mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung và kết luận. Phần nội dung của khóa luận đƣợc cấu tạo thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung 4 Chƣơng 2: Biểu hiện của nghệ thuật phóng sự trong tiểu thuyết Lều chõng. Chƣơng 3: Giá trị của nghệ thuật phóng sự trong tiểu thuyết Lều chõng 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm phóng sự 1.
Sự ra đời của phóng sự Từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX – nền văn học viết Việt Nam hình thành và phát triển trong môi trƣờng xã hội phong kiến trung đại, đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn, nhƣng ít có những giai đoạn diễn ra sự biến đổi mạnh mẽ và mau lẹ. Bƣớc sang đầu thế kỉ XX, cơ cấu xã hội và môi trƣờng văn hóa – tƣ tƣởng có nhiều biến đổi quan trọng, nền văn học dân tộc đã chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang văn học hiện đại. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam đƣợc đánh giá là phát triển mau lẹ. Sự phát triển mau lẹ ấy thể hiện ở cả sự tăng trƣởng về số lƣợng, cả về nhịp độ kết tinh và ở trên mọi thể loại, mọi khuynh hƣớng văn học.
Nói về tốc độ phát triển của văn học Việt Nam trong thời kỳ này, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, trong bộ Nhà văn hiện đại đã nhận xét: “Một năm ở ta kể nhƣ ba mƣơi năm của ngƣời” [12, 22]. Nhiều thể loại mới lần lƣợt ra đời và đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Việt Nam với nhiều tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Trong những thể loại đó thì thể phóng sự chiếm một vị trí lớn trên diễn đàn văn học. Có đƣợc vị trí đó là nhờ vào những ƣu thế riêng, vô cùng hữu ích cho việc phục vụ nhu cầu cấp thiết của thời đại mà phóng sự mang lại: tính xác thực, tính thời sự, tính chính trị, xã hội.
Dƣới ngòi bút và lối viết của các tác giả có thực tài, phóng sự thể hiện thành công chức năng vốn có. Phóng sự từ khi xuất hiện đã làm chấn động dân chúng báo chí, còn các nhà cầm quyền thì ra lệnh đóng cửa các tòa soạn báo, vì tính chất nguy hiểm của các bài phóng sự. Leonard Ray Teel – Ron Tay đã viết: “Phóng sự có thể 6 là vị trí quyến rũ hơn cả trong nghề báo” [11, 7], còn GS, TS Karel Storkal (Tiệp Khắc) nhận định là: “Phóng sự là một trong những thể loại báo chí đƣợc ngƣời đọc yêu thích nhất và cũng là một trong những thể loại khó nhất đối với ngƣời viết” [11, 7]. Nhiều tài liệu nghiên cứu đã cho rằng thể phóng sự xuất hiện lần đầu ở Châu Âu vào cuối thế kỉ XIX, khi đó độc giả đã bắt đầu chán ngấy sự hƣ cấu và khát khao những điều chân thực đang hoặc đã diễn ra trong xã hội, về những hiện thực đen tối, thối nát của cả một hệ thống chính trị.
Cùng với đó, sự tham gia tích cực của các nhà văn vào địa hạt báo chí đã thúc đẩy thể loại phóng sự xuất hiện trên thế giới vào cuối thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, phóng sự ra đời khá muộn. Có một số ý kiến cho rằng phóng sự bắt đầu manh nha từ những tác phẩm ngƣời thực, việc thực nhƣ: Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái. Trong công trình nghiên cứu Phóng sự báo chí của nhà xuất bản Lí luận chính trị lại cho rằng: Phóng sự đã có mặt ở Việt Nam vào những năm 30 của thế kỉ XX, mặc dù báo chí Việt Nam có từ năm 1863, với nhiều dẫn chứng rất khách quan và thuyết phục nhƣ sau: Thứ nhất: Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, chúng đã thay “chính sách đồng hóa” bằng “chính sách hợp tác”, chúng đã tung ra những khẩu hiệu mang tính chất lừa bịp nhƣ “Pháp – Việt đều hều”.
Từ khẩu hiệu này của thực dân Pháp, chúng ta đã đƣa rất nhiều thanh niên trí thức lên đƣờng du học tại các nƣớc Nhật, Pháp. Trong đó có không ít những ngƣời làm nghề báo, sau một thời gian họ trở về nƣớc và đem theo những ánh sáng mới của phƣơng Tây về. Có thể kể đến một số tên tuổi là Tạ Đình Bích, Phùng Bảo Thạch, Đỗ Văn. Họ đã cùng nhau thực hiện một cuộc cải cách quan trọng trong nghề báo: áp dụng vào Việt Nam lối viết báo và cách trình bày báo hiện đại đã học đƣợc từ Châu Âu, với lối hành văn gọn gàng, sáng sủa của ngƣời Pháp.
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc xuất bản ở Pari năm 1925 có thể 7 coi là một thiên phóng sự chính luận giàu tính chiến đấu và sôi nổi tinh thần yêu nƣớc. Giai đoạn 1930 – 1945 phóng sự nở rộ với nhiều cây bút tài năng cùng với những tác phẩm xuất sắc và đã có đƣợc tiếng vang rộng rãi trong dƣ luận. Có thể kể tới phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang, đƣợc đăng trên tờ Đông Tây vào tháng 8/1932, do Hoàng Tích Chu và Đỗ Văn, hai ngƣời có công lớn trong việc thay đổi báo chí nƣớc ta. Cuộc thay cũ, đổi mới này đã tạo điều kiện cho các thể loại báo chí mang phong cách hiện đại du nhập dần vào Việt Nam, trong đó có phóng sự.
Năm 1942, nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan viết: “Ở nƣớc ta, nghề viết báo là một nghề mới có, nên những thiên phóng sự xứng đáng với cái tên của nó, cũng chỉ mới ra đời trong vòng mƣơi năm trở lại đây” [15, 520]. Nguyễn Đăng Mạnh có viết: “Vào đầu những năm 30 của thế kỉ này (tức thế kỉ XX) cùng với sự phát triển mạnh mẽ của báo chí, một thể văn mới ra đời; thể Phóng sự” [7, 63]. Thứ hai: Hoàn cảnh đất nƣớc ta trong thời kỳ này, liện tục xảy ra hàng loạt các sự kiện. Trƣớc tiên, có thể kể đến cơn bão khủng bố trắng 1930 – 1931.
Xã hội Việt Nam thời kỳ này tồn tại những mâu thuẫn gay gắt. Sự áp bức bóc lột của thực dân, những bất công của xã hội đã đẩy dân nhân vào tình trạng vô cùng khổ cực. Thực trạng xã hội với hình ảnh cùng quẫn của tầng lớp nghèo hèn dƣới đáy xã hội; sự “phất” lên của những tên quan lại, địa chủ theo Pháp. là mảng đề tài hiện thực nóng bỏng, đƣợc các nhà văn lựa chọn để “mổ xẻ”, bằng “một lối tả thực nhƣ kí sự, trào phúng nhƣ văn châm biếm, cảm ngƣời ta nhƣ văn tiểu thuyết, mà lại bao gồm tất cả lối bút chiến về việc, nói tóm lại dùng cái lối tạo nên một thể linh hoạt và có hiệu lực vô cùng: thể Phóng sự” [15, 519].
Thứ ba: Vào đúng thời gian này, nền giáo dục của nƣớc ta đã có những khởi sắc đáng kể. Hệ thống trƣờng học ngày càng đƣợc mở rộng trên cả nƣớc. Đó là điều kiện tốt để tạo ra một lƣợng độc giả lớn. Độc giả đòi hỏi phải có 8 những tác phẩm báo chí vừa phản ánh cụ thể chính xác về hiện thực cuộc sống đa dạng, chân thực, vừa có thể gợi cảm xúc trong lòng ngƣời đọc.
Điều đó thúc đẩy phóng sự ra đời và nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí: là đứa con đầu lòng của nghề viết báo. Tóm lại, có thể khẳng định phóng sự bắt đầu manh nha xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng những năm 30 của thế kỉ XX, do tình hình đất nƣớc ta lúc bấy giờ kết hợp với các cây bút tài hoa vào địa hạt báo chí và do công chúng báo chí đòi hỏi. Quá trình phát triển của phóng sự Việt Nam Phóng sự là thể văn mới đƣợc du nhập vào nƣớc ta, ngay khi ra đời phóng sự đã tồn tại, và khẳng định vị trí của mình. Nó đã làm đảo lộn, tạo nên những “cú sốc” trong công chúng báo chí.
Có thể xác định ba giai đoạn phát triển của phóng sự nhƣ sau: Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 Ở giai đoạn này, phóng sự tuy mới bắt đầu manh nha xuất hiện ở Việt Nam nhƣng cũng đã cho công chúng thấy rõ đƣợc vai trò quan trọng của thể tài này. Phóng sự thời kỳ đƣợc đánh dấu bằng tác phẩm “Tôi kéo xe” của Tam Lang Vũ Đình Chí, đăng lần đầu trên tạp chí Đông Tây. Với tác phẩm này đã cho thấy phóng sự vừa ra đời đã đạt tới đỉnh cao về nội dung và hình thức thể loại. phóng sự giai đoạn này đƣợc chia làm nhiều khuynh hƣớng khác nhau.
Theo nhƣ sự tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy phóng sự giai đoạn này đi theo một số khuynh hƣớng cơ bản dƣới đây: Khuynh hướng thứ nhất: Ở khuynh hƣớng này, các nhà báo đã dùng ngòi bút của mình để ca ngợi chế độ thực dân bảo hộ, chính những lời lẽ ca ngợi đƣợc sử dụng trong lối viết này đã làm tan rã tinh thần chống ngoại xâm của một bộ phân công chúng. Phóng sự “Tôi buôn lậu” đăng trên báo Dân 9 Nói, Sài Gòn, tháng 2/1938, của Đồng Phƣơng, hoặc những phóng sự mang tính chất mua vui rẻ tiền, đã đầu độc tâm hồn của thanh niên đến nỗi khiến Ngô Tất Tố phải thốt lên: “Họ không cần thuốc mê, chỉ dùng những văn thơ khêu gợi để đầu độc những óc ngây thơ của phụ nữ” [15, 26]. Khuynh hướng thứ hai: Ở khuynh hƣớng này các tác giả lại tập trung đi vào việc tái hiện lại cuộc sống bần cùng của con ngƣời, đề cập đến những đau khổ của ngƣời dân, những bất công ngang trái hiện hữu trong xã hội. Các tập phóng sự ra đời cùng với những tên tuổi tài hoa, chúng ta có thể kể đến tác giả Trọng Lang với những thiên phóng sự đã góp phần tái hiện lại tình trạng thanh niên với cuộc sống trụy lạc ở nơi thành thị; Vũ Trọng Phụng với hàng loạt các thiên phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934); Ngô Tất Tố với những thiên phóng sự về nạn cƣờng hào, hủ tục hƣơng thôn và chế độ khoa cử thời phong kiến nhƣ: Lều chõng (1939), Việc làng (1940).
Những phóng sự này đã phần nào phản ánh đƣợc nỗi thống khổ của một dân tộc thuộc địa, bên cạnh đó các tác giả cũng đã phần nào thể hiện đƣợc rõ quan điểm, thái độ và tình cảm của cá nhân mình đối với những ngƣời dân nghèo khổ lam lũ – những con ngƣời sống ở dƣới đáy xã hội. Khuynh hướng thứ ba: Là khuynh hƣớng của báo chí cách mạng.