Chương 1, tác giả chủ yếu trình bày về mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là: phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất hàm ý chính sách góp phần nâng cao tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp thông tin từ các nghiên cứu, số liệu sơ cấp và thứ cấp từ các tài liệu sẵn có để hình thành khung lý thuyết, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Về số liệu, tài liệu qua điều tra, khảo sát của luận án đã đánh giá tuân thủ thuế và các hàm ý chính sách nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT ở Đồng Nai. Sau đây, tác giả tiếp tục trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ở chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết hành vi tuân thủ thuế Đối với mọi quốc gia trên toàn thế giới thì thuế là nguồn thu chủ yếu của các quốc gia này, ngoài ra, thuế còn là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức cũng như cá nhân phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện đối với ngân sách Nhà nước. Theo như khái niệm được đề cập trong giáo trình thuế của học viện tài chính năm 2008: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu, 2008).
Từ khái niệm này ta có thể thấy tuân thủ thuế là khoản bắt buộc được quy định trong pháp luật của mọi quốc qua, cả ở quốc gia phát triển cũng như quốc gia đang phát triển. Do đó các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế nhằm tạo nguồn thu ngân sách cho quốc gia đó. Theo quan điểm truyền thống cho rằng: Hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ Pháp luật thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của Cơ quan thuế hoặc do lợi ích kinh tế. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu tranh luận về tuân thủ Pháp luật thuế tự nguyện hay không tự nguyện.
Theo Phạm Minh Tiến và cộng sự (2016), tuân thủ thuế là một vấn đề lớn đối với nhiều cơ quan thuế và việc thuyết phục người nộp thuế tuân thủ các yêu cầu về thuế không phải là một nhiệm vụ dễ dàng mặc dù luật thuế không phải lúc nào cũng chính xác. Do đó, tuân thủ thuế có nhiều định nghĩa khác nhau, tác giả sẽ sơ lược những khái niệm chính theo dòng thời gian như sau: Cùng quan điểm trên, theo tác giả Chobek (2017), tuân thủ Pháp luật thuế bao gồm khai báo thu nhập và nộp thuế phù hợp với Luật thuế, quy chế và những quyết định của Tòa. Tương tự, Allingham và Sandmo (2017) nhấn mạnh rằng tuân thủ luật thuế được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế tuân theo pháp luật về thuế để đạt được trạng thái cân bằng kinh tế của một quốc gia. 10 Tiếp cận đơn giản hơn, theo Bộ Tài chính (2015), tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong Luật thuế.
Tương tự, theo Doreen và cộng sự (2017) thì tuân thủ Pháp luật thuế là kê khai đúng thu nhập tính thuế, làm đúng nghĩa vụ pháp lý (sự chính xác), kê khai thu nhập đúng hạn, và thanh toán số tiền khi tới hạn (tính chất kịp thời). Theo nghiên cứu của Kanbiro (2018) định nghĩa tuân thủ thuế đề cập đến sự đồng ý của mọi người để tuân thủ với những quy định từ việc khai thuế đến nộp thuế. Cũng theo nghiên cứu của Larissa và cộng sự (2012) nhận thấy một định nghĩa đơn giản hơn, trong đó tuân thủ thuế là thuật ngữ trung lập nhất để mô tả mức độ sẵn sàng nộp thuế của người nộp thuế. Theo nghiên cứu của Loo và cộng sự (2009) cho rằng tuân thủ thuế có thể được gọi là quá trình khai thuế cần phải nộp cho cơ quan thuế được nộp vào thời điểm thích hợp với nghĩa vụ thuế chính xác theo yêu cầu của luật thuế và quy định của một quốc gia.
Như vậy, tác giả cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo thu nhập thực tế và cũng cho rằng hành vi tuân thủ bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hiểu biết trong tình huống người nộp thuế sẽ được hưởng khoản tiết kiệm thuế do thiếu thu nhập trong thời gian ngắn mà không xem xét đến việc gắn kết trả trong thời gian dài cho thu nhập chưa được khai báo ở mức phạt sẽ cao hơn số tiền họ đã trả nếu họ khai báo thu nhập đúng vào đúng thời điểm. Mới đây nhất, nhiều quốc gia và các nhà nghiên cứu trên thế giới đang coi khái niệm về tuân thủ thuế của OECD (2004) là tiêu chuẩn khi định nghĩa: Tuân thủ thuế là mức độ mà người nộp thuế tuân thủ (hoặc không tuân thủ) các quy tắc thuế của quốc gia anh ta, ví dụ, bằng cách khai báo thu nhập, khai thuế và nộp thuế kịp thời cách thức. Trong điều kiện tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019 quy định nghĩa vụ của doanh nghiệp nộp thuế (DNNT) gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, 11 chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt DNNT thực hiện thủ tục về thuế sai quy định. Như vậy, tuân thủ thuế là thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế theo đúng các quy định tại các luật thuế, DNNT tự giác và có ý thức tuân thủ hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình, cơ quan thuế có nhiệm vụ chủ yếu tuyên truyền, giáo dục, theo dõi, giám sát, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế, ngăn chặn xử lý các hành vi không tuân thủ thuế (Nicoleta, 2011).2 Lý thuyết hành vi không tuân thủ thuế Nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của của mọi công dân và doanh nghiệp.
Theo OECD (2004) nghĩa vụ cụ thể của DNNT có thể khác nhau ở từng quốc gia, nhưng nhìn chung có 4 loại nghĩa vụ mà DNNT chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào đó là: (1) Đăng ký thuế, (2) Nộp tờ khai thuế, (3) Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác, (4) Nộp thuế đúng hạn. Đối nghịch với tuân thủ thuế là hành động không tuân thủ thuế (OECD, 2004). Sự không tuân thủ thuế được gọi là sự trốn tránh trong việc đóng thuế thông qua nghiên cứu của các tác giả Reriksen và Fallan (2016). Ngoài ra, theo tác giả Marti (2010) định nghĩa sự không tuân thủ thuế là không tuân thủ luật pháp và báo cáo thu nhập không chính xác.
Người nộp thuế khác nhau về các cơ hội có sẵn cho họ trong chi phí vượt mức và thu nhập dưới mức. Theo Richard (2018) lại cho rằng một số người nộp thuế không tuân thủ dựa trên sự thiếu hiểu biết về các vấn đề thuế không tuân thủ thuế không tự nguyện. Hệ thống tự đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của người nộp thuế. Nó phải đối mặt với nguy cơ không tuân thủ của người nộp thuế.
Thái độ của người nộp thuế đối với thuế thông qua hệ thống tự đánh giá này và đóng góp của nó vào khoảng trống lý luận về 12 thuế là một trong những mục tiêu chính của nghiên cứu này vì nó tương quan với sự tuân thủ của người nộp thuế và nhận thức của họ về báo cáo trách nhiệm pháp lý (Site và Gill, 2015). Theo Swistak (2016), sự tuân thủ thuế liên quan đến một hệ thống thuế cũng được xác định bởi các yếu tố kinh tế, yếu tố tâm lý, sự công bằng thuế, công bằng, tinh thần thuế và các chuẩn mực xã hội. Những điều này sẽ xác định thái độ của người nộp thuế và việc tuân thủ hệ thống thuế của họ. Theo nghiên cứu của Kenzel (2014) thì tồn tại 3 hình thức không tuân thủ thuế là: (1) không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng các khoản miễn giảm, hay khấu trừ.
Theo Lin và Valerie (2018) thì cho rằng tác động của hành vi trốn thuế và tránh thuế đến tâm lý của người nộp thuế là hoàn toàn khác nhau. Trốn thuế được đánh giá tiêu cực hơn tránh thuế. Kiến thức thuế của DNNT càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn, và được lựa chọn nhiều hơn để hạn chế nghĩa vụ thuế phải nộp. Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì DNNT càng có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn.
Không tuân thủ thuế là không nộp tờ khai thuế của bất kỳ loại nào, không kê khai thu nhập, giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không trung thực các khoản khấu trừ, miễn giảm, loại trừ. Khảo sát của Thau và Teung (2019) xem xét về vấn đề trốn thuế ở một số quốc gia đang phát triển cho thấy tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập tiềm năng không phải là trường hợp cá biệt.