Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài Sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2010 đến năm 2020) được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Anh Đào. Công trình xem xét loại hình sân khấu kịch nói trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường văn hóa và cấu trúc đời sống văn hóa đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Từ thập niên 2000 trở đi, kịch nói tại TP.HCM phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn số lượng đơn vị hoạt động, trở thành một hiện tượng nghệ thuật nổi bật của đô thị phương Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận sân khấu kịch dưới góc nhìn chuyên ngành hẹp như lý luận - phê bình sân khấu hoặc quản lý văn hóa đơn thuần. Việc nghiên cứu sân khấu kịch nói đặt trong chỉnh thể đời sống văn hóa đô thị, đặc biệt là giai đoạn 2010 - 2020, vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Luận án được triển khai nhằm khỏa lấp khoảng trống này dưới góc nhìn văn hóa học kết hợp liên ngành Sân khấu học - Văn hóa học.
  • Mục đích nghiên cứu: Đem lại cái nhìn toàn cảnh, khái quát từ hướng nghiên cứu văn hóa học, tập trung vào ba nhiệm vụ cụ thể:
    1. Tìm hiểu đặc điểm của sân khấu kịch nói với tư cách một hoạt động nghệ thuật trong đời sống văn hóa TP.HCM.
    2. Tìm hiểu ảnh hưởng qua lại hai chiều giữa sân khấu kịch nói và đời sống văn hóa TP.HCM.
    3. Đề xuất một số phương hướng phát triển cho sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa thành phố.
  • Câu hỏi nghiên cứu: Văn bản xác định 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
    1. Đời sống văn hóa TP.HCM có ảnh hưởng như thế nào đối với sân khấu kịch nói TP.HCM?
    2. Sân khấu kịch nói có vai trò/chức năng như thế nào trong đời sống văn hóa TP.HCM?
    3. Những giải pháp nào cho hướng phát triển của sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Luận án kiểm chứng 03 giả thuyết khoa học:
    1. Giả thuyết thứ nhất: Đời sống văn hóa TP.HCM góp phần tạo nên những đặc điểm riêng của sân khấu kịch nói TP.HCM, cả về tổ chức hoạt động lẫn sản phẩm nghệ thuật.
    2. Giả thuyết thứ hai: Sân khấu kịch nói có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa TP.HCM qua việc đáp ứng nhu cầu công chúng, phản ánh và góp phần tạo hình văn hóa đô thị.
    3. Giả thuyết thứ ba: Để duy trì và phát triển sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM, cần tích hợp sức mạnh thể chế cũng như nguồn lực các bên liên quan bao gồm các cấp chính quyền, các đơn vị biểu diễn và công chúng nghệ thuật.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM, được khảo sát trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố của đời sống văn hóa.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn TP.HCM, trọng tâm khảo sát giới hạn ở các quận nội thành – nơi tập trung các đơn vị biểu diễn, địa điểm biểu diễn cũng như lực lượng sáng tạo và công chúng thưởng thức chủ yếu.
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, thời kỳ ghi nhận những chuyển biến quan trọng của đô thị trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và tổng thuật hệ thống tài liệu thứ cấp thành bốn nhóm công trình nghiên cứu chính liên quan trực tiếp đến đề tài:

Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Nội dung chính được điểm luận
1. Sân khấu kịch nói Việt Nam Vũ Ngọc Phan (1942), Dương Quảng Hàm (1943), Phạm Thế Ngũ (1961, 1963, 1965), Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978), Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988), Phan Trọng Thưởng (1996), Tất Thắng (2003), Phùng Huy Bính (2005), Đình Quang (2005), Lê Hoài Phương (2006), Trần Trí Trắc (2009), Sokolov Anatoly (2010), Trần Thị Thư (2020). Lịch sử hình thành kịch nói từ ảnh hưởng sân khấu Pháp; đặc trưng kịch bản văn học, thể tài (bi, hài, chính kịch), mỹ thuật sân khấu; sự tiếp biến giữa thi pháp kịch phương Tây và kịch hát truyền thống dân tộc; vai trò phản ánh hiện thực xã hội qua các thời kỳ.
2. Sân khấu kịch nói TP.HCM Lê Chí Trung (1990, 1992), Trần Trọng Đăng Đàn (1992, 2000, 2011), Phan Trọng Thưởng (2004), Nguyễn Thị Minh Thái (2007), Nguyễn Văn Thành (2008, 2015), Trần Minh Ngọc, Nguyễn Phan Thọ (2010), Nguyễn Hòa An (2015), Trần Yến Chi, Lưu Trung Thủy (2017). Quá trình chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường; tiến trình xã hội hóa sân khấu (điển hình là Sân khấu Nhỏ 5B Võ Văn Tần, Idecaf, Phú Nhuận); mối quan hệ giữa sân khấu và thị hiếu khán giả; nghệ thuật diễn xuất; kịch bản văn học đương đại và sự cạnh tranh với cải lương, phim ảnh.
3. Đời sống văn hóa TP.HCM Cao Tự Thanh và Hoàng Hương (2011), Hoàng Chí Mỹ, Đặng Quang Thành, Trương Minh Dục và Lê Văn Định (2010), Nguyễn Hữu Nguyên (2015). Sự biến đổi đời sống văn hóa trước và sau Đổi mới trên các lĩnh vực văn học, báo chí, sân khấu, âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật; vấn đề xây dựng lối sống văn hóa đô thị và lối sống thanh niên; những mảng màu tương phản trong đời sống văn hóa thành phố.
4. Kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM Huỳnh Công Duẩn / Hoàng Duẩn (2018, 2019), Lưu Trung Thủy (2015). Giá trị tinh thần của kịch nói đối với cộng đồng; cơ chế thị trường chi phối thẩm mỹ; tác động của công nghệ 4.0; sự tiếp nhận của khán giả đô thị đối với kịch giải trí, kịch kinh dị, kịch cà phê; mối liên hệ nuôi dưỡng đội ngũ giữa cải lương và kịch nói.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Qua tổng thuật, tác giả nhận thấy các công trình trước đây chỉ đề cập đến kịch nói ở phương diện văn học kịch bản hoặc lịch sử sân khấu thuần túy, hay xem xét đời sống văn hóa ở các góc độ xã hội học chung. Chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về vị trí, vai trò và sự tương tác hai chiều của sân khấu kịch nói trong cấu trúc đời sống văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010 - 2020. Việc luận án lựa chọn hướng tiếp cận văn hóa học kết hợp phân tích thiết chế văn hóa đã xác lập vị trí nghiên cứu độc lập cho đề tài.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành và vận dụng bốn hệ thống lý thuyết xã hội học - văn hóa học:

  1. Hệ khái niệm công cụ:
    • Khái niệm đời sống văn hóa: Khởi nguyên từ thuật ngữ "đời sống mới" trong bài viết năm 1947 của Tân Sinh (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Kế thừa quan điểm của Hoàng Vinh (1999), Nguyễn Phương Lan (2004), Đinh Thị Vân Chi, Trần Đức Ngôn (2017) và tài liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), tác giả xác định: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những hoạt động của con người (sáng tạo, truyền bá, hưởng thụ, giao lưu, bảo tồn...) trong môi trường sống để hình thành nên các sản phẩm văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa.
    • Cấu trúc đời sống văn hóa: Luận án chọn lọc và vận dụng khung cấu trúc đời sống văn hóa phục vụ đề tài gồm 06 thành tố: Môi trường văn hóa (đô thị, trẻ, dân trí cao, hội tụ), Nhu cầu văn hóa, Hoạt động văn hóa (sáng tạo, biểu diễn, tiếp nhận), Sản phẩm văn hóa (đề tài, hình thức dàn dựng), Thiết chế văn hóa (quản lý nhà nước và cơ sở vật chất hoạt động) và Chủ thể văn hóa (tác giả, đạo diễn, diễn viên, công chúng).
    • Loại hình sân khấu và thể tài kịch nói: Kịch (drama) có đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ đối thoại, tính hành động và tính xung đột (chuỗi vận động: giao đãi - thắt nút - phát triển - cao trào - kết cục).
  2. Lý thuyết chức năng luận và phân tích thiết chế: Vận dụng lý thuyết của Emile Durkheim và Bronislaw Malinowski. Luận án xem sân khấu kịch nói như một thiết chế xã hội vận hành trong hệ thống văn hóa cân bằng nhằm đáp ứng nhu cầu con người. Khung phân tích thiết chế của Malinowski được áp dụng qua 06 yếu tố: (1) Những người tham gia hoạt động; (2) Quan hệ giữa những người tham gia hoạt động; (3) Những quy tắc, chuẩn mực phải tuân theo; (4) Nội dung của hoạt động; (5) Công cụ hay chất liệu được sử dụng; (6) Chức năng được thực hiện bởi hoạt động.
  3. Lý thuyết lựa chọn duy lý và hành động tự nguyện: Vận dụng quan điểm của Georg Simmel về tương tác xã hội dựa trên nguyên tắc "cùng có lợi" và cơ chế trao đổi cho - nhận để phân tích hành vi của khán giả mua vé xem kịch. Đồng thời, lý thuyết hành động tự nguyện của Talcott Parsons được dùng để giải thích cách thức các chủ thể (nhà quản lý, nghệ sĩ, khán giả) chịu sự chi phối của chuẩn mực, giá trị văn hóa và điều kiện tình huống để lựa chọn phương tiện đạt mục đích.
  4. Lý thuyết vùng văn hóa và văn hóa vùng: Kế thừa lý thuyết nhân học văn hóa từ Otis Tufton Mason (1894), F. Boas và các hướng phân chia vùng văn hóa Việt Nam của Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng - Trần Ngọc Thêm, đặc biệt là quan điểm của Ngô Đức Thịnh (2019). Luận án định vị TP.HCM thuộc vùng văn hóa Nam Bộ với tính chất giao lưu, dung nạp đa dạng, giải thích nguyên nhân thị hiếu kịch nói phương Nam có sự khác biệt so với phía Bắc.
  5. Lý thuyết biến đổi văn hóa (Cultural change): Vận dụng khái niệm của Robert H. Winthrop (1991) để phân tích sự chuyển dịch của kịch nói TP.HCM khi chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

  • Cách tiếp cận: Luận án sử dụng cách tiếp cận văn hóa học làm chủ đạo, kết hợp liên ngành giữa Sân khấu học và Văn hóa học.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận kịch nói TP.HCM là một bộ phận trong tổng thể nền kịch nghệ Việt Nam và là một thành tố trong tổng thể văn hóa đô thị.
    • Phương pháp so sánh: So sánh các đơn vị sân khấu kịch tại TP.HCM với nhau; so sánh đặc trưng sân khấu kịch TP.HCM với sân khấu kịch Hà Nội nhằm chỉ ra nét bản sắc riêng biệt.
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý hệ thống dữ liệu lý luận và thực tiễn để lập luận các luận điểm khoa học.
    • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu khảo sát điều tra xã hội học làm cứ liệu thực tiễn minh chứng cho thực trạng tiếp nhận của công chúng.
    • Phương pháp định tính: Thực hiện kỹ thuật quan sát tham dự tại các buổi biểu diễn sân khấu; phỏng vấn sâu một số nghệ sĩ, nhà quản lý sân khấu và khán giả.
  • Nguồn tư liệu: Luận án khai thác các nguồn tài liệu liên ngành (Văn hóa, Lịch sử, Chính trị, Xã hội, Tâm lý); tư liệu hoạt động thực tế từ các website của các đơn vị nghệ thuật, tạp chí chuyên ngành, bài phê bình sân khấu; cùng nguồn tư liệu điền dã từ phỏng vấn sâu và khảo sát thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang), Phụ lục (46 trang) và 03 chương nội dung chính trải rộng trên 120 trang:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn (42 trang)

Chương 1 hoàn thiện việc tổng thuật 4 nhóm tài liệu nghiên cứu sẵn có, xác lập hệ khung lý thuyết và làm rõ cơ sở thực tiễn của đề tài:

  • Tọa độ văn hóa TP.HCM: Phân tích không gian văn hóa Nam Bộ với vị trí ngã ba đường hàng hải quốc tế, thuận lợi giao thương; chủ thể văn hóa đa dạng gồm người Kinh, người Hoa, Khmer, Chăm cùng 52 dân tộc thiểu số với 468.147 người (chiếm 5,2% dân số thành phố); thời gian văn hóa hơn 300 năm hình thành, sớm tiếp xúc và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa phương Tây (Pháp, Mỹ).
  • Tiến trình lịch sử sân khấu kịch nói TP.HCM:
    • Giai đoạn trước năm 1975: Khởi nguồn với Tuồng cha Minh (1881) được coi là vở kịch nói đầu tiên bằng chữ quốc ngữ; kịch bản của Trung Tín (Toa toa, moa moa 1925, Kẻ ăn mắm người khát nước 1926); các nhóm kịch tài tử Đức Hoàng Hội, Bắc Kỳ Đoàn; Ban kịch Dân Nam (1953); sự phát triển của 30 ban kịch trên truyền hình năm 1959; thành lập Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ (1960); sự thoái trào do hình thức đại nhạc hội, hiện tượng "chạy tăng đơ"; dấu ấn thương hiệu kịch Kim Cương (Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo).
    • Giai đoạn 1975 - 1986: Sự trở về của Đoàn Kịch nói Nam Bộ trên tàu Đồng Nai (22/5/1975), thành lập Đoàn Kịch Cửu Long Giang (1976), chuyển giao cho TP.HCM quản lý (1977); hai ban kịch tư nhân cũ trụ lại là Đoàn kịch Kim Cương và Đoàn kịch Bông Hồng (Thẩm Thúy Hằng); phong trào văn nghệ quần chúng đạt hơn 9.000 tiết mục; dấu mốc thành lập Câu lạc bộ Sân khấu thể nghiệm (ngày 1/8/1984 theo Quyết định số 1900/UB).
    • Giai đoạn từ năm 1986 trở về sau: Tác động từ đường lối Đổi mới; cuộc khủng hoảng khán giả thập niên 1980 - 1990; chuyển biến mạnh mẽ sau Nghị quyết số 90-CP (21/8/1997) của Chính phủ về xã hội hóa, đưa sân khấu vận hành theo kinh tế thị trường.

Chương 2: Sự tương tác giữa sân khấu kịch nói với đời sống văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh (46 trang)

Chương 2 tập trung phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa môi trường văn hóa đô thị và hoạt động sân khấu kịch:

  • Đặc điểm môi trường văn hóa TP.HCM: Khảo sát 04 đặc trưng gồm môi trường văn hóa đô thị; môi trường có mức thu nhập và trình độ dân trí cao; môi trường văn hóa trẻ; môi trường hội tụ và đa dạng văn hóa.
  • Ảnh hưởng của đời sống văn hóa đối với sân khấu kịch nói: Đời sống kinh tế thị trường và nhịp sống đô thị nhanh chi phối phương thức tổ chức hoạt động biểu diễn linh hoạt, thúc đẩy các mô hình kịch xã hội hóa tự chủ tài chính; tác động đến sản phẩm văn hóa với sự phân hóa đa dạng đề tài (tâm lý xã hội, hài kịch, kịch thiếu nhi, kịch kinh dị/kịch ma đáp ứng thị hiếu người xem).
  • Ảnh hưởng của sân khấu kịch nói đối với đời sống văn hóa: Sân khấu kịch đáp ứng nhu cầu giải trí, thư giãn của cư dân thành thị; thực hiện vai trò phản ánh những mâu thuẫn xã hội đương đại và tham gia kiến tạo các chuẩn mực, lối sống văn hóa đô thị.
  • Hệ thống mô hình và dữ liệu bảng biểu trong chương:
    • Mô hình cấu trúc của đời sống văn hóa (trang 15).
    • Bảng 2.1: Tỉ lệ dân số thành thị - nông thôn của TPHCM trong so sánh với Hà Nội và cả nước 2019 (trang 49).
    • Bảng 2.2: Nguyên nhân sân khấu kịch nói ở TPHCM hoạt động hiệu quả.
    • Bảng 2.3: Lý do khán giả ở thành phố thích đi xem kịch nói.
    • Bảng 2.4: Vai trò của kịch nói trong đời sống văn hóa ở TPHCM.
    • Bảng thống kê các rạp / Nhà hát / Trung tâm Văn hóa là sân khấu biểu diễn kịch ở TP.HCM.
    • Bảng thống kê các quán café có biểu diễn mô hình kịch café ở TP.HCM.

Chương 3: Vấn đề phát triển sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh (32 trang)

Chương 3 xem xét các điều kiện phát triển kịch nói từ bình diện thiết chế và chủ thể thực hành nghệ thuật:

  • Thiết chế văn hóa: Phân tích mối quan hệ giữa sân khấu kịch với thiết chế quản lý văn hóa nghệ thuật (chính sách đãi ngộ, thủ tục cấp phép, khâu phúc khảo tác phẩm) và thiết chế hoạt động văn hóa nghệ thuật (thực trạng thiếu rạp hát đạt chuẩn, áp lực thuê mướn mặt bằng biểu diễn, cơ sở vật chất kỹ thuật xuống cấp).
  • Chủ thể hoạt động sáng tạo, biểu diễn: Khảo sát thực trạng đội ngũ tác giả kịch bản (kèm Bảng danh sách các tác giả và kịch bản tiêu biểu được biểu diễn trên sân khấu kịch TP.HCM, trang 117); vai trò và áp lực của đạo diễn; thực trạng đời sống diễn viên (hiện tượng chạy show biểu diễn, đóng phim truyền hình, áp lực mưu sinh làm ảnh hưởng đến độ tập trung chuyên môn).
  • Thực trạng và phương hướng phát triển: Nhận diện sự suy giảm lượng khán giả trước sự cạnh tranh của các phương tiện giải trí trực tuyến; kịch bản thiếu tính chiều sâu tư tưởng; đề xuất các nhóm giải pháp duy trì và phát triển được tổng hợp tại Bảng 3.4 (Giải pháp để kịch nói TPHCM tiếp tục duy trì, phát triển).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng quan điểm văn hóa học kết hợp lý thuyết chức năng luận, phân tích thiết chế của Malinowski, lý thuyết lựa chọn duy lý và lý thuyết văn hóa vùng để nghiên cứu sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa một đô thị lớn một cách có hệ thống cả về mặt lịch đại và đồng đại.
  • Làm rõ mối quan hệ tương tác biện chứng hai chiều: đời sống văn hóa đô thị quy định phương thức vận hành, đề tài và ngôn ngữ biểu diễn của kịch nói; ngược lại, kịch nói đóng vai trò thỏa mãn nhu cầu tinh thần, phản ánh hiện thực và góp phần định hình lối sống cư dân thành phố.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, tư liệu thực tế và số liệu khảo sát về diện mạo sân khấu kịch nói TP.HCM giai đoạn 2010 - 2020 (hệ thống rạp hát, mô hình kịch xã hội hóa, mô hình kịch cà phê, danh mục tác giả - tác phẩm tiêu biểu).
  • Luận án đóng góp nguồn tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy chuyên ngành Văn hóa học, Sân khấu học và Quản lý văn hóa.
  • Đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ tại Chương 3 (Bảng 3.4), nhấn mạnh việc tích hợp sức mạnh thể chế giữa chính quyền quản lý (hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, đầu tư rạp hát), đơn vị nghệ thuật (nâng cao chất lượng kịch bản, đào tạo diễn viên) và công chúng (xây dựng văn hóa thưởng thức).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả tự giới hạn, địa bàn khảo sát của luận án chủ yếu tập trung tại các quận nội thành TP.HCM – nơi tập trung các sân khấu biểu diễn chính thức. Do đó, luận án chưa bao quát toàn diện hoạt động tiếp nhận sân khấu kịch tại các địa bàn huyện ngoại thành. Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2020.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi của sân khấu kịch nói TP.HCM trong giai đoạn sau năm 2020, đặc biệt là quá trình thích ứng và phục hồi sau đại dịch, sự xuất hiện của các hình thức sân khấu số hoặc khảo sát sâu hơn về thị hiếu của các nhóm khán giả ngoại thành.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Sân khấu học, Lý luận văn học, Quản lý văn hóa có thể tham khảo khung lý thuyết thiết chế văn hóa, văn hóa vùng và hệ thống tư liệu lịch sử kịch nói miền Nam.
    • Giảng viên: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Văn hóa đô thị, Nghệ thuật học đại cương, Tiến trình văn hóa Việt Nam.
    • Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Tham khảo các đánh giá về chính sách xã hội hóa sân khấu, cơ chế xét duyệt phúc khảo và giải pháp quy hoạch thiết chế rạp biểu diễn tại TP.HCM.
    • Các nghệ sĩ, nhà sản xuất sân khấu tư nhân: Tham khảo dữ liệu về thị hiếu khán giả và giải pháp cân bằng giữa giá trị nghệ thuật và doanh thu phòng vé.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp trong luận án: Lịch sử kịch nói Sài Gòn - TP.HCM qua các thời kỳ (Chương 1); Các bảng thống kê khảo sát xã hội học về lý do đến rạp và nguyên nhân hoạt động hiệu quả của sân khấu kịch (Chương 2); Danh sách tác giả, kịch bản tiêu biểu và bảng giải pháp phát triển kịch nói TP.HCM (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án ghi nhận tác phẩm nào là vở kịch nói đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ tại Sài Gòn?

Theo ghi nhận từ tư liệu của nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn được tác giả trích dẫn ở Chương 1, tác phẩm Tuồng cha Minh xuất hiện năm 1881 (chưa rõ tác giả) được coi là vở kịch nói đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ tại Sài Gòn.

2. Số liệu về thành phần dân tộc thiểu số tại TP.HCM được sử dụng để chứng minh cho luận điểm nào?

Tác giả sử dụng số liệu từ Ban Dân tộc TP.HCM (ngoài người Kinh, thành phố có 52 dân tộc thiểu số sinh sống với 468.147 người, chiếm 5,2% dân số) để luận giải cho đặc điểm "môi trường hội tụ, đa dạng văn hóa" của tọa độ văn hóa TP.HCM, qua đó giải thích tính cởi mở, dễ dung nạp các yếu tố văn hóa mới của công chúng kịch nói phương Nam.

3. Đơn vị sân khấu nào được xem là tiền đề quan trọng cho phong trào xã hội hóa kịch nói tại TP.HCM?

Văn bản xác định Câu lạc bộ Sân khấu thể nghiệm (thành lập ngày 1/8/1984 theo Quyết định số 1900/UB của Ủy ban nhân dân TP.HCM), sau này phát triển thành Sân khấu nhỏ 5B Võ Văn Tần, chính là đơn vị mở đường tạo tiền đề cho mô hình sân khấu kịch xã hội hóa nở rộ tại TP.HCM theo tinh thần Nghị quyết 90-CP năm 1997.

4. Khung phân tích thiết chế văn hóa của Malinowski được tác giả vận dụng gồm những thành tố nào?

Khung phân tích thiết chế được vận dụng gồm 06 thành tố: (1) Những người tham gia hoạt động; (2) Quan hệ giữa những người tham gia hoạt động; (3) Những quy tắc, chuẩn mực phải tuân theo; (4) Nội dung của hoạt động; (5) Công cụ hay chất liệu được sử dụng trong hoạt động; (6) Chức năng được thực hiện bởi hoạt động.

5. Dữ liệu khảo sát thực tế tại Chương 2 của luận án tập trung vào các nội dung nào?

Dữ liệu khảo sát thực tế được tác giả tổng hợp qua các bảng biểu cụ thể gồm: Bảng so sánh tỉ lệ dân số thành thị - nông thôn năm 2019 (trang 49); Bảng nguyên nhân sân khấu kịch TP.HCM hoạt động hiệu quả; Bảng lý do khán giả thành phố thích đi xem kịch; Bảng vai trò của kịch nói trong đời sống văn hóa; cùng các bảng thống kê rạp hát/nhà hát và quán kịch cà phê trên địa bàn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Ngô Anh Đào đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc phân tích sân khấu kịch nói trong mối quan hệ hữu cơ với đời sống văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010 - 2020. Dưới lăng kính văn hóa học kết hợp lý thuyết chức năng thiết chế và văn hóa vùng, công trình đã làm rõ tính đặc thù của kịch nói phương Nam trong việc thích ứng với cơ chế thị trường và đáp ứng nhu cầu giải trí, thẩm mỹ của cư dân đô thị. Hệ thống hóa tiến trình lịch sử, dữ liệu khảo sát và các giải pháp đồng bộ được đề xuất trong luận án mang lại giá trị khoa học và tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu văn hóa đô thị Việt Nam.