Chương 1. Cơ sở lí luận của quản lí cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập theo tiếp cận hệ thống Chương 2. Thực trạng quản lí cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập theo tiếp cận hệ thống Chương 3. Các giải pháp quản lí cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập theo tiếp cận hệ thống 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP THEO TIẾP CẬN HỆ THỐNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. N n c u về quản lí o dục đạ ọc n oà côn lập Những nghiên cứu về quản lí GD ĐHNCL trong những thập niên gần đây thường quan tâm đến những vấn đề chung sau đây. Thể chế và tổ chức hệ thống ĐHNCL Ở nước ngoài, nhất là Mĩ và các nước Phương Tây, mô hình giáo dục ĐHNCL ra đời từ rất sớm, các nghiên cứu không tập trung nhiều vào vấn đề này bởi không có gì khác biệt.
Người ta bàn nhiều đến các tiếp cận mới trong phát triển chương trình, loại hình trường, đến vấn đề chuẩn hóa nhân sự đại học, chuẩn hóa công nghệ dạy học, xếp hạng đại học và thương hiệu, đẳng cấp. Hầu hết các nghiên cứu không phân biệt công và tư xét về mặt xã hội, chỉ phân biệt ở sở hữu mà thôi [83],[120],[175], v.v… Vũ Ngọc Hải [41],[42], Đặng Thành Hưng [70],[71],[72],[73],[75]và một số người khác đã đề cập đến thể chế ĐH NCL trước và trong suốt giai đoạn Việt Nam vận động gia nhập WTO, phân tích quá trình chuyển đổi từ kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tác động đến giáo dục, bàn về nhiều vấn đề trực tiếp liên quan đến thể chế, nhất là chính sách cho ĐH NCL như giá thành, đầu tư, giá cả, dịch vụ, thị trường, hạch toán, kinh doanh, phúc lợi, CLGD và lợi nhuận v.v… Họ đề nghị thừa nhận thị trường và dịch vụ giáo dục, ít nhất là ở các cấp học mầm non và sau phổ thông, quản lí chúng như những hiện tượng kinh tế thực thụ. Để làm điều đó phải có thể chế GD mới thích hợp với cơ chế thị trường, vừa tạo đà cho xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục theo các điều khoản GATS của WTO. Nhiều nghiên cứu kinh nghiệm của các nhà quản lí, nhà giáo đã xem xét thể chế GDĐH NCL cùng với quá trình phát triển của thực tiễn ĐH NCL.
Trần Hồng Quân [126], [125],[124] và Trần Phương [118], [119] qua tổng kết nhiều 9 năm phát triển ĐH NCL đã nhận định, chính sách kinh tế nhiều thành phần và mở cửa hội nhập quốc tế đã khởi đầu và tạo nhiều triển vọng cho GDĐH NCL, cho phép thu hút đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy vậy gần đây chính sách và cả thể chế nói chung, nhất là các qui chế, thủ tục hành chính lại chưa theo kịp những yêu cầu mới của ĐH NCL nên khu vực này còn gặp nhiều thách thức. Đặc biệt do thể chế chưa rõ ràng nên tổ chức và quản trị ĐH NCL ị vướng mắc nhiều vấn đề. Ở không ít trường xảy ra xung đột lợi ích, gây mất đoàn kết là do mô hình chưa rõ ràng ngay cả trong văn ản pháp qui [125],[124].
Nguyễn Thị Bình [9] bàn về trách nhiệm của cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục, do chính sách về GDĐH nói chung và ĐH NCL nói riêng chưa tốt, nên các trường gặp nhiều khó khăn. Điều này cũng được chỉ ra trong nhiều bài báo khác. Vũ Phán [110], Phạm Phụ [115] bàn về mô hình tư thục từ khía cạnh đầu tư và sở hữu khi chuyển trường dân lập sang tư thục. Họ cho rằng xác lập sở hữu chung của ĐH tư thục là hợp lí vì nó sẽ chiếm trên 50% vốn của trường tư, là khoản mà nhà nước phải chăm lo.
Cho nên gọi là tư thục nhưng trường vẫn mang tính dân lập khá rõ. Họ cũng cho rằng khi chuyển thành trường tư thì nên qui công lao, trí tuệ, sáng kiến, lao động quản lí của các nhà sáng lập thành tiền để góp vốn thì mới công bằng. Những ý kiến này góp phần tháo gỡ những rắc rối về vốn ở trường tư, song mang ý nghĩa thể chế, chính sách rất rõ ràng. Đàm Quang Minh và Phạm Minh Lý [103], Hoàng Văn Khoan [85] xem xét các qui định về sở hữu và lợi nhuận của trường dân lập và trường tư phi lợi nhuận.
Họ coi đó là một nút thắt cần được tháo gỡ vì sở hữu tư nhân đang ị kiềm chế do qui định lợi nhuận không phân chia của trường ĐH tư; đưa thành phần đương nhiên vào cơ cấu HĐQT; về quản trị không thừa nhận trường ĐH có thể hoạt động như doanh nghiệp, muốn kiềm chế tính chất lợi nhuận. Do vậy nhà đầu tư cảm thấy quyền sở hữu của mình không được đảm bảo đã không đầu tư cho chất lượng dài hạn. Tài sản không phân chia khi đủ lớn sẽ làm phát sinh vấn đề, trong khi đại hội cổ đông tạo ra lợi nhuận ấy không có quyền quyết định mà lại được cơ cấu cho một cổ đông đặc biệt, thì khi đó vai trò của cổ đông thực góp 10 vốn đầu tư sẽ giảm đến khi không còn nữa. Họ kiến nghị tài sản không phân chia nên là một tài nguyên hay một quĩ, khai thác phải trả phí và không có tổ chức nào được quyền sở hữu nó như một cổ đông thực sự.
Phạm Phụ [113], Lâm Quang Thiệp cũng àn đến lợi nhuận không phân chia, phân tích đặc trưng cơ ản về mặt pháp lí, kinh tế và tổ chức của một tổ chức “không vì lợi nhuận”. Đó là: thứ nhất - “không được phân chia lợi nhuận cho ai”; thứ hai - “không có chủ sở hữu” hay “nó sở hữu chính nó”, không có nhà đầu tư, tài sản thuộc “sở hữu cộng đồng”, nguồn vốn của nó chủ yếu từ tặng cho và học phí. Vì vậy cần khuyến khích ĐH tư thực “nửa vì lợi nhuận” hay “lợi nhuận hợp lí”, tức là chấp nhận lợi nhuận ở mức hợp lí nhằm thu hút và đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Vũ Ngọc Hoàng [59], Trần Anh Tài-Trịnh Ngọc Thạch [134], Đặng Ứng Vận [168] bàn về mô hình doanh nghiệp áp dụng cho ĐH NCL, cho rằng chuyển án công thành trường công là làm ngược, cần phải tư duy theo hướng án công là cú hích, là ước đệm để các trường chuyển ra NCL.
Các trường công phải chuyển sang tự quản, tạo cơ chế ình đẳng với trường NCL. Trần Thị Bích Liễu [97] đã tổng quan một số nghiên cứu của Mĩ về mô hình doanh nghiệp trong GDĐH, không chỉ trường NCL, mà các cơ sở ĐH nên theo mô hình doanh nghiệp, quản trị ĐH như doanh nghiệp, tạo thành hệ thống GDĐH hoạt động hiệu quả theo qui luật của thị trường. Đặng Ứng Vận [168] cho rằng mô hình doanh nghiệp cần được xem xét thêm, nhưng đó là một phương thức quản lí ĐH NCL. Bùi Minh Hiền [50] nghiên cứu và tán thành mô hình hợp tác Công – Tư (PPP), hình thức thỏa thuận giữa nhà nước và khu vực tư trong việc cung ứng dịch vụ công hoặc phát triển kết cấu hạ tầng nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước, thể hiện tác động qua lại giữa nhà nước và thị trường, khu vực công và tư là đối tác ình đẳng trong phát triển giáo dục.
Đặng Thị Minh [104] xem xét chính sách phát triển trường ĐH tư thục Việt Nam đã tiếp cận ba vấn đề: tài chính, nhân sự giảng dạy, tự chủ đào tạo và cho rằng nhà 11 nước chưa có hỗ trợ nào đáng kể cho GDĐH NCL. Nguyễn Khánh Tường [166] phân tích vai trò của quản lí nhà nước đối với sự phát triển khu vực tư nhân trong GDĐH từ quan điểm kinh tế học. Đặng Văn Định [34] lại cho rằng có vấn đề tổ chức khi mọi việc gắn với vốn, để trường “tự do” dựa vào luật doanh nghiệp, nên đã xuất hiện “ông chủ” và “người làm thuê” đẩy những nhà sáng lập, nhà trí thức ra ngoài. Kinh tế giáo dục ĐHNCL Ben Wildaysky [7], Nguyễn Văn Tuấn [162], Hoàng Văn Khoan [85], Đặng Thành Hưng [70], [71] và một số tác giả khác nghiên cứu các phạm trù kinh tế của ĐH NCL, đặc biệt là sở hữu, đầu tư và lợi nhuận.
ĐH tư thục vì lợi nhuận đã thực sự trở thành ngành công nghiệp toàn cầu, tạo nên cuộc cạnh tranh chất xám mạnh mẽ. Nguyễn Văn Tuấn cho biết trường tư chiếm 78% trong GDĐH Nhật Bản và góp phần to lớn trong phát triển của nước này. Cung cấp dịch vụ giáo dục là một lĩnh vực thương mại, kinh tế giáo dục là một bộ phận của nền kinh tế. Đã là kinh tế thị trường thì không tránh né được thương mại hóa.
Đặng Thành Hưng [73] cho biết tư nhân hóa GDĐH là xu thế toàn cầu, không nên và không thể chống thương mại hóa mà cần chỉ rõ phải cấm, phải chống cái gì cụ thể trong thị trường giáo dục, hoàn toàn như mọi thị trường hàng hóa khác - đều có quản lí, kiểm soát và có những điều cấm. Ông nhấn mạnh nhà trường chỉ có một mục tiêu là chất lượng giáo dục, còn lợi nhuận là mục tiêu của nhà đầu tư. Cần chọn mô hình tổ chức và quản lí thế nào để tạo cơ hội cho nhà đầu tư có lợi nhuận qua chất lượng giáo dục. Dương Tấn Diệp [28] chỉ rõ cần phải giải thích rõ khái niệm thương mại hóa vì lợi nhuận đồng nhất với thương mại hóa.
Cho phép có lợi nhuận rồi lại chống thương mại hóa là mâu thuẫn. Ông đề nghị cần nói rõ chống cái gì trong thương mại hóa, ví dụ chống gian lận trong kinh doanh. Nhiều hội thảo về GDĐH NCL của Ban tuyên giáo TƯ, Hiệp hội các trường cao đẳng, đại học NCL v. cũng tán thành quan điểm: chống thương mại hóa chung chung và cực đoan là tư duy ảo thủ, cản trở sự phát triển khách quan của GDĐH NCL.
12 Đặng Thành Hưng [70] phân tích thị trường giáo dục đã ra đời và đi vào vận hành rồi, vì không công nhận điều đó nên không quản lí một cách cần thiết, đã ảnh hưởng xấu đến CLGD, trong khi đó lại không tận dụng được những tác động tích cực của cơ chế thị trường. Nếu không chấp nhận thị trường hóa giáo dục thì giáo dục sẽ chứa đựng nhiều nguy cơ gấp bội. Ngô Tự Lập [95]cũng cho rằng không thể từ chối thương mại hóa giáo dục vì mô hình ĐH công dựa vào ngân sách nhà nước sẽ khó phát triển lâu dài vì nguồn ngân sách đó rất eo hẹp.