Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về thu hút khu vực khu vực tư nhân đầu tư phát triển KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút khu vực tư nhân đầu tư KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư Chương 3. Thực trạng thu hút khu vực tư nhân đầu tư KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chương 4.
Điều tra đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến thu hút khu vực tư nhân đầu tư KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chương 5. Quan điểm, định hướng, giải pháp tăng cường khả năng thu hút khu vực tư nhân đầu tư KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THU HÚT KHU VỰC TƯ NHÂN ĐẦU TƯ KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến luận án Nhiều thập kỷ qua, PPP đã trở thành cách thức chính để cung cấp dịch vụ công ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Từ năm 1985 đến 2004, có tổng số 2096 dự án PPP trên toàn thế giới với tổng giá trị vốn gần 887 tỷ USD (AECOM Consult, 2005). Các quốc gia trên toàn thế giới có kinh nghiệm về PPP bao gồm Úc, Đức, Hungary, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh (J. Gómez-Ibáñez and J.
Trong số các quốc gia này, Vương quốc Anh được xem là một trong những quốc gia có kinh nghiệm về PPP nhất. Ví dụ, trong năm 2003 và 2004, Vương quốc Anh là quốc gia có các khoản đầu tư PPP lớn nhất (OECD, 2006). Mặc dù các phương thức PPP đã được triển khai ở nhiều quốc gia, nhưng chúng không được áp dụng như nhau cho tất cả các lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Ở hầu hết các quốc gia, các dự án PPP tập trung vào các dự án giao thông như đường bộ, cầu, đường hầm, đường sắt và sân bay.
Tuy nhiên, việc sử dụng PPP đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong những năm gần đây. Ví dụ, ở Hàn Quốc, PPP được sử dụng trong việc phát triển trường học, bệnh viện và nhà ở công cộng (H. Park, 2006); ở Mỹ, PPP còn được áp dụng trong các lĩnh vực như nhà tù, cung cấp nước và xử lý nước thải (A. Sự phức tạp trong mối quan hệ hợp đồng theo phương thức PPP có sự khác biệt so với phương thức đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng truyền thống ở chỗ: có nhiều rủi ro liên quan đến PPP; đối tác nhượng quyền nhận nhiều trách nhiệm hơn và rủi ro lớn hơn và nhiều hơn so với một nhà thầu truyền thống; các vấn đề tài chính trong một dự án PPP phức tạp hơn nhiều; và việc phân bổ rủi ro và lợi ích giữa những người tham gia là khó khăn hơn.
(Zhang, 2004; Akintoye, 2003; Merna, 1998; J. Những đặc điểm này đã khiến các nhà nghiên cứu điều tra năm khía cạnh chính của PPP: vai trò và trách nhiệm của chính phủ; lựa chọn đối tác nhượng quyền; rủi ro của PPP; tài chính cho PPP; và các yếu tố ảnh hưởng thu hút các dự án PPP (Hình 1. m 10 Nghiên cứu về PPP Vai trò và Lựa chọn đối tác nhượng quyền - Qui trình đấu thầu trách nhiệm - Phương pháp và tiêu chí lựa của chính phủ chọn nhượng quyền Các yếu tố ảnh hưởng thu hút PPP Rủi ro PPP Tài chính cho PPP - Xác định rủi ro - Chiến lược tài chính - Phân bổ rủi ro - Hỗ trợ của chính phủ Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút khu vực tư nhân theo phương thức đối tác công tư Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư theo phương thức đối tác công tư giúp xác định được các yếu tố quan trọng cần tập trung để đảm bảo sự thành công của một dự án, được xem là bước đầu tiên để nâng cao khả năng thu hút khu vực tư nhân đầu tư phát triển KCHT theo phương thức PPP. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất danh sách các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khu vực tư nhân đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Bảng 1.1: Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư Loại Phạm vi T Tác giả hình không gian Các phát hiện chính T PPP nghiên cứu 1 Akintoye PFI Vương quốc - Các yếu tố góp phần đạt được giá trị tốt nhất et al.
Anh trong các dự án PFI là phân tích rủi ro chi tiết và (2003) phân bổ rủi ro phù hợp, thúc đẩy hoàn thành dự [55] án nhanh hơn, cắt giảm chi phí dự án, khuyến khích đổi mới trong phát triển dự án và chi phí bảo trì được hạch toán đầy đủ. - Các yếu tố cản trở việc đạt được giá trị tốt nhất trong các dự án PFI là: chi phí cao của quá trình đầu tư PFI, đàm phán dài và phức tạp, khó khăn trong việc xác định chất lượng dịch vụ, định giá dịch vụ quản lý cơ sở, xung đột lợi ích giữa các m 11 Loại Phạm vi T Tác giả hình không gian Các phát hiện chính T PPP nghiên cứu bên tham gia đầu tư và các khách hàng của khu vực công không có khả năng quản lý tư vấn. 2 Jefferies et BOOT Úc Các nhân tố được xác định từ nghiên cứu của một al. (2002) dự án sân vận động thể thao của Úc, bao gồm: tập [109] đoàn tư nhân mạnh với nhiều chuyên môn, kinh nghiệm; uy tín, một quy trình phê duyệt hiệu quả trong một khung thời gian rất chặt chẽ và đổi mới trong các phương án tài chính của tập đoàn.
3 Li et al. PFI Vương quốc - Các quan trọng nhất, theo thứ tự quan trọng (2005) Anh giảm dần, là: một tập đoàn tư nhân mạnh, phân [118] bổ rủi ro phù hợp, thị trường tài chính sẵn có, cam kết/trách nhiệm của khu vực công/tư, đánh giá chi phí/lợi ích kỹ lưỡng và thực tế, khả thi về mặt kỹ thuật, các cơ quan khu vực công được tổ chức tốt, và quản trị tốt. - Nhân tố ảnh hưởng được phân thành năm nhóm yếu tố chính: hiệu quả đầu tư, khả năng thực hiện dự án, bảo lãnh chính phủ, điều kiện kinh tế thuận lợi và thị trường tài chính sẵn có. 4 Qiao et al.
BOT Trung Quốc Tám nhân tố độc lập bao gồm: nhận dạng dự án (2001) phù hợp, tình hình chính trị và kinh tế, gói tài chính hấp dẫn, mức thu phí/thuế quan chấp nhận và phân [95] bổ rủi ro hợp lý, lựa chọn nhà thầu phụ phù hợp, kiểm soát quản lý và chuyển giao công nghệ. 5 Zhang PPP International Năm khía cạnh chính của nhân tố được xác định: (2005) khả năng kinh tế, phân bổ rủi ro phù hợp thông [105] qua các thỏa thuận hợp đồng đáng tin cậy, gói tài chính hợp lý, tập đoàn nhượng quyền đáng tin cậy với sức mạnh kỹ thuật mạnh mẽ và môi trường đầu tư thuận lợi. Nguồn: Tổng hợp từ tác giả Danh sách nhân tố ảnh hưởng đến thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển KCHT theo phương thức đối tác công tư, cũng có thể được tìm thấy trong các tài liệu khác (Eaton et al., 2006; Grant, 1996; Tiong, 1996; Zhang, 2001). Tranfied et al.
(2005) nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của sự phối hợp giữa các dự án, giữa các chức m 12 năng và giữa các tổ chức. Reijniers (1994) cho rằng nguyên nhân của các vấn đề của PPP chịu ảnh hưởng lớn liên quan đến công tác tổ chức và quản lý, gồm: hình thành người ra quyết định một phần của nhóm dự án ngay từ khi bắt đầu dự án; kết quả phải được đo lường để có thể theo dõi tiến độ của dự án; dự án nên được định hướng mục tiêu và tập trung vào kết quả; cần có giám sát tiến độ định kỳ trong quá trình thực hiện; cần có một nhóm dự án độc lập và một người lãnh đạo dự án độc lập, người này sẽ báo cáo cho một ban chỉ đạo bao gồm các đại diện hàng đầu từ cả khu vực công và tư nhân; rủi ro chính trị và kinh tế nên được xem xét ở giai đoạn đầu; cần có các phương pháp và thỏa thuận đầy đủ và rõ ràng và cần có sự tin tưởng lẫn nhau. Ngoài ra, Klijn và Teisman (2003) cho rằng thu hút khu vực tư nhân đầu tư phát triển KCHT theo phương thức PPP cần kết hợp tốt ba yếu tố: sự phức tạp của thành phần đối tác, yếu tố thể chế và lựa chọn chiến lược của các tác nhân công và tư. Mặc dù danh sách các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút các dự án PPP có sự khác biệt nhất định giữa các nghiên cứu, tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển KCHT giao thông theo phương thức đối tác công tư phụ thuộc vào: thẩm quyền của chính phủ; việc lựa chọn một đối tác nhượng quyền thích hợp; phân bổ rủi ro thích hợp giữa khu vực công và tư nhân; và một gói tài chính hợp lý.
Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến PPP tập trung vào bốn khía cạnh này (Hình 1. Vai trò và trách nhiệm của chính phủ Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển một dự án PPP dẫn đến thành công hay thất bại của dự án. Ví dụ như : Dự án Hệ thống Giao thông trên cao của Bangkok - Bangkok Elevated Transport System (BETS) - ở Thái Lan. BETS là một dự án PPP kiểu BOT, được lên kế hoạch để xây dựng một hệ thống đường sắt và đường trên cao dài 60 km qua trung tâm của thủ đô.
Hopewell, đối tác được nhượng quyền, đã được cấp quyền thu phí trong 30 năm và phát triển m 13 900.000 m2 đất dọc theo tuyến đường được đề xuất (Zhang, 2001). Dự án này cuối cùng đã bị Chính phủ Thái Lan chấm dứt. Sự thay đổi đột ngột yêu cầu của chính phủ và việc thiếu sự hỗ trợ của chính phủ trong việc giải quyết những mâu thuẫn với một số tuyến đường thu phí cạnh tranh lân cận đã được xác định là nguyên nhân dẫn đến thất bại dự án. Các nhà nghiên cứu đã làm rõ vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ các dự án PPP (Bảng 1.