Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa chánh niệm, cảm hứng và ý định khởi sự kinh doanh xã hội” thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh / Kinh tế quản lý, thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, doanh nghiệp xã hội (DNXH) đóng vai trò là lực lượng hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội chưa được đáp ứng đầy đủ bởi khu vực công và khu vực doanh nghiệp thương mại, tạo cơ hội tăng trưởng bền vững cho các quốc gia, nhất là các nền kinh tế mới nổi (Kabbaj và cộng sự, 2016; Tiwari và cộng sự, 2017a). Tại Việt Nam, các mô hình DNXH đã hình thành từ thập niên 1990 (như Trường Hoa Sữa, KOTO, Mai Handicrafts). Báo cáo của Trung tâm Khởi nghiệp và Sáng tạo Xã hội (CSIE) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) ghi nhận có 80 DNXH đăng ký chính thức (Nguyễn Đình Cung, 2019), trong khi Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) ước tính có khoảng 19.000 tổ chức mang đặc điểm DNXH thuộc ba nhóm: doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và tổ chức phi chính phủ. Theo Báo cáo Khởi nghiệp Toàn cầu (GEM 2015), tỷ lệ người trưởng thành khởi sự DNXH tại Việt Nam chỉ đạt 0,45%, thấp hơn mức trung bình thế giới (3,2%) và thấp hơn nhiều so với hoạt động kinh doanh thương mại (13,7%) (Bosma và cộng sự, 2016). Sự phát triển DNXH đòi hỏi phải gia tăng số lượng và chất lượng đội ngũ doanh nhân xã hội thông qua việc phân tích quá trình hình thành ý định khởi sự kinh doanh (KSKD) xã hội.
Về mặt học thuật, các nghiên cứu giải thích ý định KSKD xã hội trước đây chủ yếu dựa trên Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991) và Mô hình sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero và Sokol (1982). Hai mô hình này bộc lộ hạn chế do quá chú trọng vào nhận thức hành vi cá nhân hoặc cảm xúc đạo đức đơn lẻ, chưa giải thích đầy đủ sự tương tác nhận thức giữa cá nhân với bối cảnh xã hội (Stirzaker và cộng sự, 2021). Ngoài ra, các đặc điểm tính cách mang sứ mệnh kép (vừa tạo giá trị xã hội vừa bảo đảm năng lực kinh doanh) như chánh niệm và cảm hứng khởi sự hầu như bị bỏ qua trong mô hình ý định KSKD xã hội. Đồng thời, phần lớn nghiên cứu quốc tế chỉ tập trung vào mẫu khảo sát sinh viên tại các nước phát triển, thiếu sự kiểm chứng trên nhiều nhóm đối tượng nghề nghiệp và phân tích vai trò của giới tính tại các nền kinh tế mới nổi (Rosca và cộng sự, 2020; Latif & Ali, 2020).
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định, đo lường và phân tích mối quan hệ giữa cảm hứng, chánh niệm, nhận thức hỗ trợ xã hội và ý định KSKD xã hội thông qua khung Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT), từ đó đề xuất hàm ý quản trị và giải pháp thúc đẩy lực lượng DNXH tại Việt Nam.
Sáu mục tiêu cụ thể gồm:
- Phân tích mối quan hệ và đánh giá sự tác động của cảm hứng với ý định KSKD xã hội.
- Phân tích mối quan hệ và đánh giá sự tác động của chánh niệm với ý định KSKD xã hội.
- Phân tích mối quan hệ và đánh giá sự tác động của nhận thức hỗ trợ xã hội với ý định KSKD xã hội.
- Xác định vai trò trung gian của nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả trong mối quan hệ giữa cảm hứng, chánh niệm, nhận thức hỗ trợ xã hội với ý định KSKD xã hội từ bối cảnh lý thuyết SCCT.
- Xác định vai trò của nghề nghiệp và giới tính trong mô hình ý định KSKD xã hội.
- Đề xuất các hàm ý và kiến nghị cho những nhà hoạch định chính sách, cộng đồng để thúc đẩy KSKD xã hội.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án thiết lập 6 câu hỏi nghiên cứu:
- Cảm hứng tác động ra sao với ý định KSKD xã hội?
- Chánh niệm tác động ra sao với ý định KSKD xã hội?
- Nhận thức hỗ trợ xã hội tác động ra sao với ý định KSKD xã hội?
- Cơ chế ảnh hưởng giữa cảm hứng, chánh niệm, nhận thức hỗ trợ xã hội với ý định KSKD xã hội trong bối cảnh Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) như thế nào?
- Vai trò nghề nghiệp, giới tính trong mô hình giải thích ý định KSKD xã hội như thế nào?
- Hàm ý quản trị nào cần được đưa ra nhằm đáp ứng vấn đề chưa được giải quyết trong thực tiễn?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố chánh niệm, cảm hứng, nhận thức hỗ trợ xã hội, ý định KSKD xã hội và các mối liên kết xung quanh ý định trong bối cảnh lý thuyết SCCT.
- Đối tượng khảo sát: Những cá nhân có hiểu biết nhất định về kinh doanh xã hội, đã tham gia các chương trình đào tạo, sinh hoạt do Hội Hỗ trợ Cộng đồng Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam (SSEC) chủ trì hoặc phối hợp tổ chức (cùng CSIP, Saigon Innovation Hub, Seed Planters).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biến số cá nhân (chánh niệm, cảm hứng), biến bối cảnh (nhận thức hỗ trợ xã hội), hai biến trung gian (nhận thức năng lực KSKD xã hội, kỳ vọng kết quả KSKD xã hội) và biến phụ thuộc (ý định KSKD xã hội).
- Phạm vi thời gian: Luận án được thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2021; công tác điều tra thu thập dữ liệu định lượng được tiến hành trong năm 2020.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại Việt Nam, tập trung vào mạng lưới thành viên tham gia hoạt động của tổ chức SSEC.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được xây dựng từ tập dữ liệu gồm 51 bài báo khoa học trên các tạp chí thuộc cơ sở dữ liệu Scopus có chỉ số trích dẫn cao, tập trung vào ba hướng tiếp cận chính:
Ba hướng nghiên cứu chính trong y văn
- Kiểm định và phát triển các mô hình lý thuyết về ý định KSKD xã hội:
- Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991): Được ứng dụng bởi Ernst (2011), Prieto (2011), Yang và cộng sự (2015), Politis và cộng sự (2016), Jemari và cộng sự (2017), Cavazos-Arroyo và cộng sự (2017), Luc (2018, 2020a). TPB tiếp cận ý định qua thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Hạn chế của TPB là chuẩn chủ quan thường dự báo yếu và mô hình bỏ qua các quá trình nhận thức cá nhân sâu hơn như tính cách và kỳ vọng kết quả (Bandura, 1986; Miles, 2012).
- Mô hình sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero và Sokol (1982): Được Mair và Noboa (2006) vận dụng vào KSKD xã hội, sau đó được kiểm chứng bởi Hockerts (2013, 2017), Ip và cộng sự (2018), Lacap và cộng sự (2018). Mô hình nhấn mạnh tính khả thi và tính mong muốn được nhận thức nhưng lại ưu tiên các yếu tố đạo đức, cảm xúc hơn là ảnh hưởng của tình huống và bối cảnh (Stirzaker và cộng sự, 2021).
- Mô hình tiềm năng khởi nghiệp (EPM) của Krueger và Brazeal (1994): Được Mair và Noboa (2005) giới thiệu trong bối cảnh khởi sự xã hội.
- Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) của Lent và cộng sự (1994): Được Tran và Von Korflesch (2016) ứng dụng nhằm xem KSKD xã hội là một hành vi lựa chọn nghề nghiệp dựa trên sự tương tác giữa nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả.
| Mô hình / Lý thuyết nền |
Tác giả tiêu biểu trong KSKD xã hội |
Biến số chính / Trọng tâm nghiên cứu |
Hạn chế nhận diện |
| Thuyết hành vi hoạch định (TPB - Ajzen, 1991) |
Ernst (2011); Prieto (2011); Yang và cs. (2015); Politis và cs. (2016); Luc (2018, 2020a) |
Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi; vốn xã hội, tính cách chủ động |
Chuẩn chủ quan dự báo yếu; bỏ qua nhận thức cá nhân và kỳ vọng kết quả |
| Mô hình sự kiện khởi nghiệp (SEE - Shapero & Sokol, 1982) |
Mair & Noboa (2006); Hockerts (2013, 2017); Ip và cs. (2018); Lacap và cs. (2018) |
Sự mong muốn nhận thức, tính khả thi nhận thức, sự kiện thúc đẩy |
Quá ưu tiên cảm xúc, đạo đức; xem nhẹ tương tác với bối cảnh xã hội |
| Thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT - Lent và cs., 1994) |
Tran & Von Korflesch (2016) |
Nhận thức năng lực (Self-efficacy), kỳ vọng kết quả (Outcome expectations) |
Cần tích hợp thêm các yếu tố tính cách đặc thù và yếu tố bối cảnh xã hội |
-
Nghiên cứu tập trung vào đặc tính cá nhân của doanh nhân xã hội:
Các công trình phân tích các tính cách xã hội như sự đồng cảm, cảm thông, lòng trắc ẩn và nghĩa vụ đạo đức (Bacq & Alt, 2018; McMullen & Bergman, 2017; Miller và cộng sự, 2012; Waddock & Steckler, 2016; Tiwari & Bhat, 2020). Tuy nhiên, Mair và Noboa (2006) nhận định lòng trắc ẩn chỉ là điều kiện cần. Trong kinh doanh thương mại, Wartiovaara và cộng sự (2019) chứng minh cảm hứng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy ý định khởi sự, song yếu tố này chưa được nghiên cứu trong KSKD xã hội. Đồng thời, Chinchilla và Garcia (2017) và Plaskoff (2012) chỉ ra rằng chánh niệm giúp cá nhân cân bằng nhận thức bối cảnh và sứ mệnh kép, nhưng các nghiên cứu định lượng về biến số này còn rất hạn chế. Về nhân khẩu học, nghiên cứu về vai trò giới tính và nền tảng nghề nghiệp trước đó chưa được kiểm định đầy đủ trong mô hình đa nhóm tại các nền kinh tế mới nổi (Estrin và cộng sự, 2013; Leadbeater, 1997; Shumate và cộng sự, 2014; Rosca và cộng sự, 2020).
-
Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố bối cảnh:
Yếu tố nhận thức hỗ trợ xã hội được chứng minh có ảnh hưởng lớn trong môi trường hạn chế nguồn lực (Aure và cộng sự, 2019; Desa & Basu, 2013; Ip và cộng sự, 2018). Tại Việt Nam, các nghiên cứu ban đầu tập trung vào hỗ trợ tiếp thị (Trương Thị Nam Thắng và cộng sự, 2005), giới thiệu loại hình DNXH (Nguyễn Văn Trúc, 2011) và khuôn khổ pháp lý (Nguyễn Minh Thảo, 2014; Ngọc Hải Hoàng, 2015; Phạm Vũ Thắng & Cao Tú Oanh, 2015; Nguyễn Thị Dung, 2017; Nguyễn Thị Như Ái, 2019). Về ý định KSKD xã hội tại Việt Nam, chỉ mới có các công trình của Tran và Von Korflesch (2018), Luc (2018) và Le và cộng sự (2020).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Khắc phục hạn chế của lý thuyết TPB và SEE bằng việc áp dụng Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT), tiếp cận việc trở thành doanh nhân xã hội dưới góc độ quyết định nghề nghiệp có tương tác nhận thức xã hội.
- Bổ sung hai biến số đặc điểm cá nhân chưa được nghiên cứu trong mô hình ý định KSKD xã hội: cảm hứng và chánh niệm.
- Tích hợp yếu tố bối cảnh nhận thức hỗ trợ xã hội vào khung SCCT trong điều kiện một nền kinh tế mới nổi.
- Mở rộng mẫu khảo sát ra ngoài phạm vi sinh viên, phân tích sự khác biệt theo giới tính và các nhóm nghề nghiệp khác nhau.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết nền tảng: Luận án sử dụng Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT - Lent và cộng sự, 1994), phát triển từ Thuyết nhận thức xã hội (SCT) của Bandura (1986). Mô hình SCCT giải thích sự hình thành mối quan tâm và ý định nghề nghiệp thông qua hai cơ chế trung gian: Nhận thức năng lực KSKD xã hội (Social entrepreneurial self-efficacy - SEF) và Kỳ vọng kết quả KSKD xã hội (Social outcome expectations - SOE).
- Các cấu trúc lý thuyết bổ sung:
- Cảm hứng (Inspiration - INS): Nguồn lực tâm lý kích hoạt động cơ hành động (Wartiovaara và cộng sự, 2019).
- Chánh niệm (Mindfulness - MFN): Mức độ nhận thức rõ ràng về bối cảnh và bản thân, giúp nhận diện cơ hội kinh doanh và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn (Chinchilla & Garcia, 2017).
- Nhận thức hỗ trợ xã hội (Perceived social support - PSS): Niềm tin của cá nhân về sự hỗ trợ từ môi trường xã hội xung quanh (Ip và cộng sự, 2018).
- Ý định KSKD xã hội (Social entrepreneurial intention - SEI): Được định nghĩa theo E. Thompson (2009) là niềm tin được nhận thức của một cá nhân về việc vận hành một doanh nghiệp xã hội và có kế hoạch thực hiện trong tương lai.
Khái niệm và phân biệt đối tượng
Luận án áp dụng định nghĩa DNXH theo Chính phủ Anh (2002): “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Đồng thời, luận án làm rõ sự khác biệt giữa DNXH với các mô hình liên quan qua bảng so sánh dựa trên Dart (2004):
| Tiêu chí |
Doanh nghiệp thương mại |
Doanh nghiệp xã hội |
Tổ chức phi lợi nhuận / từ thiện |
| Chiến lược |
Tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân và/hoặc cổ đông (Parkinson & Howorth, 2008) |
Tác động xã hội và lợi ích tài chính (Miller và cộng sự, 2012) |
Vận dụng nguồn lực xã hội để phục vụ xã hội (Certo & Miller, 2008) |
| Cấu trúc |
Linh hoạt |
Mô hình kinh doanh dựa trên thị trường, độc lập với tài trợ |
Nguồn kinh phí qua gây quỹ, quyên góp, chủ yếu nhờ tài trợ |
| Chuẩn mực |
Không nhất thiết theo đuổi sứ mệnh xã hội |
Sứ mệnh xã hội là mục tiêu cốt lõi |
Sứ mệnh xã hội là mục tiêu cốt lõi |
| Giá trị |
Tối đa hóa lợi nhuận để tạo của cải tài chính |
Ưu tiên lợi nhuận để tạo của cải xã hội (Mair & Noboa, 2006) |
Cố gắng tạo ra giá trị xã hội không qua cơ chế thị trường |
Luận án phân biệt rõ:
- Doanh nhân thương mại so với Doanh nhân xã hội: Cả hai đều có điểm chung là chấp nhận rủi ro, nhạy bén nắm bắt cơ hội, có tư duy đổi mới và năng lực quản lý. Điểm khác biệt căn bản: Doanh nhân thương mại là nhà lãnh đạo chiến lược với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cá nhân/cổ đông; Doanh nhân xã hội đóng vai trò lãnh đạo tư tưởng, hành động bằng sứ mệnh xã hội và dùng giải pháp kinh doanh để thay đổi xã hội (Martin & Osberg, 2007; Visser, 2011).
- KSKD xã hội so với Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR): CSR tích hợp trách nhiệm xã hội vào doanh nghiệp truyền thống nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp và giá trị cổ đông (Busch & Friede, 2018). KSKD xã hội đặt sứ mệnh xã hội lên hàng đầu và lợi nhuận là phương tiện bắt buộc phải tái đầu tư (ít nhất 51% theo Luật Doanh nghiệp 2020 tại Việt Nam).
- KSKD xã hội so với Khởi sự kinh doanh bền vững: KSKD bền vững theo đuổi khung ba đáy (triple bottom line: xã hội, kinh tế, môi trường) (Terán-Yépez và cộng sự, 2020; N. Thompson và cộng sự, 2011), trong khi KSKD xã hội tập trung chủ đạo vào việc giải quyết trực tiếp các vấn đề xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng qua hai giai đoạn:
-
Nghiên cứu định tính (nghiên cứu sơ bộ):
- Rà soát tài liệu học thuật nhằm xây dựng mô hình giả thuyết và dự thảo bảng hỏi lần 1.
- Thảo luận nhóm chuyên gia (gồm các nhà nghiên cứu, giảng viên, đại diện tổ chức hỗ trợ và doanh nhân xã hội) để điều chỉnh thang đo cho phù hợp với ngữ cảnh Việt Nam, hình thành bản câu hỏi thảo luận lần 2.
- Phỏng vấn thử sơ bộ (pilot test) với kích thước mẫu $N = 30$ người học từ các khóa tập huấn của SSEC nhằm hoàn thiện cách diễn đạt câu từ của bảng hỏi chính thức.
-
Nghiên cứu định lượng (nghiên cứu chính thức):
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện phi xác suất. Khảo sát trực tuyến qua Google Form gửi qua thư điện tử và mạng xã hội đến danh sách các cá nhân tham gia các chương trình do Hội Hỗ trợ Cộng đồng Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam (SSEC) chủ trì hoặc phối hợp tổ chức.
- Kích thước mẫu chính thức: Thu về 502 phiếu khảo sát hợp lệ ($N = 502$).
- Công cụ và kỹ thuật phân tích dữ liệu: Phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) được xử lý trên phần mềm SmartPLS phiên bản 3.8. PLS-SEM được lựa chọn do mô hình có tính phức tạp, chứa nhiều biến trung gian và dữ liệu khảo sát thực tế không đòi hỏi giả định phân phối chuẩn nghiêm ngặt (Hair và cộng sự, 2017; Lowry & Gaskin, 2014).
- Kỹ thuật đánh giá: Đánh giá mô hình đo lường qua hệ số tải ngoài, độ tin cậy nhất quán nội tại (Cronbach's Alpha, Composite Reliability), phương sai trích xuất trung bình (AVE), tiêu chuẩn Fornell-Larcker và tỷ số HTMT. Đánh giá mô hình cấu trúc qua kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (VIF), hệ số xác định ($R^2$), hệ số tác động ($f^2$), năng lực dự báo ($Q^2$), kỹ thuật Bootstrapping để kiểm định giả thuyết $H_1 - H_5$, phân tích biến trung gian qua khoảng tin cậy (CI) và tỷ số phương sai được giải thích (VAF), cùng phân tích đa nhóm (MGA) đối với nghề nghiệp và giới tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Phần mở đầu
Chương 1 thiết lập khung tổng thể của luận án. Nội dung chương nêu rõ bối cảnh thực tiễn của DNXH tại Việt Nam và trên thế giới; đối chiếu khoảng trống nghiên cứu giữa các lý thuyết hành vi truyền thống (TPB, SEE) với sự cần thiết phải ứng dụng lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT). Chương này công bố mục tiêu nghiên cứu, 6 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi thời gian (2016 – 2021, khảo sát năm 2020), phạm vi không gian (mạng lưới SSEC tại Việt Nam) và phác thảo cấu trúc 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 thực hiện hệ thống hóa lý thuyết về DNXH, doanh nhân xã hội và ý định KSKD xã hội. Tác giả phân tích bảng định nghĩa của nhiều học giả (Dees, Leadbeater, Mair & Noboa, Zahra) và các văn bản pháp lý (Luật Doanh nghiệp 2020, Chính phủ Anh). Chương này phân tích chi tiết 4 mô hình lý thuyết (TPB, SEE, EPM, SCCT) và tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm liên quan (Bảng 2.7, 2.8, 2.9, 2.10). Trên nền tảng lý thuyết SCCT của Lent và cộng sự (1994), chương 2 đưa ra lập luận xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu chính và các mối liên kết trung gian, hình thành mô hình nghiên cứu chính thức:
- Biến ngoại sinh: Cảm hứng (INS), Chánh niệm (MFN), Nhận thức hỗ trợ xã hội (PSS).
- Biến trung gian: Nhận thức năng lực KSKD xã hội (SEF), Kỳ vọng kết quả KSKD xã hội (SOE).
- Biến nội sinh phụ thuộc: Ý định KSKD xã hội (SEI).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 mô tả quy trình nghiên cứu hai giai đoạn. Phần nghiên cứu định tính trình bày kết quả làm việc với chuyên gia và kết quả khảo sát thử trên 30 đáp viên để điều chỉnh từ ngữ thang đo. Phần nghiên cứu định lượng trình bày chi tiết các thang đo kế thừa:
- Thang đo Cảm hứng (ký hiệu INS);
- Thang đo Chánh niệm (ký hiệu MFN);
- Thang đo Nhận thức hỗ trợ xã hội (ký hiệu PSS);
- Thang đo Nhận thức năng lực KSKD xã hội (ký hiệu SEF);
- Thang đo Kỳ vọng kết quả KSKD xã hội (ký hiệu SOE);
- Thang đo Ý định KSKD xã hội (ký hiệu SEI).
Chương này cũng thiết lập các tiêu chí thống kê cần đạt của mô hình đo lường, quy trình bootstrapping và tiêu chuẩn kiểm định tác động trung gian (chỉ số CI và VAF) cũng như kỹ thuật phân tích đa nhóm trên phần mềm SmartPLS 3.8.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 báo cáo toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu thập từ mẫu $N = 502$:
- Đánh giá mô hình đo lường: Xác nhận các thang đo đạt tính đơn hướng, độ tin cậy nhất quán nội tại và giá trị hội tụ (thông qua Bảng 4.2). Giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu được xác nhận đạt chuẩn qua Bảng 4.3.
- Đánh giá mô hình cấu trúc: Hiện tượng đa cộng tuyến không vi phạm với các giá trị VIF nằm trong ngưỡng cho phép (Bảng 4.4). Kết quả giải thích phương sai $R^2$ của ý định KSKD xã hội và các hệ số tác động $f^2$, năng lực dự báo $Q^2$ đều được xác nhận có ý nghĩa.
- Kiểm định giả thuyết: Kết quả bootstrapping mô hình cấu trúc khẳng định các giả thuyết nghiên cứu $H_1 - H_5$ được chấp nhận.
- Kiểm định vai trò trung gian: Các bảng phân tích tác động gián tiếp (Bảng 4.6, 4.7, 4.8) xác nhận nhận thức năng lực khởi sự (SEF) và kỳ vọng kết quả (SOE) đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hóa tác động từ chánh niệm, cảm hứng và nhận thức hỗ trợ xã hội đến ý định KSKD xã hội.
- Phân tích đa nhóm (MGA):
- So sánh nghề nghiệp (Bảng 4.9, 4.10, 4.11): Xác nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm Sinh viên với nhóm Nhân viên/Chuyên viên và nhóm Quản lý/Giám đốc/Tự kinh doanh.
- So sánh giới tính (Bảng 4.12): Xác nhận sự khác biệt về cường độ tác động của các mối quan hệ trong mô hình giữa nam giới và nữ giới.
- Thảo luận kết quả: Tác giả đối chiếu các phát hiện với các nghiên cứu trước đây về lý thuyết SCCT, phân tích cơ chế mà chánh niệm và cảm hứng tác động lên ý định KSKD xã hội.
Chương 5: Kết luận và một số hàm ý
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính, khẳng định tính mới của đề tài về mặt lý thuyết và thực tiễn. Chương dành phần lớn dung lượng để đề xuất hàm ý quản trị cụ thể:
- Hàm ý đối với các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp xã hội (như SSEC, CSIP) trong việc thiết kế khóa đào tạo, tích hợp nội dung rèn luyện chánh niệm và khơi gợi cảm hứng;
- Hàm ý đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế cơ chế hỗ trợ nguồn lực, truyền thông xã hội;
- Trình bày các hạn chế về phương pháp luận và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả chính của mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên khung SCCT đã được kiểm định và xác nhận phù hợp với dữ liệu thực nghiệm ($N = 502$). Thứ tự tổng tác động (total effect) của các yếu tố lên ý định KSKD xã hội được xếp theo mức độ giảm dần như sau:
- Nhận thức năng lực khởi sự kinh doanh xã hội (SEF)
- Nhận thức hỗ trợ của xã hội (PSS)
- Chánh niệm (MFN)
- Cảm hứng (INS)
- Kỳ vọng kết quả từ KSKD xã hội (SOE)
Nghiên cứu khẳng định vai trò trung gian có ý nghĩa thống kê của nhận thức năng lực (SEF) và kỳ vọng kết quả (SOE) trong việc kết nối các yếu tố tiền đề cá nhân (cảm hứng, chánh niệm) và môi trường (nhận thức hỗ trợ xã hội) với ý định KSKD xã hội. Đồng thời, phân tích đa nhóm chứng minh giới tính và nghề nghiệp trước đó tạo ra sự khác biệt rõ rệt đối với các mối quan hệ trong mô hình.
Những đóng góp mới về mặt lý thuyết
- Mở rộng phạm vi ứng dụng của Lý thuyết SCCT: Nghiên cứu đã xác nhận năng lực giải thích của lý thuyết SCCT trong lĩnh vực KSKD xã hội, khẳng định nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả là hai biến trung gian quan trọng để giải thích hành vi lựa chọn nghề nghiệp KSKD xã hội thay vì chỉ áp dụng lý thuyết TPB hay SEE.
- Bổ sung các đặc tính cá nhân mới: Luận án chứng minh hai đặc điểm tính cách là chánh niệm và cảm hứng có năng lực giải thích tốt ý định KSKD xã hội, vượt ra ngoài các đặc điểm tính cách lớn (Big Five) truyền thống hoặc các biến đạo đức thuần túy.
- Tích hợp yếu tố bối cảnh và cá nhân: Luận án xây dựng một mô hình tích hợp đồng thời các yếu tố tính cách cá nhân (chánh niệm, cảm hứng), nhận thức bối cảnh (hỗ trợ xã hội) và cơ chế nhận thức nghề nghiệp, góp phần hoàn thiện lý thuyết KSKD xã hội tại các nền kinh tế mới nổi.
- Làm rõ vai trò nhân khẩu học: Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt theo giới tính và nghề nghiệp trước đó trong quá trình hình thành ý định khởi nghiệp xã hội, bổ sung dữ liệu cho lý thuyết tính cách và lý thuyết giới tính trong khởi nghiệp.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Bộ công cụ đo lường thực tế: Cung cấp bộ thang đo đã được chuẩn hóa và điều chỉnh theo bối cảnh Việt Nam, giúp các tổ chức hỗ trợ sàng lọc, đánh giá ứng viên tiềm năng cũng như đo lường hiệu quả các chương trình hỗ trợ.
- Đào tạo chánh niệm trong khởi sự xã hội: Đề xuất các tổ chức hỗ trợ DNXH đưa chương trình rèn luyện chánh niệm vào nội dung đào tạo nhằm giúp người khởi nghiệp tiềm năng nâng cao nhận thức bản thân, duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu xã hội và năng lực vận hành kinh doanh.
- Chiến lược truyền thông tạo cảm hứng: Khuyến nghị các chương trình truyền thông về DNXH không chỉ dừng lại ở việc kêu gọi lòng trắc ẩn, mà cần xây dựng các câu chuyện điển hình mang tính cảm hứng để kích hoạt động cơ hành động cụ thể.
- Phân nhóm chính sách hỗ trợ: Đề xuất các nhà hoạch định chính sách và tổ chức ươm tạo cần phân loại đối tượng theo nghề nghiệp (sinh viên, người đi làm chuyên môn, nhà quản lý/chủ kinh doanh) và giới tính để thiết kế các chính sách ưu đãi, gói hỗ trợ và chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù từng nhóm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng được ghi nhận bao gồm:
- Phương pháp chọn mẫu: Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất, thu thập thông qua mạng lưới thành viên tham gia hoạt động của một tổ chức hỗ trợ (SSEC). Mặc dù đáp ứng yêu cầu am hiểu về DNXH, tính đại diện cho toàn bộ tổng thể tiềm năng tại Việt Nam vẫn có giới hạn nhất định.
- Bản chất dữ liệu cắt ngang: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại một thời điểm (năm 2020), do đó chỉ phản ánh ý định ở thời điểm khảo sát chứ chưa theo dõi được quá trình chuyển biến từ ý định thành hành vi KSKD xã hội thực tế trong dài hạn.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Dữ liệu tập trung vào các cá nhân tham gia mạng lưới hỗ trợ tại Việt Nam, kết quả cần được kiểm chứng thêm ở các bối cảnh quốc gia mới nổi khác để gia tăng giá trị khái quát hóa.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Văn bản gợi mở việc thực hiện các nghiên cứu theo thời gian (longitudinal studies) để theo dõi hành vi thực tế; mở rộng điều tra trên các nhóm đối tượng chưa từng tiếp cận các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp xã hội; kiểm tra thêm các biến điều tiết văn hóa và thể chế địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tham khảo về việc vận dụng Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) kết hợp với kỹ thuật phân tích PLS-SEM trên SmartPLS 3.8. Phần tổng quan tài liệu về 51 bài báo Scopus và hệ thống hóa lý thuyết KSKD xã hội tại Chương 2 là nguồn tư liệu chuẩn mực cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Có thể sử dụng Chương 3 và hệ thống thang đo đã kiểm định (INS, MFN, PSS, SEF, SOE, SEI) để giảng dạy về phương pháp nghiên cứu khởi nghiệp và phát triển thang đo hành vi xã hội.
- Các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp xã hội (SSEC, CSIP, vườn ươm khởi nghiệp): Chương 5 cung cấp cơ sở để thiết kế lại nội dung chương trình ươm tạo, đặc biệt là việc tích hợp các khóa rèn luyện chánh niệm và các hoạt động truyền cảm hứng nhằm nâng cao nhận thức năng lực của học viên.
- Các nhà hoạch định chính sách: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về thực trạng tỷ lệ tham gia DNXH tại Việt Nam, làm căn cứ xây dựng các thông tư, chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế xã hội và thực thi Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2020.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung lý thuyết SCCT được luận án sử dụng có ưu thế gì so với lý thuyết TPB và SEE?
Lý thuyết TPB của Ajzen (1991) tiếp cận dựa trên môi trường gây ra hành vi và bỏ qua quá trình nhận thức cá nhân sâu hơn như kỳ vọng kết quả, trong khi mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982) lại ưu tiên cảm xúc đạo đức mà xem nhẹ ảnh hưởng bối cảnh. Ngược lại, Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) của Lent và cộng sự (1994) tiếp cận KSKD xã hội như một quyết định lựa chọn nghề nghiệp, xem xét toàn diện sự tương tác đa chiều giữa yếu tố cá nhân (cảm hứng, chánh niệm) và bối cảnh (nhận thức hỗ trợ xã hội) thông qua hai cơ chế trung gian nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả.
2. Yếu tố nào có tổng tác động mạnh nhất đến ý định KSKD xã hội trong mô hình nghiên cứu?
Theo kết quả kiểm định mô hình cấu trúc trên 502 mẫu khảo sát hợp lệ, yếu tố có tổng tác động mạnh nhất lên ý định KSKD xã hội là Nhận thức năng lực KSKD xã hội (SEF), tiếp theo lần lượt là Nhận thức hỗ trợ của xã hội (PSS), Chánh niệm (MFN), Cảm hứng (INS), và cuối cùng là Kỳ vọng kết quả KSKD xã hội (SOE).
3. Tại sao chánh niệm (mindfulness) lại được đưa vào mô hình nghiên cứu ý định KSKD xã hội?
Doanh nhân xã hội phải đối mặt với thách thức kép: vừa thực hiện sứ mệnh xã hội vừa đảm bảo mô hình kinh doanh có hiệu quả kinh tế. Chánh niệm tạo ra mức độ nhận thức cao hơn về bản thân và môi trường xung quanh, giúp cá nhân nhạy bén phát hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, đồng thời nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và động cơ xã hội tích cực, giúp giải thích năng lực đáp ứng mục tiêu kép này.
4. Mẫu khảo sát của luận án được chọn lựa như thế nào và có quy mô bao nhiêu?
Mẫu khảo sát chính thức gồm 502 bảng câu hỏi hợp lệ được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Khung mẫu là các cá nhân có hiểu biết nhất định về DNXH, đã và đang tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo do Hội Hỗ trợ Cộng đồng Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam (SSEC) chủ trì hoặc phối hợp với các tổ chức liên quan tổ chức.
5. Kết quả phân tích đa nhóm (MGA) của luận án cho thấy điều gì về giới tính và nghề nghiệp?
Phân tích đa nhóm trên phần mềm SmartPLS 3.8 chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong cường độ tác động giữa các biến số của mô hình khi so sánh giữa nam giới và nữ giới, cũng như giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau (giữa nhóm Sinh viên với nhóm Nhân viên/Chuyên viên và nhóm Quản lý/Giám đốc/Tự kinh doanh). Điều này chỉ ra rằng quá trình hình thành ý định khởi sự xã hội không đồng nhất trên các nhóm nhân khẩu học.
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ giữa chánh niệm, cảm hứng và ý định khởi sự kinh doanh xã hội” đã mở rộng thành công khung Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) bằng việc tích hợp hai đặc tính cá nhân (chánh niệm, cảm hứng) cùng yếu tố bối cảnh (nhận thức hỗ trợ xã hội). Thông qua kỹ thuật PLS-SEM trên mẫu khảo sát thực nghiệm 502 cá nhân am hiểu DNXH tại Việt Nam, nghiên cứu xác nhận nhận thức năng lực khởi sự là yếu tố có tổng tác động mạnh nhất, đồng thời khẳng định vai trò trung gian của nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả. Công trình cung cấp hệ thống thang đo được chuẩn hóa cho bối cảnh trong nước và đề xuất các giải pháp thực tiễn có giá trị cho các tổ chức hỗ trợ DNXH cùng nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển lực lượng doanh nhân xã hội tại Việt Nam.