Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kiến trúc với đề tài "Tổ chức không gian nội thất phòng học trong các trường mẫu giáo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo", mã số chuyên ngành 9.01 (Kiến trúc), được nghiên cứu sinh Nguyễn Việt Khoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Nam tại Trường Đại học Xây dựng vào năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu tái cấu trúc nguồn nhân lực, trong đó năng lực sáng tạo trở thành yếu tố quyết định giá trị lao động của xã hội. Để đáp ứng nhu cầu này, hệ thống giáo dục Việt Nam đang chuyển dịch từ mô hình truyền thụ kiến thức thụ động sang mô hình giáo dục lấy người học làm trung tâm, khuyến khích trẻ tự nhận thức và hình thành tư duy phản biện ngay từ bậc học mầm non (lứa tuổi 3–5 tuổi). Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng trường mẫu giáo tại Việt Nam bộc lộ sự bất cập lớn: cơ sở vật chất và không gian kiến trúc nội thất phòng học vẫn duy trì cấu trúc khô cứng, mang tính bao che và quản lý trật tự, chưa tương thích với các phương pháp giáo dục hiện đại. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu hụt cơ sở lý luận và các giải pháp thiết kế kiến trúc nội thất cụ thể có khả năng kích thích, hỗ trợ năng lực tư duy sáng tạo của trẻ trong không gian phòng học mẫu giáo.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hình thành hệ thống giải pháp kiến trúc nội thất có khả năng hỗ trợ phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho trẻ mẫu giáo, phù hợp với triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm. Các mục tiêu cụ thể được xác định thành hai nhóm nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu về không gian kiến trúc phòng học mẫu giáo:
    • Làm rõ cấu trúc không gian và chức năng không gian phòng học theo hướng phát triển tư duy sáng tạo.
    • Nghiên cứu mặt bằng và điều chỉnh chỉ tiêu diện tích mặt bằng không gian nội thất phòng học.
    • Xác lập giải pháp cho các thành phần cơ bản cấu thành không gian nội thất (tường, trần, sàn, chiếu sáng, màu sắc).
  2. Nghiên cứu về thiết bị và đồ nội thất phòng học mẫu giáo:
    • Nghiên cứu khả năng chuyển đổi linh hoạt của trang thiết bị và đồ nội thất.
    • Hình thành các đơn nguyên thiết bị và đồ nội thất chuyên biệt.
    • Áp dụng hệ thống module điều phối kích thước cho thiết bị và đồ nội thất tương thích với không gian kiến trúc.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Không gian nội thất các phòng học mẫu giáo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo tại Việt Nam.
  • Khách thể nghiên cứu: Các trường mầm non, phòng học trường mẫu giáo thuộc hệ thống giáo dục tại các đô thị của Việt Nam. Địa bàn khảo sát thực tế gồm 3 thành phố lớn: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Tập trung vào không gian kiến trúc nội thất phòng học mẫu giáo, trong đó trọng tâm là phòng sinh hoạt chung (SHC) – nơi diễn ra phần lớn hoạt động sinh hoạt, vui chơi và học tập ban ngày của trẻ.
    • Về thời gian: Khung thời gian dự báo và ứng dụng giải pháp từ thời điểm nghiên cứu đến năm 2035.
    • Về lứa tuổi: Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (độ tuổi mẫu giáo).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận các bài học quốc tế và khảo sát thực nghiệm tại các cơ sở giáo dục mầm non trong nước nhằm xác lập vị trí nghiên cứu.

Các công trình và mô hình nghiên cứu quốc tế

Tác giả đã phân tích kinh nghiệm thiết kế không gian kiến trúc mẫu giáo tại một số quốc gia:

  • Nhật Bản:
    • Trường mẫu giáo Fuji (Tokyo): Do Tezuka Architects (KTS. Takaharu Tezuka) thiết kế năm 2007 cho 600 trẻ (3–6 tuổi). Công trình loại bỏ vách ngăn cứng giữa các lớp, thiết kế mái hình oval làm sân chơi liên tục và sử dụng các khối đồ gỗ hộp để phân chia không gian ước lệ, thiết lập nguyên tắc "trẻ tự định hình không gian".
    • Trường mẫu giáo Hanazono (Okinawa): Do KTS. Taku Hibino thiết kế năm 2015 với diện tích 1.107 m2, phân chia mặt bằng theo phương đứng (tầng trệt dành cho vận động, vẽ, ăn uống tập thể; tầng 2 dành cho đọc truyện, góc giày hộp và các phòng ngủ tĩnh).
    • Trường mẫu giáo Dai-Ichi Yochien (Kumamoto): Do Hibino Sekkei thiết kế với hệ thống sân trong có mái đóng mở linh hoạt, tích trữ nước mưa làm sân chơi vào mùa hè và chuyển đổi thành sân trượt băng vào mùa đông.
  • Italia: Trường mẫu giáo Barbapapà (Modena) do KTS. Luca Ciaffoni và cộng sự thiết kế (2008–2009) trên khu đất 5.600 m2 (diện tích sàn 1.158 m2) cho 60 trẻ, với 4 nhóm lớp và 1 phòng sinh hoạt chung bám theo sườn đồi, sử dụng mái dốc trồng cỏ cách nhiệt và các vách kính thu nhận ánh sáng tự nhiên.
  • Cộng hòa Liên bang Đức: Trường Mẫu giáo Kita Troplo Beiersdorf AG (Hamburg) ứng dụng mô hình khối ghép module kiểu Lego trên mặt đứng và không gian bên trong, kết hợp gam màu xanh chủ đạo để định hướng trẻ tự do tiếp cận các phòng chức năng.
  • Các quốc gia khác: Mô hình không gian học tập tích hợp của Rosan Bosch Studio (Thụy Điển), trường Liceo Europa (Zaragoza, Tây Ban Nha), trường quốc tế Kensington (Bangkok, Thái Lan) và trường mẫu giáo Lê Cheng (Bắc Kinh, Trung Quốc).

Khảo sát thực trạng tại Việt Nam

Tác giả khảo sát thực địa tại ba đô thị đại diện:

  • Hà Nội: Trường Mẫu giáo Việt Triều Hữu nghị (thành lập 1978, phòng học 80–144 m2, hành lang bao quanh nhưng nội thất đơn chức năng, thiếu tiếp xúc thiên nhiên); Trường Mẫu giáo Việt - Bun (thành lập 1981, diện tích phòng học 90 m2 với phòng SHC 50 m2, đạt 2 m2/trẻ, khuôn viên 6.565 m2, đạt chuẩn quốc gia mức 2 nhưng cửa sổ nhỏ, nội thất cứng); Trường Thăng Long Kidsmart (5.058 m2, 63 phòng, dạng nhà 4 tầng hành lang bên, bố trí cửa sổ cao vượt tầm mắt trẻ 3–5 tuổi); Trường Quốc tế Sakura Montessori (5.200 m2, nội thất gỗ tự nhiên, thảm ước lệ); Trường Mầm non Vinschool Times City (phòng SHC kết hợp ngủ 40 m2, ứng dụng phương pháp Reggio Emilia và Montessori); Trường Mầm non Liễu Giai (diện tích bình quân phòng học dưới 1,5 m2/trẻ); Trường Mầm non tư thục Doremon 2 (không đạt chuẩn, phòng học 30 m2 kết hợp học, ăn, ngủ, sân chơi vỉa hè).
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Trường Mầm non Tuổi Thơ (Quận 1, cải tạo năm 2008 với kinh phí 8,5 tỷ đồng từ ngân sách, 1 trệt 3 lầu, 9 phòng học, nuôi dạy gần 300 trẻ nhưng không gian chật hẹp); Trường Mầm non Montessori Smiling Fingers (Quận Phú Nhuận, diện tích hơn 490 m2, 4 tầng, 7 phòng hoạt động, giáo cụ gỗ nhập từ Ấn Độ).
  • Đà Nẵng: Điển hình như trường Mầm non ABC và các nhóm lớp công lập, dân lập trên địa bàn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận trường mầm non dưới góc độ quy hoạch tổng thể, giải pháp kiến trúc vỏ bao che hoặc tiêu chuẩn xây dựng chung mà chưa đi sâu vào vi khí hậu nội thất và trang thiết bị học tập tác động đến tư duy sáng tạo. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập các nguyên tắc tổ chức không gian nội thất phòng sinh hoạt chung linh hoạt kết hợp với hệ thống đồ đạc nội thất module hóa có khả năng lắp ráp, chuyển hóa chức năng theo nhu cầu của trẻ 3–5 tuổi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng các cơ sở lý luận đa ngành:

  • Tâm sinh lý và nhân trắc học trẻ mẫu giáo: Khai thác các chỉ số thể lực (chiều cao, cân nặng theo độ tuổi), dữ liệu nhân trắc tư thế đứng và ngồi của trẻ 3–5 tuổi theo tiêu chuẩn y tế để xác định thông số trang thiết bị nội thất.
  • Nhịp sinh học và ánh sáng: Cơ sở biến đổi nồng độ hormone melatonin và cortisol theo chu kỳ chiếu sáng tự nhiên trong ngày, mối quan hệ giữa quang phổ đèn huỳnh quang, đèn LED và ánh sáng tự nhiên với năng lực tập trung của trẻ. Luận án phân tích 4 chế độ chiếu sáng động của hệ thống Philips SchoolVision (bình thường, năng lượng, tập trung, yên bình).
  • Khung lý luận về năng lực và tư duy sáng tạo: Cấu trúc khung 4 năng lực cơ bản gồm năng lực theo vai trò (role-specific competencies), năng lực cốt lõi (core competencies), năng lực chuyên môn (technical competencies) và năng lực hành vi (behavior competencies). Tư duy sáng tạo ở trẻ 3–5 tuổi được xác định là năng lực vượt qua khuôn mẫu hành động truyền thống, học thông qua khám phá, trải nghiệm môi trường vật lý.
  • Khung phân tích không gian kiến trúc:
    • Mô hình không gian đa cấp độ (cá nhân – nhóm – chung).
    • Không gian giáo dục STEM mầm non.
    • Không gian tiếp biến thiên nhiên và không gian tự do, phi tuyến tính.
    • Hệ thống điều hợp không gian: lưới trực giao (vuông góc), xiên góc và hướng tâm.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu kết hợp:

  1. Phương pháp điều tra hiện trường: Đo đạc thực địa, chụp ảnh, ghi nhận thực trạng sử dụng không gian và phân bố trang thiết bị tại các trường mầm non ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
  2. Phương pháp tổng hợp, thống kê: Phân tích số liệu phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, biểu đồ tăng số lượng trẻ và giáo viên giai đoạn 2014–2018, số trẻ bình quân/lớp, bảng biến động học phí và chi phí đầu tư.
  3. Phương pháp phân tích: So sánh mối quan hệ giữa phương pháp giáo dục (truyền đạt thụ động so với tự nhận thức), phân tích tỷ lệ diện tích, mối quan hệ giữa ranh giới đóng – mở – bán lộ thiên.
  4. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia kiến trúc công trình công cộng, kiến trúc nội thất và chuyên gia sư phạm mầm non.
  5. Phương pháp dự báo: Xác định xu hướng thay đổi nhân khẩu học, nhu cầu xã hội hóa giáo dục mầm non đến năm 2035 để dự phóng các thông số diện tích và cấu trúc lớp học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các văn bản quy chuẩn xây dựng hiện hành (tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non), báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đồ án thiết kế quốc tế đã công bố và dữ liệu khảo sát trực tiếp của tác giả tại các trường mầm non công lập, tư thục và quốc tế trên địa bàn nghiên cứu.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Tổng quan tổ chức không gian nội thất phòng học trong các trường mẫu giáo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo

Chương này tập trung phân tích bối cảnh phát triển giáo dục mầm non, đánh giá kinh nghiệm quốc tế và khảo sát thực trạng nội thất phòng học mẫu giáo tại Việt Nam.

Tác giả chỉ rõ các xu hướng thiết kế quốc tế nổi bật: tích hợp không gian đóng, bán lộ thiên (hiên) và lộ thiên (sân trong) thành dòng chảy liên tục (trường Fuji); bố trí công năng theo tính chất động – tĩnh theo phương đứng (trường Hanazono); đưa thiên nhiên vào sâu trong nội thất thông qua các mảng kính lớn và mái dốc bám địa hình (trường Barbapapà); sử dụng hình khối module tương tự đồ chơi Lego nhằm kích thích sự tò mò của trẻ (trường Kita Troplo).

Khảo sát thực trạng tại 3 thành phố lớn cho thấy sự phân hóa rõ nét về điều kiện cơ sở vật chất:

Tên trường khảo sát Địa bàn Quy mô diện tích / phòng học Chỉ tiêu diện tích / trẻ Đặc điểm không gian nội thất và hạn chế thực tế
MG Việt Triều Hữu nghị Đống Đa, Hà Nội Khuôn viên 3.970 m2; 17 phòng học; diện tích 80–144 m2/phòng Đảm bảo diện tích phòng, nhưng sĩ số lớp quá tải Hành lang bao quanh; bàn ghế nội thất đơn chức năng; giảng dạy đóng kín; thiếu ánh sáng tự nhiên và cây xanh.
MG Việt - Bun Hai Bà Trưng, Hà Nội Khuôn viên 6.565 m2; 18 phòng học (~90 m2/lớp, phòng SHC 50 m2) Đạt 2 m2/trẻ (quy định 1,7 m2/trẻ) Trường chuẩn quốc gia mức 2; cửa sổ kích thước nhỏ, thiếu chiếu sáng tự nhiên; nội thất sắp đặt cố định bởi giáo viên.
Thăng Long Kidsmart Cầu Giấy, Hà Nội Khuôn viên 5.058 m2; 63 phòng; nhà 4 tầng hành lang bên Không gian phòng hình chữ nhật cố định Kiến trúc kiểu trường phổ thông; cửa sổ mở trên cao vượt tầm nhìn trẻ 3–5 tuổi; thiếu không gian mở ngoài trời.
Quốc tế Sakura Montessori Cầu Giấy, Hà Nội Khuôn viên 5.200 m2; công trình 2 tầng Đạt tiêu chuẩn quốc tế Montessori Không gian mở linh hoạt; sử dụng nội thất gỗ tự nhiên; phân chia không gian học nhóm ước lệ bằng thảm màu; chiếu sáng tự nhiên tốt.
Mầm non Vinschool Times City, Hà Nội 5 khối lớp; 15–25 học sinh/lớp Phòng SHC-ngủ 40 m2; học chức năng 40 m2 Thiết kế nằm trong khu đô thị; diện tích cửa sổ mở nhỏ so với diện tích sàn; các chức năng ăn, ngủ, học diễn ra khép kín trong phòng SHC.
Mầm non Liễu Giai Ba Đình, Hà Nội 14 lớp học; phòng SHC-ngủ 30–35 m2; phòng học 30 m2 Dưới 1,5 m2/trẻ (sĩ số 20–25 bé/lớp) Diện tích phòng SHC chật hẹp, phải chuyển một số hoạt động sang phòng dùng chung; nội thất bố trí khô cứng theo công thức cũ.
Mầm non Doremon 2 Thanh Xuân, Hà Nội 4 lớp học (15–20 học sinh/lớp); phòng học 30 m2 ~1,5–2,0 m2/trẻ Trường tư thục không đạt chuẩn; không có sân chơi riêng (sử dụng vỉa hè); khu vệ sinh và kho đặt ngay trong phòng SHC.
Mầm non Tuổi Thơ Quận 1, TP.HCM Sàn 1.000 m2; 4 tầng (1 trệt 3 lầu); 9 phòng học, 8 phòng chức năng Nuôi dạy gần 300 trẻ (25 tháng – 5 tuổi) Cải tạo từ trường cũ; phòng học và phòng chức năng chật hẹp, cửa sổ nhỏ; trang thiết bị nội thất thiếu đồng bộ.
Smiling Fingers Phú Nhuận, TP.HCM Sàn >490 m2; 4 tầng; 7 phòng hoạt động và chức năng Thiết kế theo mô hình Montessori Sử dụng giáo cụ gỗ nhập khẩu từ Ấn Độ; trang bị nội thất gỗ tự nhiên; không gian yên tĩnh nhưng thiếu diện tích sân vườn ngoài trời.

Chương 1 kết luận: Các trường mầm non hiện nay chủ yếu tổ chức không gian phòng học theo nguyên tắc truyền đạt, đồ nội thất đơn chức năng, thiếu tính linh hoạt chuyển đổi, diện tích cửa sổ lấy sáng hạn chế và ngăn cách với thiên nhiên bên ngoài.

CHƯƠNG 2: Cơ sở khoa học cho việc tổ chức không gian nội thất phòng học trong các trường mẫu giáo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo

Chương 2 thiết lập hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý định hình không gian nội thất mầm non:

  • Cơ sở tâm sinh lý và nhân trắc: Dựa trên Bảng 2.1 (chiều cao, cân nặng chuẩn của trẻ em Việt Nam) và các biểu đồ nhân trắc tư thế đứng, ngồi của Bộ Y tế, xác lập kích thước cơ bản của bàn ghế, kệ tủ tương thích với tầm với của trẻ mẫu giáo. Phân tích tác động của chiếu sáng tự nhiên tới sự tiết hormone melatonin và cortisol, khẳng định ánh sáng mặt trời quyết định sự cân bằng sinh học, sự tỉnh táo và khả năng tập trung của trẻ.
  • Cơ sở không gian kiến trúc kích thích sáng tạo:
    • Mô hình không gian đa cấp độ: Cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa hoạt động độc lập của từng cá nhân, hoạt động nhóm nhỏ (2–4 trẻ) và hoạt động tập trung toàn lớp.
    • Mô hình không gian giáo dục STEM: Thiết lập các góc thí nghiệm, khám phá vật liệu mở.
    • Yếu tố thiên nhiên: Cây xanh, ánh sáng, thông gió tự nhiên được coi là thành phần hữu cơ của nội thất chứ không đơn thuần là cảnh quan bên ngoài.
    • Hình thái phi tuyến tính và không gian tự do: Sử dụng đường cong, mảng tường góc xiên hoặc không gian "phi vần luật" tạo dòng chảy chuyển động liên tục, khơi gợi trí tò mò của trẻ.
  • Cơ sở vật chất cấu thành nội thất: Quy chuẩn kỹ thuật về xử lý bề mặt tường (tích hợp bảng vẽ, mảng ghép tương tác), trần (treo đồ đạc tạo điểm nhấn thị giác), sàn (sử dụng vật liệu an toàn, phân chia khu vực ước lệ bằng vật liệu/màu sắc), màu sắc (kết hợp màu nền trung tính với các mảng nhấn gam nóng – lạnh cân bằng).
  • Cơ sở kinh tế, xã hội và pháp lý: Phân tích tốc độ gia tăng số lượng trẻ và giáo viên mầm non (2014–2018), áp lực sĩ số lớp, tỷ lệ chi phí đầu tư hàng tháng cho các loại hình trường, mối liên hệ giữa trình độ học vấn của phụ huynh với nhu cầu giáo dục chất lượng cao; rà soát hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế kiến trúc trường mầm non hiện hành tại Việt Nam.

CHƯƠNG 3: Các giải pháp tổ chức không gian nội thất phòng học trong các trường mẫu giáo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn chỉnh gồm quan điểm, nguyên tắc, tiêu chí đánh giá và hai nhóm giải pháp thiết kế:

Hệ thống quan điểm và nguyên tắc thiết kế

  • 3 quan điểm thiết kế:
    1. Không gian phòng học là không gian cho các hoạt động "vui chơi" (Học mà chơi, chơi mà học).
    2. Quan điểm thân thiện môi trường, phát triển bền vững.
    3. Module hóa hệ thống không gian và trang thiết bị nội thất.
  • 5 nguyên tắc thiết kế:
    1. Không gian phòng học là không gian linh hoạt đa chức năng.
    2. Không gian nội thất phòng học đa cấp độ.
    3. Không gian kiến trúc nội thất hòa nhập thiên nhiên.
    4. Các thành phần trang thiết bị và đồ nội thất lắp ráp chuyển hóa với nhau.
    5. Vật liệu nội thất an toàn và có nguồn gốc tự nhiên.

Nhóm tiêu chí đánh giá nội thất không gian phòng học

Luận án đề xuất hệ thống tiêu chí định lượng và định tính (thể hiện qua Bảng 3.1, 3.2, 3.3) để đánh giá chất lượng phòng học hướng tới phát triển tư duy sáng tạo, bao gồm: mức độ linh hoạt của mặt bằng, chỉ tiêu diện tích sử dụng/trẻ, diện tích chiếu sáng tự nhiên qua cửa sổ/mái, mức độ kết nối với không gian xanh ngoài trời, và khả năng tùy biến của đồ nội thất.

Nhóm giải pháp thứ 1: Tổ chức không gian kiến trúc phòng học

  • Cấu trúc và phân vùng chức năng:
    • Phân vùng theo mức độ linh hoạt trên phương ngang thành 3 khu vực: Khu vực cố định (khu vệ sinh, kho, hệ thống kỹ thuật); Khu vực bán linh hoạt (khu vực ăn, góc học tập chuyên đề); Khu vực linh hoạt hoàn toàn (khu vui chơi trung tâm, nơi bàn ghế được dọn dẹp hoặc ghép đổi cấu trúc nhanh chóng).
    • Phân vùng không gian theo phương đứng: Sử dụng chênh cốt sàn, sàn lửng, tạo các hốc không gian cá nhân hoặc gầm giường ngủ kết hợp tủ chứa đồ.
    • Lựa chọn hình thức mặt bằng theo 3 kiểu bố cục: Bố cục kiểu chu vi (các không gian chức năng quây quanh một sân trong/lõi trung tâm); Bố cục kiểu tập trung (phòng sinh hoạt chung là tâm điểm, các khối phụ trợ tỏa ra); Bố cục kiểu hỗn hợp.
  • Điều chỉnh tiêu chuẩn diện tích: Kiến nghị nâng chỉ tiêu diện tích phòng sinh hoạt chung từ 1,5–1,8 m2/trẻ hiện hành lên mức tối ưu phù hợp với mô hình lớp học mở và tích hợp hoạt động vận động.
  • Giải pháp các thành phần kiến trúc: Thiết kế diện tường tích hợp mảng bảng vẽ, ray trượt lắp ghép tranh; trần thiết kế hệ thống chiếu sáng nhân tạo mô phỏng ánh sáng tự nhiên; sàn sử dụng gỗ công nghiệp chịu nước hoặc thảm xốp chống va đập.

Nhóm giải pháp thứ 2: Trang thiết bị và đồ nội thất

  • Đề xuất đơn nguyên chức năng: Thiết lập các khối đơn nguyên độc lập nhưng có khả năng tích hợp:
    • Đơn nguyên học tập: Bàn ghế có khớp nối, có bánh xe khóa định vị, cho phép một trẻ dùng riêng hoặc ghép 4–6 trẻ thành bàn nhóm lớn.
    • Đơn nguyên tủ kệ: Kệ đựng sách và đồ chơi thiết kế theo chiều cao trẻ, các hộp chứa dạng module có thể rút ra làm ghế ngồi hoặc khối xếp hình.
    • Đơn nguyên khối ăn: Bàn ăn gấp gọn âm tường hoặc tích hợp vào hệ tủ vách.
    • Đơn nguyên khối ngủ: Giường lưới hoặc đệm xốp dạng module xếp chồng theo cả phương ngang và phương đứng, giải phóng hoàn toàn mặt sàn phòng SHC trong giờ chơi.
  • Giải pháp lắp ráp chuyển đổi: Ứng dụng quy luật phân chia hình học phẳng (tam giác, vuông) và khối lập phương tương tự trò chơi Lego; các tấm mặt bàn, vách ngăn mini có khớp mộng cài tháo lắp dễ dàng, cho phép trẻ tự tay thay đổi hình dạng bàn ghế dưới sự trợ giúp của giáo viên.
  • Hệ thống module điều phối kích thước: Xác lập hệ module chuẩn (Bảng 3.4) làm cơ sở phối hợp kích thước giữa bước cột, chiều cao phòng học với kích thước phủ bì của đồ nội thất, chuẩn hóa quy trình sản xuất công nghiệp hàng loạt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  • Xác lập quan điểm tiếp cận mới về không gian mầm non: Không gian phòng học trường mẫu giáo không đơn thuần là không gian trông giữ trẻ hay lớp học truyền thụ văn hóa khô cứng, mà là một không gian trải nghiệm mở, do chính trẻ tự định hình và hoàn thiện theo trí tưởng tượng của bản thân ("học qua chơi").
  • Hệ thống hóa cơ sở khoa học: Kết hợp các dữ liệu về nhân trắc học, nhịp sinh học theo ánh sáng tự nhiên với triết lý giáo dục lấy trẻ làm trung tâm để xây dựng 3 quan điểm và 5 nguyên tắc tổ chức không gian nội thất mầm non.
  • Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá: Đề xuất hệ thống chỉ số cụ thể nhằm đo lường mức độ tương thích của không gian kiến trúc nội thất đối với yêu cầu phát triển tư duy sáng tạo cho trẻ 3–5 tuổi.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp thiết kế

  • Giải pháp phân vùng và cấu trúc không gian: Đề xuất 3 mô hình tổ chức mặt bằng phòng học (chu vi, tập trung, hỗn hợp) và phân chia mức độ linh hoạt theo cả phương ngang (cố định, bán linh hoạt, linh hoạt hoàn toàn) và phương đứng.
  • Giải pháp trang thiết bị nội thất dạng đơn nguyên module hóa: Thiết kế hoàn chỉnh các đơn nguyên học tập, tủ kệ, khối ăn, khối ngủ xếp chồng; ứng dụng nguyên lý lắp ghép module kiểu Lego giúp đồ đạc có khả năng biến hình, chuyển đổi công năng nhanh chóng.
  • Hệ thống kích thước module chuẩn hóa: Đề xuất bảng thông số kích thước điều phối giữa không gian kiến trúc và trang thiết bị nội thất, tạo cơ sở cho việc thiết kế, sản xuất đồng bộ công nghiệp trang thiết bị học tập mầm non tại Việt Nam.

Kiến nghị và đề xuất

  • Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Bộ Xây dựng rà soát, điều chỉnh các tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non theo hướng tăng diện tích phòng sinh hoạt chung/trẻ và quy định tỷ lệ tối thiểu cho chiếu sáng tự nhiên.
  • Khuyến nghị các cơ sở giáo dục chuyển đổi trang thiết bị nội thất đơn chức năng sang hệ thống đồ gỗ module hóa tháo lắp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi không gian hẹp: Luận án chỉ tập trung chuyên sâu vào không gian phòng học (cụ thể là phòng sinh hoạt chung), chưa giải quyết chi tiết các không gian chức năng phụ trợ khác trong trường mẫu giáo (khu vực hành chính, khu bếp ăn tập trung, sân chơi chung ngoài trời).
  • Địa bàn khảo sát: Dữ liệu khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại 3 đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) – nơi có điều kiện kinh tế và khả năng tiếp cận các phương pháp giáo dục mới, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng trường mầm non tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.
  • Giới hạn lứa tuổi: Luận án khu biệt nhóm đối tượng trẻ mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi, không mở rộng sang nhóm trẻ nhà trẻ (dưới 3 tuổi).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu tổ chức không gian kiến trúc cho toàn bộ khuôn viên trường mẫu giáo, kết nối đồng bộ giữa nội thất phòng học với hệ thống cảnh quan sân vườn và sân chơi lộ thiên.
  • Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp module nội thất phòng học thích ứng với các cơ sở mầm non cải tạo có diện tích hạn chế hoặc các trường mầm non tại địa bàn nông thôn.
  • Thử nghiệm sản xuất và đánh giá thực nghiệm tác động tâm lý, hành vi của trẻ khi sử dụng hệ thống bàn ghế, tủ kệ module lắp ghép tự định hình trong thời gian dài.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Kiến trúc, Kiến trúc Nội thất: Luận án cung cấp tài liệu lý luận và phương pháp luận chuyên sâu về thiết kế công trình giáo dục mầm non theo định hướng phát triển năng lực cá nhân.
  • Kiến trúc sư và các đơn vị tư vấn thiết kế: Nguồn tham khảo trực tiếp các giải pháp phân vùng mặt bằng, cấu trúc không gian đa cấp độ và chi tiết cấu tạo các thành phần bao che (tường, trần, sàn, chiếu sáng).
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo): Cung cấp cơ sở khoa học để nghiên cứu, sửa đổi hoặc ban hành mới các quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non và danh mục thiết bị dạy học chuẩn quốc gia.
  • Các nhà sản xuất trang thiết bị nội thất giáo dục: Ứng dụng hệ thống module điều phối kích thước để sản xuất hàng loạt các sản phẩm bàn ghế, tủ kệ đồ chơi lắp ghép cho trường mầm non.

Các nội dung đáng tham khảo nhất

  • Bảng tổng hợp số liệu khảo sát thực tế tại các trường mầm non công lập, tư thục và quốc tế ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong Chương 1.
  • Hệ thống cơ sở nhân trắc, nhịp sinh học theo ánh sáng và mô hình phân tích không gian đa cấp độ trong Chương 2.
  • Bảng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng nội thất và bản vẽ chi tiết các đơn nguyên chức năng, module tháo ghép đồ nội thất trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lại chọn không gian phòng sinh hoạt chung (SHC) làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm?

Trong cấu trúc trường mẫu giáo, phòng sinh hoạt chung là không gian quan trọng nhất, nơi diễn ra hầu hết các hoạt động trong ngày của trẻ từ 3 đến 5 tuổi: học tập, vui chơi, ăn uống và nghỉ trưa. Đây là môi trường vật chất trực tiếp tác động liên tục đến giác quan, hành vi và tâm sinh lý của trẻ, do đó việc tổ chức nội thất phòng SHC mang tính quyết định đến việc kích thích hay kìm hãm tư duy sáng tạo của trẻ.

2. Mô hình Trường mẫu giáo Fuji (Nhật Bản) đóng góp bài học kiến trúc gì cho luận án?

Trường mẫu giáo Fuji của KTS. Takaharu Tezuka cung cấp bài học về việc xóa bỏ ranh giới ngăn cách giữa các lớp học và giữa trong nhà với ngoài trời. Bằng cách thiết kế công trình hình bầu dục với mái làm sân chơi liên tục và phân chia không gian bên trong bằng các khối hộp gỗ thay cho tường gạch, công trình xác lập nguyên tắc "trẻ tự định hình không gian", biến toàn bộ trường học thành không gian mở phục vụ hoạt động vui chơi tự do của trẻ.

3. Hệ thống chiếu sáng động Philips SchoolVision được đề cập trong luận án có ý nghĩa gì đối với tâm lý học sinh?

Hệ thống này cung cấp 4 kịch bản chiếu sáng (bình thường, năng lượng, tập trung, yên bình) tương ứng với các mức nhiệt độ màu và cường độ sáng khác nhau. Luận án chỉ ra rằng sự thay đổi này giúp điều hòa nồng độ hormone melatonin và cortisol trong cơ thể trẻ, hỗ trợ giảm căng thẳng, tăng cường sự tỉnh táo trong các giờ học tập trung hoặc tạo cảm giác thư giãn trong giờ nghỉ ngơi.

4. Giải pháp "module hóa trang thiết bị nội thất" của luận án được vận hành như thế nào?

Trang thiết bị nội thất (bàn, ghế, tủ kệ, giường ngủ) được thiết kế dựa trên một hệ module kích thước thống nhất, cấu tạo từ các tấm phẳng chia tam giác hoặc khối lập phương tương tự trò chơi Lego với số lượng chi tiết thành phần hạn chế. Giáo viên và trẻ có thể dễ dàng lắp ráp, xếp chồng hoặc tháo rời các khối để nhanh chóng chuyển đổi công năng phòng học từ giờ học tập trung sang giờ chơi nhóm, giờ ăn hoặc giờ ngủ.

5. Khảo sát thực tế tại Hà Nội chỉ ra hạn chế phổ biến nào của các trường mầm non công lập và tư thục?

Hạn chế phổ biến là sự thiếu hụt diện tích phòng SHC (nhiều nơi chỉ đạt dưới 1,5 m2/trẻ), phòng học có xu hướng khép kín, cửa sổ nhỏ hoặc đặt cao hơn tầm nhìn của trẻ 3–5 tuổi khiến không gian thiếu ánh sáng tự nhiên và cách biệt với cây xanh. Đồng thời, trang thiết bị nội thất chủ yếu là đồ đạc cố định, đơn chức năng, được bài trí theo ý muốn áp đặt của người lớn và chỉ phục vụ phương pháp giảng dạy truyền đạt thụ động.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Việt Khoa đã giải quyết vấn đề bất cập giữa yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non và thực trạng cơ sở vật chất phòng học mẫu giáo tại Việt Nam hiện nay. Bằng việc tích hợp các cơ sở khoa học về tâm sinh lý trẻ, nhịp sinh học ánh sáng và triết lý lấy người học làm trung tâm, tác giả đã xây dựng hệ thống giải pháp tổ chức không gian nội thất linh hoạt kết hợp với thiết bị module hóa kiểu lắp ráp. Đây là công trình nghiên cứu chuyên ngành kiến trúc nội thất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu và phương pháp luận rõ ràng cho việc thiết kế, thẩm định và chuẩn hóa không gian học tập mầm non tại các đô thị Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.