Chương 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhóm nghiên cứu về các vấn đề lý thuyết kinh tế biên giới Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kinh tế biên giới thu hút được sự quan tâm của các học giả trong nước, trong đó có những nghiên cứu về mặt lý thuyết, có thể kể đến một số công trình như sau: Nguyễn Thị Kim Dung với nghiên cứu “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng cơ chế chính sách và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu trên bộ phía Bắc Việt Nam”[16] năm 1999. Tác giả khẳng định rằng, giao lưu kinh tế qua biên giới là sự thể hiện xu thế hội nhập kinh tế giữa các nước gần nhau về vị trí địa lý, thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nước láng giềng. Đồng thời tác giả cho rằng, hoạt động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu cũng là một yếu tố cấu thành của các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Việc phát triển giao lưu đó mang lại lợi ích kinh tế đáng kể thông qua đẩy mạnh các hoạt động thương mại qua biên giới đồng thời cũng để thực hiện chủ trương cải cách kinh tế của Đảng là khẳng định nguyên tắc độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi trong phát triển kinh tế đối ngoại; đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại; khai thác có hiệu quả lợi thế trong phân công lao động quốc tế. Nguyễn Mạnh Hùng (Chủ biên) (2000), Vai trò, vị trí, lý thuyết về khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam [24], đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến phát triển Khu KTCK, đánh giá vai trò, thực trạng phát triển thương mại tại các Khu KTCK, sự cần thiết phải phát triển thương mại tại các Khu KTCK; qua đó đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư thương mại vào các Khu KTCK. Tác giả đã nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư thương mại vào các Khu KTCK, chưa nghiên cứu các chính sách khác liên quan đến đầu tư vào Khu KTCK như chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng trong Khu KTCK, chính sách thu hút đầu tư, chính sách phát triển các ngành dịch vụ, du lịch trong Khu KTCK. Nguyễn Minh Hiếu, Một số vấn đề kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập [20], đã nêu được các khái niệm như khái niệm Khu KTCK, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các khu Khu KTCK, nêu lên được một số mô hình và động thái vận hành của các Khu KTCK, những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển Khu KTCK như ô nhiễm môi trường, kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, nhân lực.
Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Minh Hiếu chưa đánh giá hiệu quả của Khu KTCK mang lại cho 10 phát triển kinh tế - xã hội, như góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, v. Tác giả Cù Chí Lợi (chủ biên) đã công bố nghiên cứu của mình về “Khu kinh tế tự do: Những vấn đê lý luận và thực tiễn” [31], trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế trong việc phát triển khu kinh tế tự do, giúp cho chúng ta định hình được khu kinh tế tự do hiện đại theo cách tiếp cận của thế giới. Nhóm tác giả cũng phân tích sâu những kinh nghiệm của quốc tế trong việc xây dựng các khu kinh tế, đặc biệt là kinh nghiệm của Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đề cập một chút về thực trạng hoạt động của các khu kinh tế cửa khẩu, trong đó có những khu kinh tế cửa khẩu thuộc Quảng Ninh.
Nhóm nghiên cứu về kinh tế biên giới Trung Quốc với một số quốc gia láng giềng Kinh tế biên giới Trung Quốc với các quốc gia láng giềng là một trong những chủ đề quan trọng trong chiến lược đi ra ngoài và chiến lược ngoại giao láng giềng của Trung Quốc. Cho nên, một số nghiên cứu về chủ đề này cũng được công bố. Một số nghiên cứu liên quan đến yếu tố kinh tế biên giới của Trung Quốc với một số quốc gia láng giềng có thể kể đến như sau: Sun Xia (Tôn Hà), Xây dựng cơ chế pháp luật cho khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới dưới cái nhìn luật học kinh tế phân tích- nghiên cứu trường hợp Trung tâm hợp tác biên giới quốc tế Khorgos của Trung Quốc, Theoretical Horizon, No. Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích trường hợp Trung tâm hợp tác biên giới quốc tế Khorgos của Trung Quốc với tư cách là khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới duy nhất của Trung Quốc cho tới nay thông qua việc ký kết hiệp ước biên giới song phương với quốc gia láng giềng.
Mô hình hợp tác kinh tế quốc tế mô hình mới này sẽ nảy sinh các vấn đề liên quan đến luật pháp liên quan. Cho nên, trên cơ sở cái nhìn luật học kinh tế phân tích, tác giả muốn đưa ra mô hình cơ chế hợp tác kinh tế xuyên biên giới đối với khu vực biên giới của Trung Quốc. Các tác giả Toàn Hồng Đào (Quan Hongtao)- Dương Thọ Lộc (Yang Lushou)– Long Nhữ Lâm (Long Nulin) – Lý Toàn Dân (Li Quanmin) đã công bố nghiên cứu của mình với chủ đề: Lựa chọn chiến lược của mở cửa vùng ven: Nghiên cứu về khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Trung Quốc – Myanmar (Yanbian Kaifang de zhanlue xuanze: Zhong-Mian kuajing jingji hezuoqu yanjiu)[70], năm 2012. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến nghiên cứu trường hợp mở cửa đối ngoại Trung Quốc – Myanmar nhằm trả lời câu hỏi, đó là cải cách mở cửa đối ngoại không chỉ có lợi cho 11 phát triển kinh tế Trung Quốc mà còn có lợi cho việc truyền bá văn hóa giữa Trung Quốc với các nước.
Trong nghiên cứu trường hợp Khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Thụy Lệ (Trung Quốc) – Muse (Myanmar) giống như một trong những mô hình thử nghiệm về hợp tác kinh tế biên giới giữa Trung Quốc với Myanmar, và là cửa ngõ để Trung Quốc thâm nhập sâu hơn vào thị trường Myanmar và rộng hơn là ASEAN. Bên cạnh đó, tác giả Fan Hongwei, trong nghiên cứu của mình về China’s “Look South”: China-Myanmar Transport Corridor[61] cũng đã nhấn mạnh vai trò của việc hợp tác biên giới trong việc khơi thông tuyến giao thông từ Trung Quốc qua Myanmar tới Ấn Độ dương Tác giả Lã Kha (Luke) và Hồ Liệt Khúc (Hu Liequ) trong nghiên cứu của mình về Chức năng của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới [81], cũng đã nhận định rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nước tích cực tham dự vào các tổ chức hợp tác kinh tế với các hình thức khác nhau, nhằm khai thác tối đa toàn bộ các nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế. Khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới là hình thực tổ chức kinh tế mới ra đời trong những năm gần đây, với việc dựa vào ưu thế vốn có và phát huy vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, từ đó thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa các nước có biên giới tiếp giáp nhau. Tác giả Trương Thụy Côn (Zhang Ruikun) đã có nghiên cứu về khu hợp tác kinh tế biên giới Trung Quốc – Lào với công trình Hợp tác kinh tế Vân Nam – Lào trong khuôn khổ hợp tác Trung – Lào [97], trong đó tác giả cũng đã trình bày về những tiến triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế giữa Vân Nam (Trung Quốc) với Lào từ năm 1989 tới năm 2009, đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế hợp tác kinh tế xuyên biên giới hai nước.
Bên cạnh đó, tác giả Dương Cường (Yang Qiang) – Trương Diệm (Zhang yan) với nghiên cứu Thực trạng và đối sách phát triển mậu dịch biên giới Vân Nam [76], trong đó các tác giả cho rằng, tỉnh Vân Nam của Trung Quốc đã trở thành tỉnh lớn của Trung Quốc về của khẩu và là tiền tiêu để Trung Quốc mở cửa với Đông Nam Á. Từ năm 2000, hoạt động xuất nhập khẩu biên giới của tỉnh Vân Nam liên tục tăng, nhưng khủng hoảng tài chính thế giới (2008-2009) đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tỉnh này. Theo đánh giá của tác giả, Vân Nam cần nắm cơ hội xây dựng khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc để gia tăng mức độ mở cửa của mình, thúc đẩy hơn nữa mở cửa đối ngoại khu vực biên giới, từ đó mở rộng mậu dịch biên giới. Tác giả Đổng Gia Tương (Dong Jiaxiang) cũng công bố nghiên cứu của mình về kinh tế biên giới Trung Quốc – Lào với tiêu đề Suy nghĩ về việc khuyến khích tài chính đối với xây 12 dựng khu kinh tế mở Mohan biên giới Trung Quốc - Lào [78], trong đó tác giả nhận định rằng Khu kinh tế mở Mohan biên giới Trung Quốc – Lào là điểm kết hợp giữa việc thúc đẩy công nghiệp hóa với thực hiện đô thị hóa, là khu kinh tế vùng ven được xây dựng với tư cách là “đầu cầu” mở rộng việc mở cửa nền kinh tế.
Khu kinh tế mở này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mô hình phát triển kinh tế xuyên biên giới ở Xishuangbanna và là cũng là “đầu cầu” phát triển của Vân Nam. Cũng liên quan đến kinh tế biên giới khu vực này, các tác giả Tả Minh (Zuo ming) – Trương Nhân Văn (Zhang Renwen) cũng đã công bố nghiên cứu Suy nghĩ về việc xây dựng khu thực nghiệm hợp tác tài chính khu vực biên giới ba nước Trung Quốc – Lào – Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp huyện Giang Thành, thành phố Phổ Nhĩ [88], các tác giả cho rằng, huyện Giang Thành là khu vực duy nhất của Vân Nam tiếp giáp với hai nước là Việt Nam và Lào, và cùng với việc kiện toàn ACFTA, Vân Nam được quy hoạch xây dựng thành đầu cầu chiến lược để Trung Quốc tiến xuống khu vực phía Tây Nam. Đồng thời, hoạt động kinh tế biên giới giữa Vân Nam với các nước tiếp giáp ngày càng nhộn nhịp hơn, cho nên yêu cầu đặt ra là nên thành lập một trung tâm hợp tác tài chính khu vực biên giới ba nước Trung Quốc – Việt Nam – Lào, trước mắt tích cực thăm dò đi đến xây dựng “Khu thực nghiệp hợp tác tài chính khu vực biên giới ba nước Trung Quốc – Việt Nam - Lào” ở khu vực huyện Giang Thành – khu vực tiếp giáp với Phongsaly của Lào và Lai Châu của Việt Nam.