Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042) với đề tài "Sư trụ trì trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Bình thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lương Hồng Quang, bảo vệ tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Di sản văn hóa Phật giáo (DSVHPG) là một bộ phận cấu thành của di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu. Trong bối cảnh công cuộc Đổi mới và sự phát triển của kinh tế thị trường, nhiều cơ sở thờ tự Phật giáo được trùng tu, tôn tạo và trở thành điểm đến du lịch tâm linh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Tuy nhiên, thực tế quản lý di sản nảy sinh nhiều bất cập: tình trạng tự ý tu bổ làm sai lệch yếu tố gốc của di tích, thất thoát di vật, cổ vật, sự biến tướng thương mại hóa trong tổ chức nghi lễ, lễ hội, cùng với những mâu thuẫn về quyền sở hữu và quản lý giữa chính quyền, cộng đồng làng xã và nhà chùa.

Điều 10 Luật Di sản văn hóa quy định trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản thuộc về các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Đối với DSVHPG, sư trụ trì là người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động tại cơ sở tự viện. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ quản lý văn hóa về vai trò của sư trụ trì trong mối quan hệ tương tác với các bên liên quan đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích các hoạt động thực tiễn của sư trụ trì - một chủ thể văn hóa trong mối liên hệ với các bên liên quan khác - để làm rõ vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG trên cả ba phương diện: di sản vật thể, di sản phi vật thể và di sản tư liệu; từ đó đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy giá trị di sản cùng lý thuyết về vai trò và các bên liên quan trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG.
  2. Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, cụ thể: di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu.
  3. Đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Sư trụ trì đã có những hoạt động thực tiễn như thế nào trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?
  2. Các nhân tố nào đã tác động đến hoạt động của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?
  3. Cần có những định hướng, giải pháp như thế nào để nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, bên cạnh những hoạt động tích cực, nhiều sư trụ trì chưa nhận thức được vai trò, vị trí của mình, dẫn đến những hạn chế trong việc quản lý, sử dụng, tổ chức các hoạt động làm ảnh hưởng tiêu cực đến các DSVHPG. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn, cần có những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động thực tiễn của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG.
  • Khách thể nghiên cứu: 11 nhà sư đang trụ trì, quản lý 11 ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát 11 ngôi chùa miền Bắc đại diện cho các đặc điểm sở hữu, vị trí địa lý và cấp độ xếp hạng:
    • Hình thức sở hữu: Chùa thuộc sở hữu sơn môn (chùa Bổ Đà - Bắc Giang) và chùa thuộc sở hữu của cộng đồng làng xã (chùa Vĩnh Nghiêm - Bắc Giang; chùa Đồng Vàng, chùa Quýt, chùa Diên Phúc, chùa Hương, chùa Tảo Sách, chùa Trăm Gian, chùa Bằng A - Hà Nội; chùa Đồng Kỵ, chùa Phật Tích - Bắc Ninh).
    • Bối cảnh không gian: Vùng trung du (Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm), ven đô thị (Đồng Vàng, Quýt, Đồng Kỵ, Phật Tích, Diên Phúc, Hương, Trăm Gian) và đô thị (Tảo Sách, Bằng A).
    • Cấp độ xếp hạng di tích: Di tích Quốc gia đặc biệt (Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm, Hương, Phật Tích), Di tích Quốc gia (Tảo Sách, Bằng A, Diên Phúc, Đồng Kỵ, Trăm Gian) và di tích chưa xếp hạng (Đồng Vàng, Quýt).
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến năm 2018, đồng thời kết hợp phương pháp lịch sử để đối chiếu với các giai đoạn trước đó.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo 3 nhóm nội dung chính:

Các công trình về lịch sử và vai trò của Phật giáo Việt Nam

  • Giai đoạn trước năm 1975: Tiêu biểu có Thích Mật Thể với Việt Nam Phật giáo sử lược, Tuệ Giác với Việt Nam Phật giáo đấu tranh sử, Trần Văn Giáp với Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỉ XIII.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Các công trình lịch sử tổng quan của Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận), Nguyễn Tài Thư (Lịch sử Phật giáo Việt Nam), Nguyễn Đăng Thục (Lịch sử Phật giáo Việt Nam), Thích Minh Tuệ (Lược sử Phật giáo Việt Nam), Lê Mạnh Thát (Lịch sử Phật giáo Việt Nam gồm 3 tập), Nguyễn Duy Hinh (Lịch sử đạo Phật Việt Nam), Thích Đức Nghiệp (Đạo Phật Việt Nam).
  • Về tinh thần nhập thế và ảnh hưởng xã hội: Hà Văn Tấn (Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam), Nguyễn Duy Hinh và Lê Đức Hạnh (Phật giáo trong văn hóa Việt Nam), Nguyễn Thị Minh Ngọc (Phật giáo dân gian: Con đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam), Nguyễn Đại Đồng (Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến 1981), Hà Thúc Minh (Lịch sử tư tưởng Việt Nam và vấn đề Phật giáo), Minh Chi (Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội ta trước đây), Tăng Xuân Dẫn (Vai trò của các thiền sư trong văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay), Đỗ Ngây (Triết lí nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần), Nguyễn Thúy Thơm (Vai trò của Phật giáo đối với tín ngưỡng người Việt qua thời Trần), Nguyễn Khắc Đức (Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay), Nguyễn Thị Thúy Hằng (Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay), Đỗ Quang Hưng (Bước đầu suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa).

Các công trình về di sản văn hóa Phật giáo, bảo tồn và phát huy giá trị di sản

  • Nhận diện và quản lý DSVHPG: Đặng Văn Bài với các bài viết về tu bổ chùa Cầu, nhận diện DSVHPG, DSVHPG trong xã hội đương đại và đề tài khoa học cấp Nhà nước Bảo tồn và phát huy các giá trị DSVHPG Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; Hà Siêu (DSVHPG tạo sức hấp dẫn cho sản phẩm du lịch); Lưu Trần Tiêu (Bảo tồn những ngôi chùa và những ngôi đình ở đồng bằng Bắc bộ Việt Nam); Triệu Thế Việt (Tượng thờ thế kỷ XVII trong chùa Việt ở Bắc Bộ); Thân Quang Huy (Chùa Vĩnh Nghiêm và một số di tích liên quan đến Phật phái Trúc Lâm phía Tây Yên Tử); Nguyễn Thế Chính và Trần Trọng Dương (nghiên cứu về di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm); Nguyễn Văn Thủy (Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo); Nguyễn Hữu Toàn (Về xây dựng quy hoạch tổng thể các di tích lịch sử - văn hóa Phật giáo).
  • Nghiên cứu về kiến trúc, tượng thờ, đạo đức và nghi lễ: Các tác giả Đinh Viết Lực, Lê Tâm Đắc, Thích Hạnh Tùy, Đặng Thị Lan, Hoàng Thị Lan, Hoàng Thị Thơ, Lê Văn Đính, Hoàng Văn Nam, Lê Hữu Tuấn, Trương Bội Phong. Cùng với đó là các kỷ yếu hội thảo chuyên đề như Hội thảo Bảo tồn và phát huy DSVHPG xứ Đông (Hải Phòng, 2013), Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG Trúc Lâm (Hà Nội, 2016), Hội thảo Văn hóa Phật giáo Việt Nam - thống nhất trong đa dạng (Hà Nội, 2016).

Các công trình về vai trò của sư trụ trì và chức sắc Phật giáo

  • Nghiên cứu lịch sử: Thích Thanh Từ (Thiền sư Việt Nam), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX (2 tập), Nguyễn Duy Hinh (Văn minh Đại Việt), Nguyễn Bích Ngọc (Nhà Lý trong văn hóa Việt Nam, Nhà Trần trong văn hóa Việt Nam), Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Phật giáo đời Lý, Phật giáo đời Trần).
  • Nghiên cứu đương đại: Nguyễn Thị Minh Ngọc (Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ 1986 đến nay), đề tài nghiên cứu của Nguyễn Hồi Loan về hoạt động từ thiện xã hội của sư trụ trì, luận án của Phan Thị Lan (Thích Đàm Lan) về đạo đức Phật giáo tại quận Long Biên, đề tài cấp Nhà nước của Nguyễn Phúc Đàn về Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Các phân tích của Đặng Văn Bài chỉ rõ thực trạng ngộ nhận về quyền sở hữu chùa chiền và hai xu hướng ứng xử trái ngược của tăng ni, Phật tử (hoặc ỷ lại ngân sách nhà nước, hoặc tự ý sửa chữa làm biến dạng di tích).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận văn hóa Phật giáo dưới góc độ lịch sử, triết học, tôn giáo học hoặc nghiên cứu kiến trúc, mỹ thuật thuần túy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu dưới góc độ Quản lý văn hóa: tiếp cận sư trụ trì với tư cách là chủ thể quản lý tại cơ sở thờ tự, phân tích vai trò của sư trụ trì trong mối tương quan với các bên liên quan (Nhà nước, Giáo hội, cộng đồng làng xã), đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi và đề xuất các giải pháp chính sách quản lý đồng bộ đối với cả ba loại hình DSVHPG (vật thể, phi vật thể và tư liệu).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm Di sản văn hóa và DSVHPG: Luận án dựa trên Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009) để phân định di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; tiếp thu định nghĩa của UNESCO trong Chương trình Ký ức thế giới để xác định di sản tư liệu. Từ đó, tác giả định nghĩa DSVHPG là loại hình di sản hỗn hợp gồm các sản phẩm vật thể (chùa, tượng Phật, đồ thờ), phi vật thể (hệ tư tưởng, nghi lễ, lễ hội, âm nhạc) và tư liệu (mộc bản, văn bia, minh chuông) gắn với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam.
  • Khái niệm Sư trụ trì: Khảo cứu lịch sử danh xưng từ thời Đường qua Bách Trượng tòng lâm thanh quy và Sắc tu Bách Trượng thanh quy; viện dẫn văn bản quy phạm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Hiến chương GHPGVN, Nội quy Ban Tăng sự Trung ương) về tiêu chuẩn tấn phong, bổ nhiệm (trình độ thế học từ THPT, Phật học từ Trung cấp Phật học, tuổi đạo từ 5 hạ lạp trở lên) và trách nhiệm pháp lý của trụ trì trước Giáo hội và Nhà nước.
  • Lý thuyết vai trò (Role Theory): Tiếp thu các quan điểm xã hội học của Herbert Mead, Jacob L. Moreno, Talcott Parsons, Linton, Dahrendorf, Robert K. Merton và Erving Goffmann, kết hợp quan điểm duy vật biện chứng của C. Mác về tổ chức xã hội và hoạt động quản lý. Luận án vận dụng các khái niệm "bộ vai trò", "kỳ vọng vai trò", "xung đột vai trò" và "khoảng cách vai trò" để làm rõ vị thế kép của sư trụ trì: vừa là công dân chịu sự điều chỉnh của pháp luật nhà nước, vừa là chức sắc tôn giáo chịu sự quản lý của giáo luật và điều hành sinh hoạt tâm linh của cộng đồng.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Dựa trên mô hình phân tích bên liên quan của quản lý học hiện đại và khung 8 nấc thang tham gia của Sherry R. Arnstein (1969) để đánh giá mức độ tham gia thực tế của sư trụ trì, cộng đồng địa phương và cơ quan nhà nước vào các quyết định bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điền dã: Thâm nhập thực tế, quan sát tham dự các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tu bổ và tiến hành phỏng vấn sâu 11 sư trụ trì, đại diện cơ quan quản lý văn hóa các cấp, các nhà khoa học và người dân địa phương.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo và xin ý kiến định hướng từ các chuyên gia quản lý di sản, nhà nghiên cứu văn hóa ở cấp tỉnh và trung ương.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu liên quan đến các công trình tu bổ, số lượng cổ vật bị mất cắp, các khóa tu mùa hè tại các chùa khảo sát để minh chứng cho các luận điểm.
  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, xử lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, văn kiện của GHPGVN, hồ sơ khoa học di tích, tài liệu lưu trữ tại thư viện và dữ liệu truyền thông báo chí.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo sát thực tế tại 11 ngôi chùa miền Bắc; kho tư liệu mộc bản tại chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà; hệ thống văn bản quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Tôn giáo Chính phủ, UBND các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội; các số liệu thống kê của GHPGVN tính đến năm 2017 (cả nước có 18.491 cơ sở tự viện Phật giáo).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm 4 chương nội dung:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương này dành 45 trang để hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm chủ đề chính; làm rõ các khái niệm công cụ (Di sản văn hóa, Di sản văn hóa Phật giáo, Giá trị di sản, Bảo tồn và phát huy giá trị di sản, Sư trụ trì); xây dựng khung lý thuyết dựa trên Lý thuyết vai trò và Lý thuyết các bên liên quan.

Luận án trích dẫn mô hình 8 nấc thang tham gia của người dân theo Sherry R. Arnstein để làm công cụ phân tích sự tham gia của các chủ thể vào quản lý DSVHPG:

Mức độ tham gia Nấc thang theo Arnstein Đặc điểm thể hiện trong quản lý di sản Phật giáo
Mức độ trao quyền cho công dân 8. Quyền kiểm soát
7. Ủy quyền
6. Cộng tác
Sư trụ trì và cộng đồng cùng tham gia đàm phán, ra quyết định và trực tiếp thực thi các kế hoạch bảo tồn di tích, quản lý cổ vật.
Mức độ có dấu hiệu của sự tham gia 5. Xoa dịu
4. Tham vấn
3. Cung cấp thông tin
Nhà sư và người dân được lấy ý kiến hoặc thông báo kế hoạch, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc cơ quan quản lý nhà nước.
Mức độ không tham gia 2. Trị liệu/tâm lý
1. Vận động, lôi kéo
Các bên liên quan chỉ tiếp nhận và thực hiện các quyết định một chiều theo mệnh lệnh hành chính mà không có tiếng nói thực chất.

Chương 2: Sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và di sản tư liệu

Chương này có độ dài 24 trang, tập trung phân tích thực trạng hoạt động của sư trụ trì tại 11 ngôi chùa khảo sát đối với di tích kiến trúc, hệ thống cổ vật/bảo vật và di sản tư liệu:

  • Bảo tồn, phát huy giá trị di tích: Luận án chỉ ra tính chất hai mặt trong hoạt động của sư trụ trì. Một mặt, nhiều vị trụ trì có đóng góp lớn trong việc huy động nguồn lực xã hội hóa để tu bổ, tôn tạo các hạng mục công trình xuống cấp (như việc sửa chữa các hạng mục tại chùa Vĩnh Nghiêm nêu ở Bảng 3 của văn bản). Mặt khác, xuất hiện tình trạng tự ý xây dựng, trùng tu sai quy cách, phá vỡ yếu tố gốc cấu thành di tích do thiếu hiểu biết về Luật Di sản văn hóa. Phân tích sự khác biệt giữa chùa thuộc sở hữu sơn môn (như chùa Bổ Đà - sư trụ trì toàn quyền quyết định) và chùa thuộc sở hữu làng xã (như chùa Trăm Gian, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Hương - quyền sở hữu thuộc cộng đồng, dễ nảy sinh tranh chấp quản lý).
  • Bảo tồn, phát huy giá trị di vật, cổ vật, bảo vật: Phân tích thực trạng quản lý hệ thống tượng thờ, đồ thờ tự. Luận án dẫn chứng thực trạng mất cắp cổ vật tại các cơ sở thờ tự do công tác bảo vệ lỏng lẻo (điển hình như Bảng 4 thống kê các vụ mất di vật, cổ vật tại chùa Bổ Đà). Chỉ rõ trách nhiệm của sư trụ trì trong việc phối hợp với chính quyền lắp đặt thiết bị giám sát và lập danh mục kiểm kê hiện vật.
  • Bảo tồn, phát huy giá trị di sản tư liệu: Khảo sát thực trạng hai kho mộc bản kinh Phật quý giá:
    • Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm: Gồm 34 đầu sách với gần 3.000 bản khắc chữ Hán và chữ Nôm thể hiện tư tưởng thiền phái Trúc Lâm (được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2012). Sư trụ trì đã phối hợp bảo quản, xây dựng nhà lưu giữ và phục vụ công tác nghiên cứu, in dập.
    • Mộc bản chùa Bổ Đà: Gồm 2.000 bản khắc thể hiện giáo lý Tứ Diệu Đế (được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2017). Sư trụ trì đóng vai trò giữ gìn, bảo quản trực tiếp tại chùa.

Chương 3: Sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

Chương này gồm 24 trang, phân tích hoạt động của sư trụ trì trên hai phương diện phi vật thể cốt lõi:

  • Bảo vệ và phát huy đạo đức Phật giáo: Sư trụ trì thực hiện vai trò hoằng dương Phật pháp thông qua việc thuyết giảng giáo lý Từ bi, Vô ngã, Vị tha, Tứ diệu đế, Lục hòa; tổ chức các đạo tràng tu học cho Phật tử và các khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên nhằm giáo dục đạo đức truyền thống và nếp sống hướng thiện (dẫn chứng Bảng 5 về các khóa tu mùa hè tổ chức tại chùa Bằng). Luận án cũng chỉ ra mặt trái khi một số cơ sở thờ tự để xảy ra hiện tượng lệch chuẩn đạo đức hoặc sa sút phẩm hạnh của một bộ phận người tu hành.
  • Tổ chức các nghi lễ Phật giáo và lễ hội chùa: Phân tích vai trò của sư trụ trì trong việc chủ trì các đại lễ tôn giáo (lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, đàn trai giải oan) và các nghi lễ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng nhân dân (cầu an, cầu siêu, lễ hằng thuận). Khảo sát vai trò phối hợp tổ chức các lễ hội chùa quy mô lớn như: Lễ hội chùa Hương (mở hội từ mồng 6 tháng Giêng đến hạ tuần tháng 3 âm lịch), Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm (ngày 14 tháng 2 âm lịch), Lễ hội chùa Bổ Đà (từ 16 đến 18 tháng 2 âm lịch), Lễ hội chùa Phật Tích (mồng 4 đến mồng 5 tháng Giêng). Luận án chỉ rõ nguy cơ biến tướng nghi lễ (đốt vàng mã quá mức, dâng sao giải hạn thương mại hóa) và yêu cầu sư trụ trì phải đóng vai trò định hướng thực hành tín ngưỡng lành mạnh.

Chương 4: Định hướng nâng cao vai trò của sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo

Chương này gồm 34 trang, xác lập định hướng và các nhóm giải pháp quản lý:

  • Những vấn đề đặt ra về vai trò của sư trụ trì: Nhận diện các điểm nghẽn thực tế như: xung đột vai trò giữa "đạo" và "đời"; sự ngộ nhận về quyền sở hữu di tích giữa nhà sư và cộng đồng làng xã; sự chồng chéo chức năng quản lý giữa Ban Quản lý di tích địa phương và sư trụ trì; sự thiếu hụt kiến thức chuyên môn về bảo tồn di sản của đội ngũ tăng ni.
  • Các nguyên tắc nâng cao vai trò:
    1. Đảm bảo giữ gìn yếu tố gốc, tính toàn vẹn và giá trị lịch sử - văn hóa của DSVHPG.
    2. Hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn di sản với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo.
    3. Kết hợp chặt chẽ trách nhiệm và lợi ích của các bên liên quan: Nhà nước - Giáo hội - Sư trụ trì - Cộng đồng địa phương.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    • Nhóm giải pháp từ cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của sư trụ trì tại các di tích đã xếp hạng; xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa ngành Văn hóa và Ban Tôn giáo; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và tập huấn chuyên môn bảo tồn di tích, bảo quản hiện vật cho tăng ni.
    • Nhóm giải pháp từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Đưa môn học Quản lý di sản văn hóa và Luật Di sản văn hóa vào chương trình đào tạo tại các trường Trung cấp Phật học và Học viện Phật giáo; chuẩn hóa tiêu chí bổ nhiệm trụ trì gắn với năng lực quản trị cơ sở thờ tự; xây dựng quy chế quản lý tài chính, hòm công đức và bảo vệ cổ vật nội tự.
    • Nhóm giải pháp từ bản thân sư trụ trì: Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật di sản; chủ động phối hợp với chính quyền và cộng đồng làng xã trong việc lập hồ sơ tu bổ; phát huy vai trò hướng dẫn tín đồ thực hành nếp sống văn minh, bài trừ mê tín dị đoan.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hoàn thiện khung lý thuyết về quản lý di sản văn hóa tôn giáo: Ứng dụng Lý thuyết vai trò và Lý thuyết các bên liên quan để làm rõ vị thế, quyền hạn và trách nhiệm của sư trụ trì với tư cách là chủ thể trực tiếp quản lý cơ sở thờ tự Phật giáo.
  • Phân tích và làm rõ cơ chế tương tác, sự phân chia vai trò và các điểm xung đột tiềm tàng giữa các bên liên quan (Nhà nước, Giáo hội, Sư trụ trì, Cộng đồng làng xã, Du khách) trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị DSVHPG.
  • Bổ sung hệ thống hóa cơ sở lý luận về DSVHPG như một loại hình di sản phức hợp, bao gồm di sản vật thể, di sản phi vật thể và di sản tư liệu.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ khoa học về hoạt động quản lý, tu bổ di tích, bảo vệ cổ vật, khai thác mộc bản và tổ chức lễ hội tại 11 ngôi chùa đại diện ở miền Bắc Việt Nam.
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sai phạm trong trùng tu di tích và mất mát di vật cổ vật tại các tự viện trong giai đoạn 1986–2018.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp chính sách, quy chế phối hợp và chương trình đào tạo cụ thể, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, cơ quan quản lý tôn giáo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm nâng cao năng lực quản trị di sản cho đội ngũ sư trụ trì.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa của luận án mới chỉ tập trung vào mẫu nghiên cứu gồm 11 ngôi chùa thuộc các tỉnh, thành phố phía Bắc (Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh) và chủ yếu thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông. Luận án chưa có điều kiện khảo sát thực tế trên diện rộng tại khu vực miền Trung, miền Nam cũng như các cơ sở thờ tự của hệ phái Phật giáo Nam Tông Khmer.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn nghiên cứu khảo sát ra các vùng miền khác trên cả nước; thực hiện các nghiên cứu so sánh về vai trò quản lý di sản của chức sắc tôn giáo giữa các hệ phái Phật giáo khác nhau (Bắc Tông, Nam Tông Khmer, Phật giáo Khất Sĩ) cũng như giữa Phật giáo với các tôn giáo khác tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, Ban Tôn giáo Chính phủ và Sở VHTTDL các địa phương xây dựng quy chế phối hợp quản lý di tích tôn giáo, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý và phòng ngừa sai phạm trong tu bổ di tích.
  • Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Cung cấp cơ sở khoa học để Ban Tăng sự và Ban Giáo dục Phật giáo xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật di sản, nghiệp vụ bảo tồn bảo vật và kỹ năng quản lý tự viện cho tăng ni, trụ trì.
  • Đối với giới học thuật, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu thực địa, khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận chuyên ngành Quản lý văn hóa trong nghiên cứu về chủ thể văn hóa và di sản văn hóa tôn giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khảo sát bao nhiêu ngôi chùa và dựa trên những tiêu chí phân loại nào?

Luận án lựa chọn khảo sát 11 nhà sư đang trụ trì tại 11 ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam. Các cơ sở này được phân loại dựa trên 3 tiêu chí:

  • Hình thức sở hữu: Chùa thuộc sở hữu của sơn môn (chùa Bổ Đà) và chùa thuộc sở hữu của cộng đồng làng xã (chùa Vĩnh Nghiêm, Đồng Vàng, Quýt, Diên Phúc, Hương, Tảo Sách, Trăm Gian, Bằng A, Đồng Kỵ, Phật Tích).
  • Vị trí không gian: Vùng trung du (Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm), ven đô thị (Đồng Vàng, Quýt, Đồng Kỵ, Phật Tích, Diên Phúc, Hương, Trăm Gian) và đô thị (Tảo Sách, Bằng A).
  • Cấp độ xếp hạng di tích: Di tích Quốc gia đặc biệt (Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm, Hương, Phật Tích), Di tích Quốc gia (Tảo Sách, Bằng A, Diên Phúc, Đồng Kỵ, Trăm Gian) và di tích chưa xếp hạng (Đồng Vàng, Quýt).

2. Hai kho di sản tư liệu mộc bản tiêu biểu nào được luận án phân tích chi tiết?

Luận án tập trung phân tích hai kho mộc bản kinh Phật tại tỉnh Bắc Giang:

  • Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm: Gồm 34 đầu sách với gần 3.000 bản khắc chữ Hán và Nôm thể hiện tư tưởng thiền phái Trúc Lâm, được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2012.
  • Kho mộc bản chùa Bổ Đà: Gồm 2.000 bản khắc thể hiện nét đặc trưng thích nghi của Phật giáo khi truyền vào Việt Nam và nội dung kinh Tứ Diệu Đế, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2017.

3. Lý thuyết nào được tác giả ứng dụng làm khung phân tích chính trong luận án?

Luận án tích hợp hai khung lý thuyết chính của xã hội học và quản lý học:

  • Lý thuyết vai trò (Role Theory): Của Herbert Mead, Talcott Parsons, Robert K. Merton, Dahrendorf, Erving Goffmann để phân tích vị thế kép, kỳ vọng vai trò và các xung đột vai trò của sư trụ trì.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Kết hợp với mô hình 8 nấc thang tham gia của Sherry R. Arnstein để xác định mức độ tham gia, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước, Giáo hội, sư trụ trì và cộng đồng dân cư trong việc quản lý DSVHPG.

4. Theo luận án, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hạn chế trong việc tu bổ di tích và mất cắp cổ vật tại chùa là gì?

Nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu hụt nhận thức và kiến thức chuyên môn của một bộ phận sư trụ trì về Luật Di sản văn hóa; sự ỷ lại trông chờ ngân sách nhà nước hoặc khi huy động được tiền công đức thì tự ý sửa chữa không xin phép và không theo hướng dẫn kỹ thuật của ngành văn hóa; sự lỏng lẻo trong bảo vệ và kiểm kê hiện vật; cùng với việc thiếu một quy chế phối hợp rõ ràng giữa sư trụ trì, Ban Quản lý di tích và cộng đồng làng xã sở tại.

5. Tiêu chuẩn bổ nhiệm sư trụ trì theo quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được nêu trong luận án gồm những gì?

Căn cứ Nội quy Ban Tăng sự Trung ương của GHPGVN, tiêu chuẩn bổ nhiệm sư trụ trì bao gồm:

  • Về thế học: Tốt nghiệp Phổ thông Trung học (tú tài) trở lên.
  • Về Phật học: Tốt nghiệp Trung cấp Phật học trở lên.
  • Về mặt đạo: Đã thọ giới Tỳ kheo ít nhất 5 năm (hoặc có hạ lạp từ 5 năm trở lên), có tăng phong phẩm hạnh và có đơn phát nguyện trụ trì.
  • Về thủ tục: Phải đăng ký và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp tỉnh hoặc cấp huyện trước khi Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh ra quyết định bổ nhiệm.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa của tác giả Nguyễn Thanh Bình là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của sư trụ trì trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Việt Nam. Thông qua việc vận dụng lý thuyết vai trò và lý thuyết các bên liên quan kết hợp với khảo sát thực địa tại 11 ngôi chùa miền Bắc, tác giả đã làm sáng tỏ thực trạng hoạt động và các xung đột trong quản lý di tích, cổ vật, di sản tư liệu và di sản phi vật thể. Luận án đã xác lập hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ từ phía cơ quan nhà nước, Giáo hội Phật giáo và bản thân sư trụ trì nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách, đào tạo chức sắc tôn giáo và quản lý di sản văn hóa trong thời kỳ đương đại.