CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu văn học từ lí thuyết Đa văn hoá 1. Văn hoá và hướng phê bình văn học từ văn hoá Để hiểu định nghĩa Đa văn hoá, trước hết ta cần đi tìm khái niệm văn hoá. Đây là một thuật ngữ có nội hàm rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như truyền thông, tôn giáo, hành vi ứng xử, nghệ thuật,… trong đó mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Thuật ngữ văn hoá, xuất phát từ tiếng Latinh là “cultura”, bắt nguồn từ “cultus” nghĩa là canh tác, gieo trồng ruộng đất (cultus agri) và gieo trồng tinh thần (cultus animi) rồi chuyển nghĩa để tạo ra “culture” từ thế kỉ 18 ở phương Tây. Kể từ đó đến nay, định nghĩa văn hoá đã phát triển theo nhiều chiều hướng đa dạng, “có đến hàng trăm, từ các trường phái nhân văn như Dilthey, Casirrer, Arnold, T. Eliot… đến trường phái thực chứng như Taylor, Malinowski, Boas, Kroeber, Benedict, Durkheim…” [7,15]. Trong số hàng trăm định nghĩa ấy, thì định nghĩa đóng vai trò nền móng cho khoa học về nhân chủng của Edward Burnett Tylor trong cuốn sách Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản năm 1871, là định nghĩa được công nhận rộng rãi nhất, khẳng định văn hoá “một phức hệ bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán, và bất cứ năng lực nào khác của con người với tư cách là một thành viên của xã hội” [8,1].
Như vậy, văn hoá chính là một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin được bảo tồn theo truyền thống. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm chỉ ra bốn đặc trưng cơ bản của khái niệm văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Từ bốn thuộc tính đó, văn hoá được định nghĩa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [9,27]. Tựu trung, các định nghĩa trên đều thống nhất ở những đặc điểm phổ quát của văn hoá là: tính hệ thống, tính đa dạng và tính kế thừa.
Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi hiểu văn hoá là một hệ thống hay tập hợp các giá trị và chuẩn mực của một cộng đồng, và có tính phát triển, kế thừa theo thời gian. Do vậy, văn hoá có chức năng tổ chức xã hội, chức năng thúc 8 đẩy xã hội và chức năng giáo dục trong sự phát triển, tương tác, giao thoa, dẫn đến Đa văn hoá và Liên văn hoá… Sự ra đời và phát triển của mỗi loại hình nghệ thuật đều gắn với những đặc trưng, bản sắc riêng. Tuy vậy, dưới góc nhìn so sánh liên ngành, có thể thấy các lĩnh vực ấy có mối liên hệ mật thiết với nhau; thậm chí, chúng không ngừng phá vỡ đường biên để giao thoa, thâm nhập vào nhau. Giữa văn chương và văn hoá cũng có một mối duyên lâu đời và gần gũi như vậy.
Việc tiếp cận và phê bình văn học từ hướng văn hoá không phải là mới, không thể không kể đến trường phái phê bình văn hoá lịch sử của nhà nghiên cứu người Pháp, Hippolyte Taine (1828-1893), trong đó ông đã coi ba nhân tố quy định tính chất của tác phẩm văn chương bao gồm: chủng tộc, môi trường và thời điểm. Trong một thời đại nhất định, tất cả các sáng tác văn học không nằm ngoài sự chi phối của ba yếu tố trên. Các trường phái nghiên cứu văn hoá đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, khởi đầu với trường phái Birmingham ở Anh, đại diện là Rochard Hoggart và Stuart Hall, trong khoảng thập niên 60, 70 của thế kỉ trước. Nhóm Birmingham đưa ra các quan điểm phê bình cho việc phân tích, diễn giải và phê bình các di sản văn hoá, kết hợp với lí thuyết xã hội học và so sánh bối cảnh khi phê bình văn học các văn bản văn hoá.
Hướng nghiên cứu này ở Đức có trường phái Frankfurt, và ở Pháp có Roland Barthes vào những năm 1970. Một lí thuyết khác đáng chú ý trong nghiên cứu văn chương và văn hoá là lí thuyết đa hệ thống hoặc Lí thuyết hệ thống đa hợp (Polysystem theories). Đây là lí thuyết xuất phát từ ý tưởng về một nền văn hoá động, do giáo sư Itamar Even- Zohar làm việc tại đại học Tel Aviv, Israel đề xuất. Khi đề cập tới thuộc tính / sở hữu chung của đa hệ thống, ông cho rằng khái niệm về hệ thống là khái niệm năng động, không thuần nhất, “nhấn mạnh tính đa bội của các giao cắt và sau đó là tính phức tạp hơn của kết cấu đi kèm” [10,31].
Trong đó, sự sắc nhạy của cái đa tạp trong văn hoá được thể hiện rõ nhất trong một cộng đồng dùng ba hoặc đa ngôn ngữ. Trong phạm vi văn chương, thì đó là khi cộng đồng sở hữu hai hoặc nhiều hơn hai “nền văn học”. Theo quan điểm của Zohar, trong đa hệ thống luôn tồn tại nhiều hệ thống không đồng đẳng mà phân tầng bậc. Ông chỉ ra rằng “Cuộc đấu tranh vĩnh cửu giữa 9 các cơ tầng khác nhau, tạo nên trạng thái đồng đại (động) của hệ thống.
Chính chiến thắng của cơ tầng này đối với cơ tầng kia sẽ tạo nên sự thay đổi trên trục lịch đại” [10,87]. Trong cuốn Polysystem studies xuất bản năm 1990, ông đã mượn sơ đồ giao tiếp của Roman Jakobson để vẽ lại sơ đồ hệ thống văn chương bao gồm các hoạt động văn chương và mối quan hệ giữa chúng như sau: Kho thể tài (quy tắc) Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống văn chương trích dẫn từ Lí thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hoá, văn chương của Even-Zohar. Một trong những đóng góp chính của lí thuyết đa hệ thống là chuyển mối quan tâm từ nền văn hóa nguồn (gốc) sang nền văn hóa tiếp nhận (đích) bằng cách truy tìm những cơ chế chọn lọc các tác phẩm cũng như những chuẩn mực dịch thuật. Lí thuyết đa hệ thống của Evan-Zohar đã phân tích các tập hợp quan hệ trong văn học và ngôn ngữ, được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học và văn hóa, đặc biệt ở Tây Ban Nha và Trung Quốc.
Học giả người Mĩ Edwin Gentzler cũng ủng hộ lí thuyết này trong nghiên cứu dịch thuật [11,85]. Như vậy lí thuyết của Evan-Zohar nghiêng về phương thức tiếp cận đối tượng, là mô thức tư duy hướng tới đối tượng. Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi có tìm hiểu lí thuyết này nhưng thấy chưa thực sự phù hợp với nghiên cứu Đa văn hoá trong tiểu thuyết của V. Naipaul bởi lẽ Đa văn hoá thuộc về đặc tính của văn hóa nhiều hơn.
Hướng phê bình văn học từ văn hoá đã được công nhận rộng rãi, nhờ tính khoa học và chân xác trong việc nhìn nhận, đánh giá một tác phẩm văn học. Mỗi tác phẩm là “một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của các dân tộc, như là một trong những sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hoá một tộc người, một đất nước” [12,11]. Trong bài Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hoá, Đỗ Lai Thuý đã chỉ ra các ưu điểm của phương pháp này là “dẫn nhà phê bình (cũng như người đọc) đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái biết nhiều đến cái biết ít, từ cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy khoa học” [1]. Ở Việt 10 Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu văn chương theo hướng này, như Nguyễn Du và Truyện Kiều của Trương Tửu, Từ góc nhìn văn hoá đến các mã nghệ thuật trong văn bản cổ đại Việt Nam của Nguyễn Huệ Chi, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá của Lê Nguyên Cẩn, Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hoá của Đỗ Lai Thuý, Phương pháp tiếp cận văn hoá trong nghiên cứu giảng dạy văn học của Trần Nho Thìn, Mã văn hoá trong tác phẩm của James Joyce của Nguyễn Linh Chi,… Đa văn hóa là thuộc tính bản chất, quy luật trong sự phát triển của loài người.
Có thể nói, từ thuở bình minh của nhân loại đã luôn tồn tại nhiều chủng tộc, nhiều nền văn hoá, và sự tiếp xúc, giao lưu giữa các nền văn hóa là điều không tránh khỏi, nhất là khi xuất hiện những cuộc di cư. Giao thoa văn hoá và đa dạng văn hoá là quy luật tất yếu của sự vận động xã hội, và trở thành điều kiện cần thiết cho phát triển, thậm chí cho sự sinh tồn của con người, bởi vì “con người không phải là một hòn đảo, không chỉ là tự mình; mỗi người là một phần của lục địa, một phần của tổng thể” [13,108]. Để trả lời cho câu hỏi liệu có đa văn hoá trong các nền văn minh cổ đại không, hai nhà khoa học Vladimiras và Liudmila đã truy nguyên dấu vết của đa văn hóa từ những chính sách sát nhập hai nền văn hoá Ba Tư và Macedon của Alexander Đại đế [14,33-49]. Alexander Đại đế vừa áp đặt văn hóa của người Macedonia (Hi Lạp) vào các vùng lãnh thổ bị chinh phục, nhưng cũng đồng thời chấp nhận phong tục của người dân địa phương.
Kết quả là Đa văn hóa xuất hiện như một hiện tượng xã hội trong lịch sử của Đế chế La Mã (Imperium Romanum), vào thời hoàng kim của Rome, luôn tồn tại nhiều dân tộc và bộ lạc khác nhau với các phong tục và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau chung sống. Người La Mã đã sử dụng viện trợ của người nước ngoài, trong đó có nô lệ, và vẫn tiếp tục chính sách hai nền văn hoá song song: Hi Lạp và La Mã. Đa văn hoá, từ các nhà dân tộc học đầu thế kỉ XX đến nay Về mặt lịch sử của thuật ngữ, Đa văn hóa đã manh nha xuất hiện từ giữa thế kỉ XVIII khi các nhà sử học Đức giới thuyết khái niệm về sự khác biệt và đa dạng tồn tại trong một nền văn hóa. Các nhà sử học có tiếng như Johann Gottfried von Herder (1744-1803) và Leopold von Ranke (1795-1886) đã đặt câu hỏi về tư duy Khai sáng của những tiến bộ từ thời kì đen tối đến thời văn minh, thông qua đa dạng văn hoá.