Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học chính trị của nghiên cứu sinh Trần Hải Hà với đề tài "Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" được thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (chuyên ngành Công tác tư tưởng, mã số 9 31 02 01, bảo vệ năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Ngọc Nam và PGS.TS Lương Ngọc Vĩnh).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (CB, CC) là yêu cầu xuyên suốt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đại hội XI tiếp tục yêu cầu xây dựng đội ngũ có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII xác định ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là một trong ba vấn đề cấp bách hàng đầu trong xây dựng Đảng.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ CB, CC cấp xã đóng vai trò cầu nối đưa chủ trương, chính sách vào đời sống cơ sở. Mặc dù đại đa số giữ vững bản lĩnh chính trị, thực tiễn ghi nhận một bộ phận xuất hiện các biểu hiện tiêu cực: phai nhạt lý tưởng, hoài nghi chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa thông tin sai lệch trên không gian mạng, cổ xúy tư tưởng dân chủ cực đoan, vi phạm quy chế làm việc, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và cửa quyền. Một trong những nguyên nhân trực tiếp là sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nhất là huyện ủy và đảng ủy xã, còn bộc lộ bất cập, giải pháp chưa quyết liệt, thiếu sự phối hợp đồng bộ và chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc cùng nhân dân.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở cấp độ vĩ mô, cấp tỉnh hoặc trong lực lượng vũ trang; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về công tác phòng, chống hiện tượng này trong đội ngũ CB, CC cấp xã tại địa bàn nông thôn đang trong tiến trình đô thị hóa nhanh của Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ CB, CC cấp xã ở các huyện của Thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp tăng cường công tác này trong giai đoạn tiếp theo.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 04 nhiệm vụ cụ thể):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để xác định hướng tiếp cận của luận án.
- Phân tích một số vấn đề lý luận về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ CB, CC cấp xã; xác định nội dung và phương thức phòng, chống trong điều kiện hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ CB, CC cấp xã tại các huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến nay.
- Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ CB, CC cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ CB, CC cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ là một mặt công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào đội ngũ CB, CC giữ cương vị lãnh đạo, quản lý và công chức chuyên môn trong hệ thống chính trị cấp xã thuộc các huyện dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại các xã thuộc 05 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi). Luận án không khảo sát đội ngũ CB, CC ở các phường thuộc các quận.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và thực tiễn được khảo sát từ năm 2013 đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm vấn đề chính ở cả trong nước và quốc tế:
Các hướng nghiên cứu trước đây
- Nghiên cứu về bản chất, nguyên nhân và biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa":
- Nước ngoài: Sách Bàn về vấn đề chống “diễn biến hòa bình” (các tác giả Trung Quốc, Nguyễn Huy Quý dịch) phân tích các âm mưu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin; Cốc Văn Khang (công trình Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội: Bàn về chống “diễn biến hòa bình”) luận giải vai trò lãnh đạo của Đảng và so sánh tính ưu việt của chế độ XHCN; Lưu Đình (chủ biên cuốn Hãy cảnh giác với cuộc chiến tranh thế giới không có khói súng - Nghiên cứu vấn đề diễn biến hòa bình) phân tích việc sử dụng truyền thông để thúc đẩy suy thoái tư tưởng.
- Trong nước: Nguyễn Mạnh Hưởng (Một số vấn đề về “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa) làm rõ khái niệm "tự diễn biến" là sự biến đổi bên trong theo hướng tiêu cực; Đề tài KX.03 thuộc Chương trình KX.01 do GS. Trần Nhâm chủ nhiệm phân tích nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu; Đề tài cấp bộ (2005) do PGS.TS. Trần Thành chủ nhiệm về nguy cơ thoái hóa quyền lực chính trị; Thiếu tướng GS.TS. Trương Giang Long chủ biên công trình về giáo dục lý tưởng cho thanh niên; Đề tài cấp bộ của Tô Lâm và cộng sự về các yếu tố tác động đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; Cao Văn Thống (chủ biên), Sa Thị Đồng Lan, Phạm Văn Đức nghiên cứu nhận diện biểu hiện và đề xuất 7 nhóm giải pháp; Sách chuyên khảo của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2013) phân tích cơ chế chuyển hóa tư tưởng.
- Nghiên cứu về giải pháp phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa":
- Nước ngoài: Kỷ yếu hội thảo Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc với các bài viết của Lý Bồi Nguyên, Tôn Hiểu Quần, Chu Phúc Đông, Hạ Quốc Cường về công tác quản lý đảng viên, giám sát cán bộ lãnh đạo và phòng chống tham nhũng; các tác giả Lào như Bun-kết Kê-sỏn, Bun-lư Sổm-sắc-đi nghiên cứu giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh.
- Trong nước: Đề tài cấp bộ (2006) do TS. Nguyễn Trần Thành chủ nhiệm về khắc phục thoái hóa biến chất; bài viết của Trần Đại Quang, Mai Thế Dương, Nguyễn Đình Phách về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và phòng chống tham nhũng; Lê Nguyễn Thanh Bình (2014) khảo sát thực tế tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; sách của Hội đồng Lý luận Trung ương (2017) với các công trình của Hữu Thọ, GS.TS. Trần Văn Phòng, GS.TS. Nguyễn Văn Huyên; các nghiên cứu của Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo, Trần Thị Anh Đào, Lê Kim Việt, Dương Quang Tùng, PGS.TS. Trần Khắc Việt về đổi mới công tác cán bộ, phát huy vai trò báo chí và nhân dân.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng kết tài liệu cho thấy chưa có công trình nào tập trung phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa "tự diễn biến" và "tự chuyển hóa" gắn liền với đặc điểm địa bàn cấp xã nông thôn đang đô thị hóa nhanh của Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án giải quyết 04 vấn đề còn để ngỏ:
- Hệ thống hóa lý luận, phân tích đặc điểm, biểu hiện và nguồn gốc của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở cấp xã.
- Làm rõ nội dung, phương thức phòng, chống dưới góc độ công tác tư tưởng.
- Đánh giá toàn diện thực trạng công tác phòng ngừa tại 05 huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến 2020.
- Xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi, gắn kết giữa công tác tư tưởng với tổ chức, kiểm tra và giám sát xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XI, Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII).
Khung phân tích được định hình qua việc xác định rõ vị trí của đội ngũ CB, CC cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (Điều 4 và Điều 61), phân định rõ hai nhóm chủ thể:
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khai thác các văn kiện của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, văn bản của Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh và các công trình khoa học liên quan.
- Phương pháp lôgíc và lịch sử: Phân tích sự hình thành và phát triển của các quan điểm về xây dựng Đảng, phòng chống suy thoái qua các giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh, quan sát: Thu thập, đối chiếu số liệu từ báo cáo chính thức của các cơ quan quản lý tại Thành phố Hồ Chí Minh và 05 huyện khảo sát.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận: Xây dựng khung khái niệm công cụ, đánh giá thực trạng công tác tư tưởng và quản lý cán bộ.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi khảo sát nhận thức của CB, CC cấp xã và các đối tượng liên quan tại 05 huyện ngoại thành; xử lý số liệu định lượng làm căn cứ đánh giá.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia khoa học chính trị và phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, quản lý tại địa phương.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Tư liệu nghiên cứu bao gồm: các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết Trung ương; văn kiện, báo cáo tổng kết của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và huyện ủy 05 huyện (Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi); các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công chức cơ sở; dữ liệu khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi và biên bản phỏng vấn sâu chuyên gia thực hiện trong giai đoạn 2013–2020.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương này điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các giải pháp phòng chống. Tác giả khái quát các hướng tiếp cận chính: nhận diện khái niệm, phân tích nguyên nhân khách quan - chủ quan (trong đó nguyên nhân chủ quan từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện được coi là then chốt), và đề xuất giải pháp từ góc độ tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về CB, CC cấp xã ở địa bàn đặc thù như Thành phố Hồ Chí Minh, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để triển khai các chương sau.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2 tập trung phân tích các khái niệm công cụ và làm rõ bản chất lý luận:
- Khái niệm: "Tự diễn biến" là quá trình tự biến đổi nội tại về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực. "Tự chuyển hóa" là bước phát triển tiếp theo, là sự biến đổi về chất khiến người cán bộ mất dần chuẩn mực người cộng sản, xa rời nguyên tắc mácxít, chuyển hóa thành phần tử đối lập với Đảng và Nhà nước. Mối quan hệ giữa hai yếu tố là quan hệ biện chứng "tích lượng thành chất".
- Bốn nguồn gốc dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa":
- Bất cập, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng (nghiên cứu lý luận chưa theo kịp thực tiễn, giáo dục chính trị hình thức, buông lỏng quản lý, kiểm tra).
- Tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và thông tin phức tạp trên mạng Internet.
- Âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch nhằm công kích nền tảng tư tưởng.
- Sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân của người cán bộ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vụ lợi (nguồn gốc chủ yếu nhất).
- Biểu hiện và tác hại: Cụ thể hóa 09 biểu hiện suy thoái tại cơ sở, như lơ là học tập lý luận, quan liêu, vô cảm, lợi ích nhóm trong quản lý đất đai, xây dựng, tài chính, phát tán thông tin sai trái trên mạng xã hội, vi phạm kỷ luật. Tác hại làm suy yếu tổ chức đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân và đe dọa sự ổn định của hệ thống chính trị cơ sở.
- Nội dung và phương thức phòng, chống: Làm rõ hành động chủ động ngăn chặn nguồn gốc (phòng) đi đôi với phát hiện, xử lý kịp thời hành vi vi phạm (chống), trong đó phòng là căn bản, lâu dài.
Chương 3: Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc các huyện của Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội tại 05 huyện ngoại thành (Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi) - nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh, phát sinh nhiều phức tạp trong quản lý đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng.
- Thực trạng: Cấp ủy các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, triển khai kế hoạch hành động, đổi mới phương thức giáo dục tư tưởng, duy trì nền nếp tự phê bình và phê bình, tăng cường kiểm tra, giám sát. Nhờ đó, đa số CB, CC giữ vững lập trường, hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một bộ phận CB, CC cấp xã vi phạm kỷ luật, bị xử lý do sai phạm về quản lý đất đai, trật tự xây dựng, tài chính công; một số cán bộ có biểu hiện quan liêu, hách dịch, ngại học lý luận, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội.
- Nguyên nhân của hạn chế: Một số cấp ủy chưa sâu sát, có hiện tượng "khoán trắng" công tác tư tưởng cho cơ quan tuyên giáo; sinh hoạt chi bộ tại cơ sở còn hình thức; việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên; cơ chế kiểm soát quyền lực và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cấp cơ sở còn bất cập; bản thân một số cán bộ thiếu ý thức tự rèn luyện.
- Vấn đề đặt ra: Cần giải quyết hài hòa giữa yêu cầu quản lý trong điều kiện đô thị hóa với năng lực thực thi công vụ; tăng cường sức đề kháng chính trị trước các tác động tiêu cực của môi trường mạng và áp lực kinh tế.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 đề xuất các nhóm nội dung mang tính định hướng và thực thi:
- Quan điểm chỉ đạo: Kiên định nền tảng tư tưởng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn phòng, chống với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" (giáo dục, rèn luyện) và "chống" (xử lý nghiêm minh), lấy "xây" là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị cơ sở.
- Hệ thống giải pháp (gồm 05 nhóm chính):
- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý luận, nâng cao bản lĩnh chính trị và tính "tự đề kháng" cho CB, CC cấp xã.
- Đổi mới toàn diện các khâu trong công tác cán bộ: tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá thực chất năng lực và đạo đức, thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, gắn liền với kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực nhạy cảm (đất đai, xây dựng, ngân sách) và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy xã, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân.
- Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng dư luận và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ CB, CC cấp xã; phân tích cụ thể cơ chế vận động "tích lượng thành chất" giữa tự diễn biến và tự chuyển hóa dưới lăng kính của khoa học công tác tư tưởng.
- Về mặt thực tiễn:
- Cụ thể hóa 09 nhóm biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sát hợp với thực tế đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.
- Khảo sát, phản ánh bức tranh thực trạng công tác phòng ngừa tại 05 huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013–2020.
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa giáo dục tư tưởng, quản lý tổ chức, kiểm tra giám sát và phát huy quyền làm chủ của nhân dân cơ sở.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án kiến nghị Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và các huyện ủy trực thuộc tăng cường lãnh đạo trực tiếp công tác tư tưởng, không phó mặc cho cơ quan chuyên môn; đổi mới quy trình đánh giá cán bộ cấp xã theo hiệu quả thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân; hoàn thiện quy chế phối hợp kiểm tra, giám sát giữa cấp ủy với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế tại các xã thuộc 05 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh (địa bàn nông thôn đang đô thị hóa), chưa tiến hành nghiên cứu so sánh đối ứng với đội ngũ công chức tại các phường thuộc khu vực các quận nội thành đã đô thị hóa hoàn toàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh thực trạng phòng, chống suy thoái giữa khối cán bộ công chức phường (đô thị) và khối cán bộ công chức xã (nông thôn, ven đô).
- Nghiên cứu chuyên sâu về tác động của chuyển đổi số và không gian mạng đối với tư tưởng chính trị của cán bộ cơ sở trong giai đoạn chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp: Đặc biệt là Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, các huyện ủy và đảng ủy xã dùng làm tài liệu tham khảo để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát và bồi dưỡng cán bộ.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Thuộc các chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Công tác tư tưởng tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố.
- Nội dung giá trị nhất: Khung nhận diện các biểu hiện suy thoái ở cấp xã (Chương 2), tư liệu thực tiễn và nguyên nhân hạn chế tại 05 huyện ngoại thành (Chương 3), cùng các giải pháp về công tác tư tưởng và quản trị nhân sự cơ sở (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "tự diễn biến" và "tự chuyển hóa" như thế nào?
Luận án chỉ rõ "tự diễn biến" là quá trình tự biến đổi bên trong về tư tưởng, chính trị, đạo đức theo hướng tiêu cực, diễn ra dần dần theo thời gian. Trong khi đó, "tự chuyển hóa" là đích đến, là sự biến đổi về chất do "tự diễn biến" tích tụ gây ra, làm biến đổi căn bản lập trường chính trị của người cán bộ, biến họ từ người tốt thành phần tử chống đối Đảng và Nhà nước.
2. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo phạm vi nghiên cứu của luận án gồm những ai?
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008, luận án xác định đối tượng gồm cán bộ cấp xã giữ các chức danh bầu cử theo nhiệm kỳ (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Thường trực HĐND; Lãnh đạo UBND; Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội) và công chức cấp xã giữ chức danh chuyên môn (Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - nông nghiệp - môi trường, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội).
3. Nguồn gốc chủ yếu nào dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" được luận án xác định?
Luận án xác định có 04 nguồn gốc (bất cập trong công tác xây dựng Đảng; mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập; âm mưu diễn biến hòa bình; sự thiếu tu dưỡng bản thân). Trong đó, nguyên nhân chủ quan từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân của bản thân mỗi cán bộ là nguồn gốc chủ yếu và trực tiếp nhất.
4. Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án được thực hiện tại những địa bàn nào?
Luận án khảo sát thực tế tại các xã thuộc 05 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh và Củ Chi trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020. Luận án không tiến hành khảo sát tại các phường thuộc các quận nội thành.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào dưới góc độ công tác tư tưởng?
Luận án đề xuất 05 nhóm giải pháp: (1) Đổi mới giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao tính tự đề kháng; (2) Hoàn thiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ; (3) Tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát quyền lực; (4) Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy và phát huy vai trò giám sát của MTTQ, nhân dân; (5) Nắm bắt tình hình tư tưởng và chủ động đấu tranh phản bác thông tin xấu độc trên mạng xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hải Hà đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ CB, CC cấp xã tại 05 huyện của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013–2020. Nghiên cứu chỉ ra tính quy luật biện chứng giữa "tự diễn biến" và "tự chuyển hóa", đồng thời phân tích các nguyên nhân, hạn chế gắn liền với đặc thù của địa bàn nông thôn ven đô đang đô thị hóa nhanh. Hệ thống quan điểm và 05 nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị phục vụ công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay.