và vấn đề chấn thương tha hương trong chuyên khảo Sự lạc lõng và đa văn hóa của Jasbir Jain.

Về tình hình nghiên cứu V. Naipaul, tại Việt Nam tư liệu còn rất hạn chế, chỉ gồm các bài viết trên báo Văn nghệ quân đội (13/08/2018), báo điện tử Đà Nẵng, VnExpress và bản dịch bài diễn từ nhận giải T.S. Eliot mang tên Làm nhà văn của Nguyễn Huy Hoàng (Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 903, tháng 10/2018).

Trên trường quốc tế, theo cơ sở dữ liệu Questia, tính đến tháng 12/2020 có 724 cuốn sách, 877 bài báo chuyên ngành và 3 mục từ điển bách khoa về V. Naipaul. Lịch sử nghiên cứu được chia làm ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1950–1970: Xuất hiện các tác phẩm đầu tay như The Mystic Masseur (1957), The Suffrage of Elvira (1958), Miguel Street (1959); các nghiên cứu dừng lại ở mức độ điểm sách ngắn.
  • Giai đoạn 1970–2000: Bắt đầu có chuyên khảo hệ thống, mở đầu bằng công trình của Paul Theroux (1972), tiếp đến là Bruce King (1993), Michael Thorpe (1976), Selwyn Reginald Cudjoe (1988) và bài báo của Tarantino (1998). Thời kỳ này xuất hiện luồng ý kiến trái chiều: giới phê bình phương Tây đánh giá cao tính khách quan, trong khi một số nhà phê bình từ các nước đang phát triển xem tác giả là người bi quan hoặc đứng về phía tân thực dân.
  • Giai đoạn từ 2000 đến nay: Sau giải Nobel năm 2001, các nghiên cứu mở rộng với công trình của Bruce King (tái bản bổ sung năm 2003), Dagmar Barnouw (2003), Ganjewar (2008).

Các công trình quốc tế được phân chia thành bốn nhóm khuynh hướng nghiên cứu chính:

  • Văn học hậu thuộc địa và văn học so sánh: Michael Gorra khảo cứu quá trình phi thực dân hóa; Erin James phân tích tự sự sinh thái và du kí; Catherine Lanone so sánh phong cảnh tiêu cực giữa E.M. Forster và V. Naipaul; Weihsin Gui so sánh Naipaul với Andrea Levy; Monika Fludernik nghiên cứu motif lưu vong trong Một ngôi nhà dành cho ông Biswas.
  • Phê bình tiểu sử: Mahabir phân tích trải nghiệm tuổi thơ và motif trốn thoát; Bruce King làm rõ ảnh hưởng của gia đình và bối cảnh Tây Ấn đối với kỹ thuật tự sự.
  • Cách tân nghệ thuật: Imraan Coovadia phân tích thủ pháp tu từ và nghệ thuật châm biếm; các nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá cách dùng tiếng Anh chuẩn xác, linh hoạt của tác giả.
  • Căn tính, tính đa văn hóa và văn học di dân: Judith Levy kết hợp phê bình hậu thuộc địa và phân tâm học Lacan; Sanjiv Kumar sử dụng khung lí thuyết của Homi Bhabha; Yurong Wang và Li Lin nghiên cứu quá trình tìm kiếm bản ngã; Ghanshyam Pal phân tích nỗi hoài niệm lưu lạc; Mohan khảo sát tình huống hậu thuộc địa; Leslie R. James phân tích sự giao thoa giữa tôn giáo và chính trị ở châu Phi. Các luận án tiến sĩ của Babuguna, Poolsawas, Khedkar và Shankar Anita nghiên cứu xung đột văn hóa và cảm thức di dân.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận sáng tác của V. Naipaul từ góc độ chính trị hậu thuộc địa, phê bình tiểu sử hoặc phân tích du kí riêng lẻ. Chưa có công trình nào sử dụng có hệ thống hệ hình lí thuyết Đa văn hóa gồm ba mô hình của Doreen Massey, Stuart Hall và Anders Hanberger để phân tích toàn diện bốn thành tố thi pháp (không gian, thời gian, nhân vật, biểu tượng) trong ba tiểu thuyết then chốt của tác giả.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xác lập khung lí thuyết tiếp cận dựa trên ba trụ cột học thuật:

  • Thuyết căn tính và nơi chốn (Identity and place) của nhà địa lí học xã hội Doreen Massey trong công trình Space, Place and Gender (1994): Không gian được định nghĩa là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội giao thoa; nơi chốn mang tính cởi mở, lai tạp và không thuần nhất. Căn tính của cá nhân được kiến tạo trong mối liên hệ trực tiếp với nơi chốn và các biến động không gian.
  • Thuyết căn tính bất định (Unfixed identity) của Stuart Hall: Căn tính văn hóa không phải là một thực thể cố định, bất biến của quá khứ mà là một quá trình liên tục được kiến tạo, phân mảnh và tái định hình thông qua diễn ngôn và quan hệ quyền lực.
  • Ba mô hình Đa văn hoá của Anders Hanberger (2010): Phân loại phương thức tương tác văn hóa thành:
    1. Sự đồng hoá văn hoá (Cultural assimilation): Nền văn hóa thiểu số dần bị chi phối hoặc tiếp thu văn hóa đa số nhưng vẫn bảo lưu một số nét sinh hoạt riêng biệt.
    2. Sự pha trộn văn hoá (Cultural amalgamation): Các giá trị văn hóa khác nhau hợp nhất để tạo ra một cấu trúc văn hóa lai ghép mới (hybrid culture).
    3. Sự chung sống văn hoá (Cultural coexistence): Các nền văn hóa tồn tại song song, tôn trọng quyền tự chủ của nhau mà không hòa tan.

Về phương pháp thực hiện, luận án thuần túy theo hướng định tính, kết hợp các thao tác khoa học ngữ văn:

  • Phương pháp tiếp cận từ góc nhìn văn hóa: Xem xét tác phẩm văn học trong bối cảnh lịch sử, tư tưởng và tôn giáo nơi văn bản ra đời.
  • Phương pháp tiểu sử: Đối chiếu những dấu mốc đời tư của V. Naipaul với cấu trúc tâm lí và hành động của nhân vật nhằm làm sáng tỏ dụng ý nghệ thuật.
  • Phương pháp khảo sát, thống kê ngữ văn: Thu thập tần suất xuất hiện của các từ chỉ màu sắc, bảng thống kê các không gian cư trú để củng cố luận điểm phân tích định tính.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp lí luận văn học, thi pháp học với các lí thuyết địa lí nhân văn, xã hội học văn hóa.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Phân tích cấu trúc tác phẩm, đối chiếu các tiểu thuyết của Naipaul với nhau và với bối cảnh văn học đương thời.

Nguồn ngữ liệu chính là văn bản nguyên tác tiếng Anh của ba tiểu thuyết: A House for Mr. Biswas, A Bend in the River và The Enigma of Arrival, kết hợp các văn bản lí luận văn hóa học, triết học và các bài phỏng vấn tác giả.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa toàn bộ các cơ sở học thuật liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích nguồn gốc khái niệm văn hóa từ chữ Latinh cultura, đối chiếu định nghĩa kinh điển của Edward Burnett Tylor trong Primitive Culture (1871) với định nghĩa của Trần Ngọc Thêm về tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Chương 1 làm rõ các chặng đường phát triển của lí thuyết đa văn hóa từ Franz Boas đến Bhikhu Parekh, phân biệt ranh giới giữa Đa văn hóa, Liên văn hóa (nhấn mạnh tương liên, lai ghép theo Homi Bhabha) và Giao thoa văn hóa. Đồng thời, chương này tường thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu V. Naipaul trong và ngoài nước, thiết lập cơ sở lí luận và chứng minh tính hợp lí của việc lựa chọn ba mô hình Đa văn hóa làm khung thao tác cho các chương phân tích thi pháp học.

Chương 2: Không gian, thời gian trong tiểu thuyết V. Naipaul nhìn từ lí thuyết Đa văn hoá

Vận dụng thuyết căn tính và nơi chốn của Doreen Massey, chương 2 khảo sát hai trục toạ độ không gian và thời gian:

  • Không gian đa văn hóa: Luận án chia thành ba không gian địa - văn hóa cụ thể:
    1. Không gian sinh hoạt đậm chất truyền thống của Trinidad và Tobago trong Một ngôi nhà dành cho ông Biswas: Miêu tả đời sống khép kín của cộng đồng người gốc Ấn Độ (Bàlamôn) chịu tác động của môi trường đồn điền và sự tiếp xúc với cộng đồng người da đen gốc Phi.
    2. Không gian văn hóa lịch sử đầy biến động của châu Phi trong Khúc quanh của dòng sông: Thị trấn ven sông được khắc họa như điểm giao tranh giữa các thế lực thực dân châu Âu, thương nhân gốc Á và cư dân bản địa, phản ánh sự đổ vỡ thể chế thời kỳ hậu thuộc địa.
    3. Không gian lữ thứ tại vương quốc Anh trong Bí ẩn khi tới: Thung lũng Wiltshire và trang viên cổ kính nơi nhân vật Tôi cư ngụ thể hiện sự quan sát tĩnh lặng của một trí thức nhập cư đối với nền văn minh mẫu quốc đang trên đà biến đổi.
  • Thời gian đa văn hóa: Được khảo sát qua ba khía cạnh: thời gian gắn với hành trình đi tìm bản ngã của nhân vật di dân; thời gian lịch sử với các xung đột văn hóa giữa truyền thống và hiện đại; thời gian ngưng đọng, chiêm nghiệm phản ánh sự bế tắc hoặc thích nghi của chủ thể tha hương trước biến động thời cuộc.

Chương này sử dụng các số liệu khảo sát cụ thể, bao gồm Bảng 2.1 thống kê tần số từ ngữ chỉ màu sắc trong Bí ẩn khi tới, Bảng 2.2 và Hình 2.2 hệ thống hóa các ngôi nhà gắn liền với từng giai đoạn cuộc đời nhân vật ông Biswas, cùng Hình 2.1 sơ đồ hóa cấu trúc năm phần của tiểu thuyết Bí ẩn khi tới.

Chương 3: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết V. Naipaul nhìn từ lí thuyết Đa văn hoá

Dựa trên lí thuyết căn tính bất định của Stuart Hall, mô hình các chiều kích bản thể của Fitzsimmons (2013) và sơ đồ tâm lí học của Clare Cooper (1974), chương 3 phân loại thế giới nhân vật trong ba tiểu thuyết (được tổng hợp tại Bảng 3.1 của luận án) thành ba nhóm điển hình:

  • Kiểu nhân vật hoà nhập: Đại diện tiêu biểu là Bà Tulsi trong Một ngôi nhà dành cho ông Biswas, người kết hợp các nghi thức tôn giáo Hindu với chiến lược thỏa hiệp thực dụng để bảo tồn trật tự gia tộc truyền thống trước làn sóng Tây hóa; bên cạnh đó là những người con dòng họ Tulsi mang tâm lí phục tùng, thụ động chấp nhận sự sắp đặt văn hóa.
  • Kiểu nhân vật dấn thân - chủ động đi tìm bản ngã: Bao gồm nhân vật Tôi trong Bí ẩn khi tới với nỗ lực khẳng định căn tính nghề nghiệp của một nhà văn tại nước Anh; nhân vật ông Biswas trong Một ngôi nhà dành cho ông Biswas với cuộc tranh đấu bền bỉ nhằm thoát ly sự bảo trợ ngột ngạt của gia đình vợ để sở hữu một không gian sống độc lập; nhân vật Indar với nỗ lực hội nhập vào thế giới phương Tây hiện đại nhưng cuối cùng rơi vào khủng hoảng căn tính.
  • Kiểu nhân vật bên lề: Nhân vật Salim trong Khúc quanh của dòng sông, người luôn giữ vị thế quan sát ngoại đạo, không thể hòa tan vào lục địa châu Phi cũng như không thể quay về cội nguồn Ấn Độ Dương; nhân vật Cha Huisman, biểu trưng cho sự hiện diện lạc lõng của tôn giáo và ý thức hệ phương Tây tại vùng đất hậu thuộc địa.

Chương 4: Biểu tượng trong tiểu thuyết V. Naipaul gắn với ba mô hình Đa văn hoá

Chương 4 liên kết hệ thống hình tượng nghệ thuật của V. Naipaul với ba mô hình Đa văn hóa do Anders Hanberger đề xuất, kết hợp cảm hứng từ bức tranh Bí ẩn của sự đến và buổi chiều của Giorgio de Chirico (Hình 4.1):

Mô hình của Anders Hanberger Biểu tượng nghệ thuật tương ứng Tác phẩm thể hiện Nội dung ý nghĩa biểu tượng
Sự đồng hoá văn hoá (Cultural assimilation) Dòng sông Khúc quanh của dòng sông Biểu trưng cho dòng chảy lịch sử cuốn phăng các giá trị truyền thống, áp đặt các quy chuẩn văn hóa ngoại lai lên cộng đồng bản địa châu Phi.
Sự pha trộn văn hoá (Cultural amalgamation) Ngôi nhà Một ngôi nhà dành cho ông Biswas Không gian vật chất phản ánh sự tích hợp các yếu tố văn hóa khác biệt; nỗ lực xây dựng ngôi nhà là hành trình thiết lập căn tính lai ghép độc lập.
Sự chung sống văn hoá (Cultural coexistence) Bức tranh và Khu vườn Bí ẩn khi tới Không gian thiên nhiên và nghệ thuật tại vùng nông thôn nước Anh, nơi các chủ thể văn hóa khác biệt có thể cùng tồn tại song song trong sự tĩnh lặng và tôn trọng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về phương diện lí luận, luận án đã vận dụng và kiểm chứng sự phù hợp của lí thuyết Đa văn hoá trong nghiên cứu văn học. Bằng việc kết hợp các luận điểm của Doreen Massey, Stuart Hall và Anders Hanberger với thi pháp học, công trình chỉ ra rằng phân tích văn học qua lăng kính đa văn hóa giúp làm rõ cấu trúc nghệ thuật, phương thức phản ánh xã hội và chiều sâu nhận thức của các tác giả di dân, góp phần làm sáng tỏ bản chất đa tầng bậc của kí hiệu ngôn từ nghệ thuật.

Về phương diện thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu hệ thống bằng tiếng Việt đầu tiên về tiểu thuyết của V. Naipaul dựa trên văn bản nguyên tác tiếng Anh. Luận án đã giải mã thế giới nghệ thuật của nhà văn đoạt giải Nobel qua bốn yếu tố thi pháp then chốt: chỉ ra mối quan hệ giữa căn tính và các không gian địa - văn hóa cụ thể; phân loại các kiểu nhân vật theo tiến trình kiến tạo bản ngã; thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa ba biểu tượng nghệ thuật trung tâm với ba mô hình tương tác văn hóa. Kết quả này cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài, văn học hậu thuộc địa tại các trường đại học ở Việt Nam.

Luận án không đưa ra các giải pháp chính trị xã hội mang tính hành chính mà đề xuất việc ứng dụng phương pháp phê bình văn hóa liên ngành trong hoạt động tiếp nhận, nghiên cứu tác phẩm văn học hiện đại và giảng dạy tác gia văn học đoạt giải Nobel.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi khảo cứu tập trung vào 3 trong tổng số 15 cuốn tiểu thuyết của V. Naipaul, do đó chưa bao quát được toàn bộ tiến trình sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả. Bên cạnh đó, luận án chỉ tập trung khảo sát bốn phương diện thi pháp học (không gian, thời gian, nhân vật, biểu tượng) trong tiểu thuyết, chưa mở rộng sang mảng du kí và tiểu luận chính trị - xã hội, vốn là bộ phận sáng tác chiếm dung lượng lớn và có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp của Naipaul.

Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở phạm vi đã thực hiện, hướng mở rộng khả thi bao gồm:

  • Mở rộng khảo cứu 12 cuốn tiểu thuyết còn lại và các tập du kí tiêu biểu của V. Naipaul (như các tác phẩm viết về Ấn Độ, thế giới Hồi giáo và châu Mỹ) để có cái nhìn toàn diện hơn về cảm quan đa văn hóa của tác giả.
  • Ứng dụng khung lí thuyết Đa văn hóa kết hợp (Massey - Hall - Hanberger) để nghiên cứu các tác giả di dân khác trong văn học hậu thuộc địa thế giới hoặc văn xuôi Việt Nam đương đại thời kỳ hội nhập toàn cầu.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học nước ngoài, Văn học so sánh và Lí luận văn học: Cung cấp nguồn tư liệu phân tích văn bản nguyên tác tiếng Anh cùng phương pháp tiếp cận văn học liên ngành.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa học và nhân chủng học: Cung cấp góc nhìn thực chứng về sự biến đổi của căn tính di dân và sự va chạm giữa các nền văn hóa trong xã hội hậu thuộc địa.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao trong văn bản gồm: Chương 1 với phần tổng thuật lịch sử thuật ngữ Đa văn hóa và hệ thống tư liệu nghiên cứu V. Naipaul trên thế giới; Chương 4 với mô hình liên kết giữa ba khái niệm văn hóa của Anders Hanberger và hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học.


Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chỉ chọn 3 trong số 15 cuốn tiểu thuyết của V. Naipaul để khảo cứu?
Ba tiểu thuyết được chọn (Một ngôi nhà dành cho ông Biswas, Khúc quanh của dòng sông, Bí ẩn khi tới) đại diện cho ba mốc sáng tác quan trọng trong cuộc đời cầm bút của tác giả: dấu mốc thành công ban đầu gắn với quê hương Trinidad, độ chín tài năng ở tuổi 45 gắn với lục địa châu Phi, và tác phẩm đúc kết 35 năm văn nghiệp gắn với nước Anh. Sự phân bổ này cho phép khảo sát bức tranh đa văn hóa của Naipaul qua nhiều không gian và thời gian khác nhau.

2. Ba mô hình Đa văn hoá của Anders Hanberger được luận án gắn với những biểu tượng nào?
Luận án liên kết ba mô hình của Hanberger với ba biểu tượng nghệ thuật: Mô hình Đồng hóa văn hóa (Cultural assimilation) gắn với biểu tượng Dòng sông trong Khúc quanh của dòng sông; Mô hình Pha trộn văn hóa (Cultural amalgamation) gắn với biểu tượng Ngôi nhà trong Một ngôi nhà dành cho ông Biswas; Mô hình Chung sống văn hóa (Cultural coexistence) gắn với biểu tượng Bức tranh và Khu vườn trong Bí ẩn khi tới.

3. Vì sao tác giả luận án không sử dụng Lí thuyết đa hệ thống của Itamar Even-Zohar làm khung nghiên cứu chính?
Mặc dù thừa nhận đóng góp của lí thuyết đa hệ thống trong việc phân tích văn hóa động và chuẩn mực dịch thuật, tác giả nhận thấy lí thuyết của Even-Zohar thiên về mô thức tư duy và phương thức tiếp cận đối tượng, chưa trực tiếp phản ánh đặc tính bản chất của tính đa văn hóa vốn gắn liền với sự xung đột và hòa nhập của các giá trị sắc tộc trong tiểu thuyết Naipaul.

4. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Naipaul được luận án phân loại như thế nào?
Dựa trên lí thuyết căn tính bất định của Stuart Hall, thế giới nhân vật được chia thành ba nhóm: Kiểu nhân vật hòa nhập (Bà Tulsi, những đứa con dòng họ Tulsi); Kiểu nhân vật dấn thân - chủ động đi tìm bản ngã (nhân vật Tôi, ông Biswas, Indar); và Kiểu nhân vật bên lề (Salim, Cha Huisman).


Kết luận

Luận án Tiểu thuyết V. Naipaul từ lí thuyết Đa văn hoá của Đinh Thị Lê là công trình nghiên cứu chuyên sâu bằng tiếng Việt về tác gia V. Naipaul qua việc tiếp cận nguyên tác ba tiểu thuyết tiêu biểu. Bằng việc kết hợp lí thuyết căn tính và nơi chốn của Doreen Massey, căn tính bất định của Stuart Hall và ba mô hình Đa văn hóa của Anders Hanberger, luận án đã phân tích cấu trúc không gian, thời gian, nhân vật và biểu tượng nghệ thuật dưới góc nhìn văn hóa học. Kết quả nghiên cứu xác nhận tính khả thi của lí thuyết Đa văn hóa trong phê bình thi pháp học, đồng thời cung cấp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài tại Việt Nam.